vanban.org

Bản án 25/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai Tuyên án 17/08/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự, hình phạt: Tuyên bố bị cáo Sùng A D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,13 gam Hêrôin còn lại sau trích mẫu giám định và các mảnh nilon được tái niêm phong theo quy định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai, trên một mặt bì… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Sùng A D tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự, hình phạt: Tuyên bố bị cáo Sùng A D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÁT XÁT
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2020/HS-ST
Ngày 17/8 /2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÁT XÁT- TỈNH LÀO CAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Đức

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông: Vàng Seo Say

Ông: Hoàng Xuân Phú

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Thị Minh Lý - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai.

- Đại diện VKSND huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 8 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bát Xát xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 21/2020/HSST ngày 17 tháng 7 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2020/QĐXXST- HS ngày 03/8 /2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Sùng A D (Tên gọi khác: Không) Sinh năm 1967 (không xác định được ngày, tháng sinh) tại: huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai. Nơi đăng ký hộ khẩu và chỗ ở: Thôn H, xã T, huyện B, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: H Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Sùng A P (đã chết); Con bà Thào Thị M, sinh năm 1943. Trú tại: Thôn H, xã T, huyện B, tỉnh Lào Cai; Gia đình bị cáo có 09 (chín) anh chị em, bị cáo là con thứ hai; Vợ là Giàng Thị S, sinh năm 1968 (đã chết); Bị cáo có 05 (năm) con, lớn sinh năm 1987, nhỏ sinh năm 2001; Tiền án: Không; Tiền sự: Không

Nhân thân: Bị cáo Sùng A D là người có nhân thân xấu, thường xuyên sử dụng chất ma túy và có 01 tiền án: Tại bản án số 13/2013/HSST ngày 23/5/2013 của Tòa án nhân dân huyện Bát Xát đã xử phạt Sùng A D 02 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, đến ngày 31/5/2015 Sùng A D đã chấp hành xong hình phạt tù.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 30/5/2020. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Lào Cai. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Hương Thuỷ - Trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước, tỉnh Lào Cai. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ ngày 29/5/2020, Sùng A D đi bộ từ nhà tại thôn H, xã T, huyện B xuống chợ xã Trịnh Tường, huyện Bát Xát tìm mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Đi đến nơi, D gặp một người đàn ông thường xuyên đi uống thuốc Methadone cùng, D không biết tên, tuổi và địa chỉ, D hỏi người đàn ông này có biết ai bán ma túy không thì được người đàn ông này nói ở cổng chợ xã Trịnh Tường có một người đàn ông khoảng 40 tuổi có ma túy bán. D đi đến khu vực cổng chợ xã Trịnh Tường và gặp một người đàn ông không quen biết và hỏi người đàn ông này “có hàng (tức hêrôin) không?” người đàn ông này hỏi D “mua nhiều không?” thì D nói “mua 150.000 đồng” và lấy tiền từ túi áo bên phải đang mặc đưa cho người đàn ông này, người đàn ông này nhận tiền và đưa cho D 02 (hai) gói ma túy được gói bằng nilon màu trắng, D cất hai gói vừa mua được vào túi áo bên phải đang mặc rồi đi bộ lên xã Nậm Chạc, huyện Bát Xát chơi. Đến khoảng 02 giờ 30 phút ngày 30/5/2020, Sùng A D đi bộ từ xã Nậm Chạc về đến thôn Tùng Chỉn 1, xã Trịnh Tường, huyện Bát Xát thì bị tổ công tác của Công an huyện Bát Xát phát hiện bắt quả tang cùng toàn bộ tang vật.

Ngày 30/5/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bát Xát đã ra quyết định trưng cầu giám định về ma túy đối với chất bột khô, màu trắng, vón cục thu giữ của Sùng A D.

Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, trích mẫu, tái niêm phong và giao nhận đối tượng giám định giữa Công an huyện Bát Xát và Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai ngày 30/5/2020 đã xác định: 02 (hai) gói nilon màu trắng, bên trong cả hai gói này đều chứa chất bột khô màu trắng, vón cục thu giữ của Sùng A D ngày 30/5/2020 có tổng khối lượng là 0,2 gam, tiến hành trích mẫu 0,07 gam để tiến hành giám định, còn lại 0,13 gam hoàn trả cơ quan trưng cầu.

Kết luận giám định số 108/GĐMT ngày 02/6/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai kết luận: 0,2 gam chất bột khô, màu trắng, vón cục là loại chất ma túy Heroine (Hêrôin)

Tại bản cáo trạng số 21/CT-VKS ngày 15/7/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bát Xát truy tố bị cáo Sùng A D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Sùng A D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Sùng A D từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo ngày 30/5/2020.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 0,13 gam Hêrôin còn lại sau giám định và các mảnh nilon.

Tuyên án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

Tại phiên toà người bào chữa cho bị cáo Sùng A D trình bày: Viện kiểm sát nhân dân huyện Bát Xát truy tố bị cáo Sùng A D về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo Sùng A D là người dân tộc thiểu số, trình độ nhận thức và hiểu biết pháp luật hạn chế, trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình, ăn năn hối cải. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo mức án 01 năm tù. Do bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo không có tài sản riêng, bản thân nghiện chất ma tuý vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bát Xát, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bát Xát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội với bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án đã được tóm tắt ở phần trên. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện, do nhu cầu của bản thân nên đã nảy sinh ý định đi mua ma túy về để sử dụng: Vào khoảng 16 giờ ngày 29/5/2020, bị cáo đã mua 0,20 gam Hêrôiin với giá 150.000 đồng của một người đàn ông không quen biết tại chợ xã Trịnh Tường, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai. Sau đó bị cáo cất vào túi áo bên phải đang mặc rồi đi bộ lên xã Nậm Chạc, huyện Bát Xát chơi. Đến khoảng 02 giờ 30 phút ngày 30/5/2020, bị cáo đi bộ từ xã Nậm Chạc về đến thôn Tùng Chỉn 1, xã Trịnh Tường, huyện Bát Xát thì bị tổ công tác của Công an huyện Bát Xát phát hiện bắt quả tang cùng toàn bộ tang vật. Hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai đã truy tố bị cáo Sùng A D ra trước tòa về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Hành vi của bị cáo là vi phạm nghiêm trọng, không chỉ xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước mà còn gây ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo có nhân thân xấu, thường xuyên sử dụng chất ma túy và có 01 tiền án: Tại bản án số 13/2013/HSST ngày 23/5/2013 của Tòa án nhân dân huyện Bát Xát đã xử phạt Sùng A D 02 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, đến ngày 31/5/2015 Sùng A D đã chấp hành xong hình phạt tù và trở về địa phương nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học kinh nghiệm cho bản thân mà vẫn tiếp tục sử dụng chất ma túy dẫn đến phạm tội. Vì vậy cần phải xét xử mức án thật nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội, trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo Sùng A D đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình, vì vậy cần xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên toà, bị cáo là người lao động tự do, không có việc làm ổn định, là đối tượng nghiện ma tuý nên không có tài sản và thu nhập gì. Vì vậy không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo 0,20 Hêrôin, sau khi trích mẫu giám định số ma tuý còn lại là 0,13 gam Hêrôin đã được tái niêm phong, đây là vật chứng mà Nhà nước cấm lưu hành nên cần tuyên tịch thu để tiêu hủy.

Những chứng cứ buộc tội, chứng cứ gỡ tội của Kiểm sát viên; bị cáo đều phù hợp và được Hội đồng xét xử chấp thuận.

Đối với người có liên quan trong vụ án: Người đàn ông đã chỉ cho Sùng A D đi mua ma túy và người đàn ông đã bán ma túy cho Sùng A D vào ngày 29/5/2020, do Sùng A D không biết tên, tuổi và địa chỉ của những người đàn ông này nên cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xử lý là phù hợp.

Về án phí: Buộc bị cáo Sùng A D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về trách nhiệm hình sự, hình phạt: Tuyên bố bị cáo Sùng A D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sư: Xử phạt bị cáo Sùng A D 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 30/5/2020.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 0,13 gam Hêrôin còn lại sau trích mẫu giám định và các mảnh nilon được tái niêm phong theo quy định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai, trên một mặt bì niêm phong có ghi “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu trong vụ Sùng A D ngày 30/5/2020 tại Thôn Tùng Chỉn 1, xã Trịnh Tường, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai.

(Vật chứng được thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/7/2020 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bát Xát bàn giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bát Xát )

3. VÒ ¸n phÝ: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Sùng A D phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo bản án: Án xử sơ thẩm công khai có mặt bị cáo. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6,7,7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ