vanban.org

Bản án 25/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang Tuyên án 23/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Mai Tr, Nguyễn Minh Đ, Trần Minh Th phạm “Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Mai Tr 09 (chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/7/2021. Xử phạt bị cáo Trần Minh Th (Tèo) 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/7/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Mai Tr, Nguyễn Minh Đ, Trần Minh Th phạm “Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 255 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả lại
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ LONG MỸ
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2021/HS-ST
Ngày: 23 – 11 – 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ

TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Lil

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Trưởng

Bà Trương Thị Hằng

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Ngọc Ngà – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Bà Lưu Thị Kim Chúc – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 11 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 23/2021/TLST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2021/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2021 đối với các bị cáo:

1/ Nguyễn Mai Tr, sinh năm 1985; tại quận T B, thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: số 405/38A, Phạm Văn H, phường 3, quận T B, thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị Ng; có chồng Nguyễn Minh Th và được 02 con; Tiền sự: Không; Tiền án: Không;

Nhân thân: Ngày 19/5/2017 bị Công an thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 101/QĐ-XPHC, xử phạt số tiền 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, chấp hành xong ngày 22/5/2017.

Ngày 25/02/2020 bị Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 18 tháng, chấp hành xong ngày 24/02/2021.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/7/2021 sau đó chuyển tạm giam đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2/ Nguyễn Minh Đ, sinh năm 1988; tại huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang; Nơi cư trú: ấp 6, xã V Th Đ, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Th và bà Trần Thanh Nh; Tiền án: Không;

Tiền sự có 01: Ngày 20/3/2021 bị Công an xã Vĩnh Viễn A, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 11/QĐ-XLHC, xử phạt số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép được ăn thua bằng tiền, chấp hành xong ngày 31/3/2021.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/7/2021 sau đó chuyển tạm giam đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

3/ Trần Minh Th, sinh năm 1999; Tên gọi khác: T; tại thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang; Nơi cư trú: ấp 5, xã L Tr A, thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn T và bà Trần Kim Ng; Tiền sự: Không; Tiền án: Không;

Nhân thân: Ngày 18/5/2017 bị Công an thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 98/QĐ-XPHC, xử phạt số tiền 1.125.000 đồng về hành vi tàng trữ và sử dụng trái phép chất ma túy, chấp hành xong ngày 23/5/2017.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/7/2021 sau đó chuyển tạm giam đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Phan Thế V, sinh năm: 1993 (vắng mặt).

Nơi cư trú: số 53/48A H Th Kh, phường A Ng, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

2/ Lê M, sinh năm 1999 (vắng mặt).

Nơi cư trú: số 147/7 C M Th 8, khu vực 1, phường A H, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

3/ Nguyễn Thái K, sinh ngày 21/4/2004 (có đơn xin vắng mặt).

Nơi cư trú: khu vực 4, phường Th A, thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

Người đại diện hợp pháp cho Nguyễn Th K: Bà Huỳnh Thị Nh, sinh năm 1963 (có đơn xin vắng mặt).

Nơi cư trú: khu vực 4, phường Th A, thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

Người làm chứng:

1/ Phan Thị S, sinh năm 1968 (có đơn xin vắng mặt).

Nơi cư trú: khu vực 2, phường Th A, thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

2/ Đỗ Văn V, sinh năm 1963 (có đơn xin vắng mặt).

Nơi cư trú: ấp 2, xã Th H, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 10 giờ 00 ngày 14/7/2021, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, tại căn nhà của bà Phan Thị S và ông Đỗ Văn V, thuộc khu vực 2, phường Th A, thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang do Nguyễn Mai Tr, Nguyễn Minh Đ, Trần Minh Th thuê để ở có tập trung nhiều người, nghi vấn có dấu hiệu liên quan đến ma túy. Công an thị xã Long Mỹ phối hợp với Công an phường Th A tiến hành kiểm tra phát hiện quả tang 06 (Sáu) đối tượng gồm: Nguyễn Mai Tr, Nguyễn Minh Đ, Trần Minh Th, Phan Thế V, Lê M và Nguyễn Thái K có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ nhiều đồ vật có liên quan.

Tại Cơ quan điều tra các bị cáo Nguyễn Mai Tr, Nguyễn Minh Đ, Trần Minh Th khai nhận: Đầu tháng 5/2021 Nguyễn Mai Tr, Nguyễn Minh Đ, Trần Minh Th cùng nhau thuê căn nhà của bà Phan Thị S và ông Đỗ Văn V tại đường Ch Th T thuộc khu vực 2, phường Th A, thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang để ở. Tuy nhiên, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Tr, Đ và Th bàn bạc thống nhất hùn tiền mua ma túy về để sử dụng chung. Tại đây, Tr, Đ, Th đã nhiều lần cung cấp ma túy, dụng cụ sử dụng chất ma túy cho Lê M, Phan Thế V, Nguyễn Thái K sử dụng ma túy của Tr, Đ, Th, cụ thể:

Lần 1: Ngày 08/7/2021, Nguyễn Mai Tr, Nguyễn Minh Đ và Trần Minh Th bàn bạc hùn tiền mua ma túy về sử dụng, tất cả hùn được số tiền 800.000 đồng (Tám trăm nghìn đồng), trong đó Tr 300.000 đồng, Đ 300.000 đồng và Th 200.000 đồng. Khi đó Nguyễn Mai Tr lấy điện thoại của Nguyễn Minh Đ số 0969.975.013 để trực tiếp gọi cho Phan Thị Bích Đ1 sinh năm 1981, đăng ký hộ khẩu thường trú: khu vực 2, phường Th A, thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang để mua ma túy số tiền 800.000 đồng. Do Tr, Th không biết mặt của Điệp mà chỉ có Đ mới biết mặt của Đ1 nên Đ đi bộ từ căn nhà thuê đến Trung tâm y tế thị xã Long Mỹ thuê một người đàn ông không rõ nhân thân lai lịch chở Đ đến đầu hẻm nhà của Đ1p để lấy ma túy. Chiều cùng ngày, Lê M sinh năm 1999 (bạn của Tr) ghé nhà Tr, Đ, Th thuê để chơi. Khi đến, M mượn điện thoại của Th gọi cho Nguyễn Thái K, sinh ngày 21/4/2004 đến chơi game và nạp tiền điện thoại. Lúc này, Tr, Đ, Th lấy ma túy ra sử dụng và cho M, K cùng sử dụng. Sau khi sử dụng xong, M qua thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng chơi, K về nhà. Thời gian từ buổi tối ngày 08/7/2021 đến ngày 11/7/2021 Tr, Đ và Th sử dụng hết số ma túy đã mua.

Lần 2: Ngày 11/7/2021, Phan Thế V, sinh năm: 1993 (bạn của Tr) đến nhà thuê của Tr, Đ và Th chơi. Khi đó Tr, Đ và Th bàn bạc thống nhất hùn tiền mua ma túy sử dụng, khi nào trả tiền sẽ chia đều, Tr liên hệ qua điện thoại với Đ1 mua ma túy, số tiền mua 1.100.000 đồng (Một triệu một trăm nghìn đồng), nhưng nợ tiền lại. Sau khi liên hệ với Đ1 như lần 01, lúc này có người thanh niên tên Li (không rõ nhân thân lại lịch cụ thể, là bạn cai nghiện chung của Tr) đến chơi và Tr hỏi mượn xe (không rõ biển kiểm soát) của L để Đ đi công việc thì L đồng ý. Tr kêu Đ đi lấy ma túy của Đ1 nên Đ chở Phan Thế V đi cùng đến gần nhà Đ1, Đ để V ở chùm mả gần nhà, Đ điều khiển xe vào nhà gặp Đ1 để lấy ma túy. Sau khi lấy ma túy xong, Đ đưa gói ma túy cho V cầm rồi chở V chạy về nhà thuê. Tại đây, Tr, Đ, Th và V cùng nhau sử dụng ma túy, đến gần sáng ngày 12/7/2021 thì tất cả đi ngủ.

Lần 3: Chiều 12/7/2021, Lê M tiếp tục ghé nhà của Tr, Đ, Th thuê để chơi, một lúc sau Lê M mượn điện thoại của Th gọi cho Nguyễn Thái K mang quần áo cho M mượn, khi K đến thì Tr, Đ, Th, M, V và K cùng sử dụng ma túy.

Lần 4: Trong khoảng thời gian từ ngày 13/7/2021 đến rạng sáng ngày 14/7/2021 Tr, Đ, Th, M, V và K sử dụng ma túy 03 lần. Trong những lần sử dụng ma túy tại nhà của Tr, Đ và Th thuê thì có lần do Tr, Đ, Th lấy ma túy đổ trực tiếp vào bộ dụng cụ sử dụng, có lần M, V đổ vào bộ dụng cụ sử dụng, mỗi người hút trực tiếp từ 02 - 03 hơi. Bộ dụng cụ sử dụng ma túy do Đ1 cho khi mua ma túy, gồm chai nhựa, trên nắp chai có cắm ống hút và ống thủy tinh cong có gắn nồi, khi lực lượng Công an kiểm tra một số đối tượng trong nhà chạy tán loạn nên chai nhựa không biết đã lạc mất khi nào.

Tại bản kết luận giám định số 50/KLGĐ-PC09(MT) ngày 23/7/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hậu Giang, kết luận: “Mẫu tinh thể trong suốt chứa trong 01(một) bịch nylon được niêm phong gửi giám định không tìm thấy thành phần các chất ma túy và tiền chất theo Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 và Nghị định sửa đổi, bổ sung 60/2020/NĐ-CP ngày 29/5/2020, có khối lượng: 8,34200 gam”. Qua làm việc không đủ căn cứ xác định bịch nylon trên là của ai, khi thuê nhà các bị cáo không kiểm tra nên không biết bịch nylon từ đâu mà có.

Quá trình lấy mẫu nước tiểu, kiểm tra thử test ma túy, xác định: Nguyễn Mai Tr, Nguyễn Minh Đ, Trần Minh Th, Phan Thế V, Lê M và Nguyễn Thái K dương tính với chất ma túy Methamphetamine và tất cả đều nghiện ma túy.

Mục đích bị cáo Tr, Đ và Th hùn tiền 02 lần mua ma túy là để sử dụng cho nhu cầu cá nhân, không nhằm mục đích mua bán hay động cơ vụ lợi khác. Các bị cáo không có thu tiền, lợi ích vật chất hay yêu cầu Phan Thế V, Lê M và Nguyễn Thái K làm việc gì giúp cho các bị cáo.

Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định tạm giữ đồ vật, tài liệu gồm:

- 01 (một) phong bì niêm phong số: 50/2021 ngày 23/7/2021 có 04 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật Hình sự - Công an tỉnh Hậu Giang và chữ ký ghi tên Nguyễn Phi Khanh và Đặng Thị Phương Loan, bên trong có chứa: mẫu tinh thể còn lại không tìm thấy thành phần các chất ma túy và tiền chất sau giám định của phong bì viền sọc xanh đỏ, có khối lượng 7,17481 gam và vỏ bao gói được niêm phong.

- 01 (một) đoạn băng dính màu xanh kích thước (8x3,2)cm được tạm giữ tại sàn nước phía sau nhà giáp sông Trà Ban, trên đầu cột kích thước (11x10x220)cm được niêm phong, đóng gói theo quy định, có chữ ký của người chứng kiến và đóng dấu của Cơ quan CSĐT Công an thị xã Long Mỹ.

- 01 (một) ống hút nhựa màu đỏ-trắng, kích thước (33x0,5)cm; 01 (một) bộ khò lửa bằng kim loại có chiều dài nhất là 14cm, rộng nhất là 5cm; 01(một) ống thủy tinh, kích thước (7x0,5)cm được tạm giữ tại vị trí sát vách nhà vệ sinh.

- 01 (một) hộp nhựa có nắp đậy màu vàng, trên nắp có chữ “khô gà lá chanh”, bên trong có chứa 15 túi nilon được hàn kín 02 đầu, kích thước (1x4,5)cm, trong túi nilon không có chứa gì; 01 (một) bật lửa màu xanh trên thân bật lửa có số “555” màu vàng, kích thước (9x3,5)cm, được tạm giữ trên bàn nhựa, sát giường bê tông.

- Tạm giữ của bị cáo Nguyễn Mai Tr: 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO, màu tím-đen; số IMEI 1: 863980044561438; IMEI 2: 863980044561420 có lắp sim số: 0785.665.433; đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng hoạt động.

- Tạm giữ của bị cáo Nguyễn Minh Đ: 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia, màu đen; số IMEI 1: 356038085688331, IMEI 2: 356038085768331; có lắp sim số: 0815.551.648; đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng hoạt động; 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu mobell, màu đen; số IMEI: 830011600407558, có lắp sim số: 0969.979.013; đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng hoạt động.

- Tạm giữ của bị cáo Trần Minh Th: 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO, màu đen; số IMEI 1: 868053032895997, IMEI 2: 868053032895989; có lắp sim số: 0763.957.708 và 0907.598.971; đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng hoạt động.

Tại cáo trạng số 25/CT-VKS-TXLM, ngày 29/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Mai Tr, Nguyễn Minh Đ, Trần Minh Th có lý lịch và hành vi phạm tội nêu trên ra trước Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang để xét xử về “Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, b, c khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang giữ nguyên Quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Mai Tr, Nguyễn Minh Đ, Trần Minh Th phạm “Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm a, b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt:

Bị cáo Nguyễn Mai Tr từ 09 năm đến 10 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/7/2021.

Bị cáo Trần Minh Th từ 08 năm đến 09 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/7/2021.

Áp dụng điểm a, b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt:

Bị cáo Nguyễn Minh Đ từ 08 năm đến 09 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/7/2021.

Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47; Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình:

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 (một) phong bì niêm phong số: 50/2021 ngày 23/7/2021 có 04 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật Hình sự - Công an tỉnh Hậu Giang và chữ ký ghi tên Nguyễn Phi Khanh và Đặng Thị Phương Loan, bên trong có chứa: mẫu tinh thể còn lại không tìm thấy thành phần các chất ma túy và tiền chất sau giám định của phong bì viền sọc xanh đỏ, có khối lượng 7,17481 gam và vỏ bao gói được niêm phong.

+ 01 (một) đoạn băng dính màu xanh kích thước (8x3,2)cm được tạm giữ tại sàn nước phía sau nhà giáp sông Trà Ban, trên đầu cột kích thước (11x10x220)cm được niêm phong, đóng gói theo quy định, có chữ ký của người chứng kiến và đóng dấu của Cơ quan CSĐT Công an thị xã Long Mỹ.

+ 01 (một) ống hút nhựa màu đỏ-trắng, kích thước (33x0,5)cm; 01 (một) bộ khò lửa bằng kim loại có chiều dài nhất là 14cm, rộng nhất là 5cm; 01(một) ống thủy tinh, kích thước (7x0,5)cm được tạm giữ tại vị trí sát vách nhà vệ sinh.

+ 01 (một) hộp nhựa có nắp đậy màu vàng, trên nắp có chữ “khô gà lá chanh”, bên trong có chứa 15 túi nilon được hàn kín 02 đầu, kích thước (1x4,5)cm, trong túi nilon không có chứa gì; 01 (một) bật lửa màu xanh trên thân bật lửa có số “555” màu vàng, kích thước (9x3,5)cm, được tạm giữ trên bàn nhựa, sát giường bê tông.

- Tịch thu sung vào công quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động, nhãn hiệu mobell, màu đen; số IMEI: 830011600407558, có lắp sim số: 0969.979.013; đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng hoạt động, của bị cáo Nguyễn Minh Đ.

- Trả lại cho bị cáo:

+ Nguyễn Mai Tr: 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO, màu tím-đen; số IMEI 1: 863980044561438; IMEI 2: 863980044561420 có lắp sim số: 0785.665.433; đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng hoạt động.

+ Nguyễn Minh Đ: 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia, màu đen; số IMEI 1: 356038085688331, IMEI 2: 356038085768331; có lắp sim số: 0815.551.648; đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng hoạt động.

+ Trần Minh Th: 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO, màu đen; số IMEI 1: 868053032895997, IMEI 2: 868053032895989; có lắp sim số: 0763.957.708 và 0907.598.971; đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng hoạt động.

Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Mai Tr, Nguyễn Minh Đ, Trần Minh Th thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của các bị cáo. Các bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo sớm về với gia đình.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về thủ tục tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thái K, người đại diện hợp pháp cho Nguyễn Thái K: Bà Huỳnh Thị Nh; Người làm chứng Phan Thị S, Đỗ Văn V có đơn xin vắng mặt; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phan Thế V, Lê M, Phan Thị Bích Đ1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do. Xét thấy, trong quá trình điều tra, truy tố người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đã cung cấp lời khai nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 292; Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng trên.

Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Mai Tr, Nguyễn Minh Đ, Trần Minh Th thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng trong vụ án. Từ đó, có thể khẳng định từ ngày 08/7/2021 đến ngày rạng sáng ngày 14/7/2021 Nguyễn Mai Tr, Nguyễn Minh Đ, Trần Minh Th đã tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cùng với Phan Thế V, Lê M, Nguyễn Thái K tại bà Phan Thị S, ông Đỗ Văn V, thuộc khu vực 2, phường Th A, thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang nhiều lần. Cụ thể: Ngày 08/7/2021, bị cáo Tr, Đ, Th sử dụng ma túy và cho Lê M, Nguyễn Thái K sử dụng ma túy chung 01 lần; Ngày 11/7/2021 bị cáo Tr, Đ, Th cho Phan Thế V sử dụng 01 lần; Chiều ngày 12/7/2021 bị cáo Tr, Đ, Th cùng với Lê M, Phan Thế V, Nguyễn Thái K sử dụng ma túy chung 01 lần; Từ ngày 13/7/2021 đến rạng sáng ngày 14/7/2021 bị cáo Nguyễn Mai Tr, Nguyễn Minh Đ, Trần Minh Th đã cùng sử dụng ma túy chung với Lê M, Phan Thế V, Nguyễn Thái K 03 lần, trong đó có Nguyễn Thế K là người chưa đủ 18 tuổi. Hành vi của Nguyễn Mai Tr, Nguyễn Minh Đ, Trần Minh Th đã cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, b, c khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Từ đó, có thể khẳng định Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang truy tố bị cáo Nguyễn Mai Tr, Nguyễn Minh Đ, Trần Minh Th là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét vai trò của các bị cáo: Để có ma túy sử dụng các bị cáo Nguyễn Mai Tr, Nguyễn Minh Đ, Trần Minh Th cùng bàn bạc thống nhất hùn tiền với nhau để mua ma túy về sử dụng. Bị cáo Tr là người trực tiếp điện thoại liên lạc với Phan Thị Bích Đ1 để mua ma túy trước, sau đó bị cáo Đ đi lấy ma túy về sử dụng, do đó hành vi của bị cáo Tr, Đ cao hơn hành vi của bị cáo Trần Minh Th.

Xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo: Hội đồng xét xử xét thấy, hành vi của bị cáo Nguyễn Mai Tr, Nguyễn Minh Đ, Trần Minh Th đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, trật tự công cộng, gây tâm lý bức xúc trong quần chúng nhân dân, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh nên các loại tội phạm khác. Các bị cáo biết rõ tác hại của ma túy nhưng do xem thường pháp luật, xem thường sức khỏe của người khác nên các bị cáo đã tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an nên cần phải xử lý nghiêm minh để giáo dục và phòng ngừa chung.

[5.1] Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: Bị cáo Nguyễn Mai Tr, Nguyễn Minh Đ, Trần Minh Th phạm tội không thuộc tình tiết tăng nặng theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bị cáo Nguyễn Minh Đ từng được Phòng giáo dục huyện Long Mỹ cấp giấy chứng nhận đạt giải khuyến khích Hội thi Cán bộ, giáo viên thư viện giỏi cấp huyện, bị cáo có ông nội, ông ngoại là liệt sỹ, đây là tình tiết giảm nhẹ khác được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xét về nhân thân của các bị cáo:

Bị cáo Nguyễn Mai Tr có nhân thân xấu, ngày 19/5/2017 bị Công an thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 101/QĐ-XPHC, xử phạt số tiền 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; Ngày 25/02/2020 bị Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 18 tháng.

Bị cáo Nguyễn Minh Đ có 01 tiền sự, ngày 20/3/2021 bị Công an xã Vĩnh Viễn A, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 11/QĐ-XLHC, xử phạt số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép được ăn thua bằng tiền.

Bị cáo Trần Minh Th có nhân thân xấu, ngày 18/5/2017 bị Công an thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 98/QĐ-XPHC, xử phạt số tiền 1.125.000 đồng về hành vi tàng trữ và sử dụng trái phép chất ma túy.

Với tính chất nghiêm trọng của loại tội phạm về ma túy, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo nên cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là hoàn toàn có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 255 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Do đó, các bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung. Tuy nhiên, theo các lời khai và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đều cho thấy các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, các bị cáo tổ chức sử dụng ma túy không có tính chất vụ lợi nên không cần phạt tiền đối với các bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Đối với Phan Thị Bích Đ1, trong quá trình điều tra các bị cáo Nguyễn Mai Tr, Nguyễn Minh Đ, Trần Minh Th khai ma túy các bị cáo sử dụng và cung cấp cho Lê M, Phan Thế V, Nguyễn Thái K cùng sử dụng có nguồn gốc mua từ Phan Thị Bích Đ1, nhưng Đ1 không thừa nhận có bán ma túy cho Tr, Đ, Th. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Long Mỹ tiến hành đối chất giữa Đ1 với Tr, Đ và Th. Kết quả Đ1 không thừa nhận đã bán ma túy cho các bị cáo như lời trình bày của các bị cáo. Ngoài lời khai của Tr, Đ, Th thì không có cơ sở nào khác xác định Phan Thị Bích Đ1 đã bán ma túy cho Tr, Đ, Th. Do đó, chưa đủ căn cứ khởi tố đối với Phan Thị Bích Đ1 về hành vi mua bán trái phép chất ma túy.

Đối với hành vi Phan Thế V cùng Đ đi mua ma túy vào khuya ngày 11/7/2021 với mục đích về sử dụng chung với Tr, Đ và Th, bản thân đối tượng không có hùn tiền vào để mua ma túy. Tại thời điểm trao đổi việc đi mua ma túy thì chỉ có Tr, Đ và Th, không có V nên hành vi của V không cấu thành tội phạm “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lê Minh, Phan Thế Vinh và Nguyễn Thế Kiệt, Công an thị xã Long Mỹ đã tiến hành thông báo về Công an nơi các đối tượng cư trú để xử lý theo quy định.

Đối với ông Đỗ Văn V, bà Phan Thị S là chủ nhà cho các bị cáo thuê với mục đích để ở, không biết việc Tr, Đ, Th sử dụng ma túy. Do đó, không có căn cứ để xác định ông V, bà S có hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” hoặc “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”.

Về vật chứng: Đối với một số vật chứng thu giữ của các bị cáo, xét thấy các vật chứng này liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo và không còn giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 (một) phong bì niêm phong số: 50/2021 ngày 23/7/2021 có 04 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật Hình sự - Công an tỉnh Hậu Giang và chữ ký ghi tên Nguyễn Phi Khanh và Đặng Thị Phương Loan, bên trong có chứa: mẫu tinh thể còn lại không tìm thấy thành phần các chất ma túy và tiền chất sau giám định của phong bì viền sọc xanh đỏ, có khối lượng 7,17481 gam và vỏ bao gói được niêm phong.

+ 01 (một) đoạn băng dính màu xanh kích thước (8x3,2)cm được tạm giữ tại sàn nước phía sau nhà giáp sông Trà Ban, trên đầu cột kích thước (11x10x220)cm được niêm phong, đóng gói theo quy định, có chữ ký của người chứng kiến và đóng dấu của Cơ quan CSĐT Công an thị xã Long Mỹ.

+ 01 (một) ống hút nhựa màu đỏ-trắng, kích thước (33x0,5)cm; 01 (một) bộ khò lửa bằng kim loại có chiều dài nhất là 14cm, rộng nhất là 5cm; 01(một) ống thủy tinh, kích thước (7x0,5)cm được tạm giữ tại vị trí sát vách nhà vệ sinh.

+ 01 (một) hộp nhựa có nắp đậy màu vàng, trên nắp có chữ “khô gà lá chanh”, bên trong có chứa 15 túi nilon được hàn kín 02 đầu, kích thước (1x4,5)cm, trong túi nilon không có chứa gì; 01 (một) bật lửa màu xanh trên thân bật lửa có số “555” màu vàng, kích thước (9x3,5)cm, được tạm giữ trên bàn nhựa, sát giường bê tông.

- Đối với chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Mobell, màu đen; số IMEI: 830011600407558, có lắp sim số: 0969.979.013; đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng hoạt động, tạm giữ của bị cáo Nguyễn Minh Đ. Tại phiên tòa bị cáo Đ cho rằng đây là chiếc điện thoại bị cáo Tr dùng để liên lạc mua ma túy, bị cáo không yêu cầu nhận lại nên tịch thu sung công quỹ nhà nước.

- Đối với những chiếc điện thoại tạm giữ của các bị cáo. Trong qua trình điều tra, truy tố không chứng minh được các bị cáo sử dụng các chiếc điện thoại này để phạm tội nên Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng Điều 48 của Bộ luật hình sự 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả lại cho các bị cáo:

+ Bị cáo Nguyễn Mai Tr: 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO, màu tím-đen; số IMEI 1: 863980044561438; IMEI 2: 863980044561420 có lắp sim số: 0785.665.433; đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng hoạt động.

+ Bị cáo Nguyễn Minh Đ: 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia, màu đen; số IMEI 1: 356038085688331, IMEI 2: 356038085768331; có lắp sim số: 0815.551.648; đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng hoạt động.

+ Bị cáo Trần Minh Th: 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO, màu đen; số IMEI 1: 868053032895997, IMEI 2: 868053032895989; có lắp sim số: 0763.957.708 và 0907.598.971; đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng hpạt động.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 135; Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Mai Tr, Nguyễn Minh Đ, Trần Minh Th mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Mai Tr, Nguyễn Minh Đ, Trần Minh Th phạm “Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm a, b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17 Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Mai Tr 09 (chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/7/2021.

Xử phạt bị cáo Trần Minh Th (Tèo) 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/7/2021.

Căn cứ điểm a, b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 của Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh Đ 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/7/2021.

Tiếp tục tạm giam các bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày để đảm bảo thi hành án.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47, Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 (một) phong bì niêm phong số: 50/2021 ngày 23/7/2021 có 04 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật Hình sự - Công an tỉnh Hậu Giang và chữ ký ghi tên Nguyễn Phi Khanh và Đặng Thị Phương Loan, bên trong có chứa: mẫu tinh thể còn lại không tìm thấy thành phần các chất ma túy và tiền chất sau giám định của phong bì viền sọc xanh đỏ, có khối lượng 7,17481 gam và vỏ bao gói được niêm phong.

+ 01 (một) đoạn băng dính màu xanh kích thước (8x3,2)cm được tạm giữ tại sàn nước phía sau nhà giáp sông Trà Ban, trên đầu cột kích thước (11x10x220)cm được niêm phong, đóng gói theo quy định, có chữ ký của người chứng kiến và đóng dấu của Cơ quan CSĐT Công an thị xã Long Mỹ.

+ 01 (một) ống hút nhựa màu đỏ-trắng, kích thước (33x0,5)cm; 01 (một) bộ khò lửa bằng kim loại có chiều dài nhất là 14cm, rộng nhất là 5cm; 01(một) ống thủy tinh, kích thước (7x0,5)cm được tạm giữ tại vị trí sát vách nhà vệ sinh.

+ 01 (một) hộp nhựa có nắp đậy màu vàng, trên nắp có chữ “khô gà lá chanh”, bên trong có chứa 15 túi nilon được hàn kín 02 đầu, kích thước (1x4,5)cm, trong túi nilon không có chứa gì; 01 (một) bật lửa màu xanh trên thân bật lửa có số “555” màu vàng, kích thước (9x3,5)cm, được tạm giữ trên bàn nhựa, sát giường bê tông.

- Tịch thu sung vào công quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động, nhãn hiệu mobell, màu đen; số IMEI: 830011600407558, có lắp sim số: 0969.979.013; đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng hoạt động, của bị cáo Nguyễn Minh Đ.

- Trả lại cho bị cáo:

+ Nguyễn Mai Tr: 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO, màu tím-đen; số IMEI 1: 863980044561438; IMEI 2: 863980044561420 có lắp sim số: 0785.665.433; đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng hoạt động.

+ Nguyễn Minh Đ: 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia, màu đen; số IMEI 1: 356038085688331, IMEI 2: 356038085768331; có lắp sim số: 0815.551.648; đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng hoạt động.

+ Trần Minh Th: 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO, màu đen; số IMEI 1: 868053032895997, IMEI 2: 868053032895989; có lắp sim số: 0763.957.708 và 0907.598.971; đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng hoạt động.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/11/2021 giữa Công an thị xã Long Mỹ với Chi cục thi hành án dân sự thị xã Long Mỹ).

3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Mai Tr, Nguyễn Minh Đ, Trần Minh Th mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn luật định 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ