vanban.org

Bản án 25/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định Tuyên án 05/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (Ba) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 05 tháng 01 năm 2022). Giao bị cáo Nguyễn Thị H cho Ủy ban nhân dân phường 1, thành phố Đ H, tỉnh Q T giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "vụ án hình sự bị cáo Huế - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 190 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T PH
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2022/HS-ST
Ngày: 05-01-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T PH, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Công Minh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Thành Nghĩa.

2. Bà Trần Thị Minh Thâm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Trúc, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện T Ph, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T Ph, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Ngô Hồng Tuân - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 01 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện T Ph, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 18/2021/TLST-HS, ngày 04 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2021/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị H, sinh năm 1973; tại huyện Tr P, tỉnh Q T; nơi cư trú khu phố 8, phường 1, thành phố Đ H, tỉnh Q T; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Q (Chết) và bà Nguyễn Thị H (Chết); chồng là anh Hoàng Văn D; có 04 con, lớn nhất sinh năm 1999, nhỏ nhất sinh năm 2006; tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29 tháng 6 năm 2021 đến ngày 14 tháng 9 năm 2021 được thay thế biện pháp cho bảo lĩnh; có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị H: Bà Lê Tôn Nữ Kim Y-Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bình Định; có mặt.

Người làm chứng:

1. Anh Uông Ngọc N, sinh năm 1993; nơi cư trú thôn 7, xã Quảng Thái, huyện Q X, tỉnh Th H; vắng mặt.

2. Anh Bùi Ngọc H, sinh năm 1970; nơi cư trú thôn 4, xã Q L, huyện Q X, tỉnh Th H; vắng mặt.

3. Anh Viên Đình Th, sinh năm 1980, nơi cư trú thôn 1, Quảng Trái, Q X, Th H; vắng mặt.

4. Anh Đào Công H, sinh năm 1985; nơi cư trú thôn 2, xã Q L, huyện Q X, tỉnh Th H; vắng mặt.

5. Anh Lê Ngọc Đ, sinh năm 1995, nơi cư trú thôn 1, Quảng Trái, Q X, Th H.

6. Anh Đới Văn Q, sinh năm 1987, nơi cư trú thôn Giang Đông, xã Quảng Lưu, huyện Q X, Th H; vắng mặt.

7. Anh Cao Huy H, sinh ngày 12/4/2003, nơi cư trú xóm 6, Diệc Lộc, Diễn Châu, Nghệ An; vắng mặt.

8. Anh Nguyễn Hữu A, sinh năm 2000, nơi cư trú thôn 6, xã Quảng Hùng, thành phố Sầm Sơn, tỉnh Th H; vắng mặt.

9. Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1980, nơi cư trú thôn 4, làng Lê Hương, xã Q L, huyện Q X, tỉnh Th H; vắng mặt.

10. Anh Hoàng Văn D, sinh năm 1974, nơi cư trú khu phố 8, phường 1, thành phố Đ H, tỉnh Q T; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 11 giờ ngày 29 tháng 6 năm 2021, bị cáo Nguyễn Thị H đang bán hàng tại Chợ 21 Ng Tr, thành phố Đ H, tỉnh Q T thì có một người phụ nữ tên Bé nhưng không rõ nhân thân, lai lịch đến gặp và hỏi bị cáo muốn mua thuốc lá để bán kiếm tiền lời hay không. Sau khi trao đổi thì bị cáo đồng ý mua của Bé 2.550 bao thuốc lá nhãn hiệu Jet với số tiền 40.000.000 đồng. Do không có đủ tiền để trả nên bị cáo và Bé thống nhất bị cáo đưa trước cho Bé số tiền 10.000.000 đồng, số tiền còn lại bị cáo sẽ trả sau khi bán được số thuốc lá nhãn hiệu Jet nói trên. Sau đó, bị cáo và Bé thỏa thuận khoảng 13 giờ cùng ngày Bé sẽ giao số thuốc lá nói trên cho bị cáo tại ven đường Quốc lộ 1A thuộc xã Triệu Giang, huyện Tr P, tỉnh Q T. Khoảng 13 giờ cùng ngày, bị cáo đón xe ôm đi từ nhà đến ven đường Quốc lộ 1A thuộc xã Triệu Giang, huyện Tr P, tỉnh Q T để chờ nhận hàng. Đến khoảng 13 giờ 10 phút cùng ngày, có một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch điều khiển xe mô tô không rõ biển số chở 06 thùng giấy Carton đến gặp bị cáo và hỏi “Chị H phải không”, H trả lời “phải” thì người này nói “Hàng chị Bé giao”, rồi người đàn ông này giao 06 thùng Carton cho bị cáo. Sau khi nhận hàng, bị cáo đón xe khách để đi vào tỉnh Đồng Nai tìm nơi tiêu thụ. Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo đón xe ô tô khách biển số 36B-020.39 của anh Bùi Ngọc H do anh Viên Đình Th điều khiển. Lúc này, anh Uông Ngọc Nam là quản lý xe ô tô trên có hỏi bị cáo đi đâu thì bị cáo nói đi vào tỉnh Đồng Nai nên anh Nam bốc 06 thùng Carton của bị cáo đưa cho anh Lê Ngọc Đ là phụ xe để chất lên xe; lúc này bị cáo cũng lên xe ô tô.

Đến 21 giờ 45 phút cùng ngày, Tổ tuần tra thuộc Trạm Cảnh sát giao thông T Ph, tỉnh Bình Định trong quá trình tuần tra kiểm soát trên Quốc lộ 1A thuộc thôn Tr Th, xã Ph L, huyện T Ph, tỉnh Bình Định phát hiện xe ô tô khách biển số 36B-020.39 có dấu hiệu vi phạm nên dừng lại kiểm tra thì thấy trên xe có vận chuyển 06 thùng Carton có nhiều kích thước khác nhau, được dán kín miệng thùng bằng băng keo và nhìn không thấy hàng hóa bên trong. Qua kiểm tra phát hiện bên trong 06 thùng Carton chứa tổng cộng 2.550 bao thuốc lá nhãn hiệu Jet không có hóa đơn, chứng từ, không dán tem nhập khẩu, cụ thể 01 thùng Carton kích thước (56x40x35)cm trên thân thùng có in chữ “Nhà máy sản xuất bánh kẹo Tân Tiến Phát” bên trong có 47 cây thuốc lá nhãn hiệu Jet, loại 10 bao/cây; 01 thùng Carton kích thước (48x45x30)cm trên thân thùng có in chữ “Công ty thuốc lá Sài Gòn” và chữ “FASOL” bên trong có 50 cây thuốc lá nhãn hiệu Jet, loại 10 bao/cây; 01 thùng Carton kích thước (64x60x30)cm trên thân thùng có in chữ “COEX” bên trong có 72 cây thuốc lá nhãn hiệu Jet, loại 10 bao/cây; 01 thùng Carton kích thước (44x29x27)cm trên thân thùng có in chữ “PAONANOTECH” bên trong có 23 cây thuốc lá nhãn hiệu Jet, loại 10 bao/cây; 01 thùng Carton kích thước (47x40x32)cm trên thân thùng có in chữ “CHOCOPN” bên trong có 40 cây thuốc lá nhãn hiệu Jet, loại 10 bao/cây; 01 thùng Carton kích thước (30x30x27)cm trên thân thùng có in chữ “Panasonic” bên trong có 23 cây thuốc lá nhãn hiệu Jet, loại 10 bao/cây. Sau khi kiểm tra tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với bị cáo Nguyễn Thị H, tạm giữ chiếc xe ô tô khách biển số 36B-020.39 và số thuốc lá nhãn hiệu Jet nêu trên bàn giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T Ph, tỉnh Bình Định điều tra theo thẩm quyền. Qua điều tra, bị cáo không xuất trình được hóa đơn, chứng từ có liên quan đến số thuốc lá nhãn hiệu Jet nêu trên.

Theo Kết luận giám định số 1003/C09C-Đ2 ngày 20 tháng 8 năm 2021 của Phân viện Khoa học hình sự Bộ Công an tại thành phố Đà Nẵng kết luận 2.550 bao thuốc lá nhãn hiệu JET, loại 20 điếu/bao, 10 bao/hộp; các bao còn nguyên vẹn gửi giám định đều là thuốc lá điếu thành phẩm mang nhãn hiệu Jet; không phải là thuốc lá được sản xuất tại Việt Nam; Phân viện Khoa học hình sự Bộ Công an tại thành phố Đà Nẵng không đủ cơ sở để để kết luận mẫu thuốc lá mang nhãn hiệu trên có nguồn gốc, xuất xứ chính xác từ nước nào.

Ngày 07 tháng 7 năm 2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T Ph đã ra Quyết định xử lý tài liệu, đồ vật trả lại chiếc xe ô tô khách nhãn hiệu THACO, biển số 36B-020.39 cho chủ sở hữu là anh Bùi Ngọc Hải.

Tại bản Cáo trạng số 70/CT-VKS-TP ngày 29 tháng 10 năm 2021, Viện Kiểm sát nhân dân huyện T Ph, tỉnh Bình Định đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị H về tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm b khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H với mức hình phạt từ 18 đến 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu và tiêu hủy 2.430 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Jet, loại 20 điếu/bao; 10 bao/hộp; các bao còn nguyên vẹn còn lại sau giám định.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên, bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện T Ph, tỉnh Bình Định.

Bị cáo không trình bày lời bào chữa và không có ý kiến tranh luận.

Bà Lê Tôn Nữ Kim Yến là người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị H trình bày luận cứ bào chữa cho bị cáo: Thống nhất với quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện T Ph truy tố bị cáo về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm b khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự năm 2015; bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; gia đình bị cáo hiện nay khó khăn nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo với mức hình phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

Bị cáo thống nhất với luận cứ bào chữa và không có ý kiến bổ sung.

Bị cáo Nguyễn Thị H nói lời sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình là sai trái, mong Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì hiện nay gia đình bị cáo rất khó khăn, bị cáo còn nuôi các con ăn học. Thời gian bị cáo tạm giữ, tạm giam thì bị cáo đã rất sợ nên bị cáo không dám tái phạm nữa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T Ph, tỉnh Bình Định; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện T Ph, tỉnh Bình Định; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người làm chứng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thị H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án nên đủ cơ sở kết luận với mục đích kiếm thêm tiền để nuôi các con ăn học nên vào ngày 29 tháng 6 năm 2021, bị cáo Nguyễn Thị H mua 2550 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Jet của một người lạ, không rõ họ, tên, địa chỉ để bán lại. Đến 21 giờ 45 phút cùng ngày, bị cáo Nguyễn Thị H đang trên đường đi tìm nơi tiêu thụ số lượng thuốc lá điếu nhãn hiệu Jet trên thì bị bắt quả tang.

Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo Nguyễn Thị H là người có đủ năng lực để nhận thức được hành vi buôn bán trái phép thuốc lá điếu nhãn hiệu Jet nhập lậu là hành vi nguy hiểm cho xã hội, vi phạm quy định quản lý của Nhà nước về quản lý kinh tế trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, thương mại nhưng vì muốn có tiền để nuôi con ăn học nên bị cáo thực hiện hành vi mua bán thuốc lá điếu nhãn hiệu Jet. Bị cáo thực hiện hành vi mua bán số lượng 2.550 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Jet là hành vi bị nghiêm cấm nên hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Buôn bán hàng cấm” được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm quy định quản lý của Nhà nước về quản lý kinh tế trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, thương mại, gây ảnh hường đến trật tự, an ninh tại địa phương.

Xét các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo phạm tội có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại; tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và xét thấy bị cáo là phụ nữ nhất thời phạm tội, mục đích của bị cáo buôn bán số lượng thuốc lá trên để có tiền lo cho các con ăn học vì gia đình bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo; bị cáo có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, bị cáo có khả năng tự cải tạo và nếu không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù thì không gây ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo cũng có thể giáo dục bị cáo có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa phạm tội mới; giáo dục bị cáo tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.

Xét về hình phạt bổ sung: Tại khoản 4 Điều 190 của Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định“Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”, nhưng xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, hiện nay gia đình bị cáo khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: 2.430 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Jet, loại 20 điếu/bao; 10 bao/hộp; các bao còn nguyên vẹn còn lại sau giám định là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên tuyên tịch thu và tiêu hủy.

Xét về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Thị H là cá nhân thuộc diện hộ cận nghèo nên Hội đồng xét xử cho bị cáo miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Đối với anh Bùi Ngọc Hải là chủ sở hữu của chiếc xe ô tô khách biển số 36B-020.39 ; anh Viên Đình Thực và anh Đào Công Hải là tài xế lái xe ô tô khách biển số 36B-020.39 ; anh Uông Ngọc Nam và anh Lê Ngọc Đoàn là người nhận, bốc, xếp số hàng hóa của bị cáo Nguyễn Thị H lên xe ô tô khách biển số 36B-020.39 nhưng những người này không ai biết số hàng hóa bên trong 06 thùng Carton mà bị cáo Nguyễn Thị H mang theo lên xe ô tô khách biển số 36B-020.39 để đem vào tỉnh Đồng Nai là thuốc lá nhãn hiệu Jet điếu nhập lậu nên không đồng phạm với bị cáo Nguyễn Thị H về tội “Buôn bán hàng cấm” và cũng không phạm vào tội “Vận chuyển hàng cấm” nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T Ph không xử lý hình sự đối với các anh Bùi Ngọc Hải, Viên Đình Thực, Đào Công Hải, Uông Ngọc Nam và Lê Ngọc Đoàn là có căn cứ, đúng pháp luật.

Đối với người phụ nữ tên Bé và người đàn ông mà bị cáo Nguyễn Thị H khai là người đã bán, chở thuốc lá đến giao cho bị cáo nhưng qua điều tra không có căn cứ để xác định nhân thân, lai lịch của những người này nên không có căn cứ để xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

2. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 190; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (Ba) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 05 tháng 01 năm 2022).

Giao bị cáo Nguyễn Thị H cho Ủy ban nhân dân phường 1, thành phố Đ H, tỉnh Q T giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự năm 2019. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tuyên tịch thu và tiêu hủy 06 (Sáu) thùng cát tông, tại miệng mỗi thùng được niêm phong bằng giấy màu trắng, trên băng giấy có hình dấu đỏ của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng và chữ ký của Nguyễn Đình Hải, Nguyễn Hoài Thương, bên trong 06 (Sáu) thùng cát tông chứa tổng cộng 2.430 (Hai nghìn bốn trăm ba muơi) bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Jet, loại 20 điếu/bao; 10 bao/hộp; các bao còn nguyên vẹn còn lại sau giám định.

Các vật chứng trên đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện T Ph, tỉnh Bình Định theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01 tháng 11 năm 2021 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T Ph, tỉnh Bình Định và Chi cục thi hành án dân sự huyện T Ph, tỉnh Bình Định.

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/PL-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Thị H được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 05 tháng 01 năm 2022). THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nơi nhận:

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

- TAND tỉnh Bình Định;

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- STP tỉnh Bình Định;

- VKSND huyện T Ph;

- CA huyện T Ph;

- CCTHADS huyện T Ph;

- Bị cáo;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Văn Công Minh

Cỡ chữ