vanban.org

Bản án 25/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Đắk G'Long, tỉnh Đắk Nông Tuyên án 25/06/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Mông Văn S phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”.

Hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, phạt bổ sung Mông Văn S 5.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước. Vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu, sung quỹ Nhà nước số tiền 100.000 đồng; tiếp tục tạm giữ 10… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mông Văn S mua bán ma túy bị xử lý - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Mông Văn S phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẮK GLONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐẮK NÔNG
Bản án số: 25/2019/HSST
Ngày 25-6-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK GLONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Vinh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Xuân Đức và ông Võ Văn Việt

- Thư ký phiên tòa: Bà Kiều Thị Thành - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 21/2019/TLST-HS ngày 13-5-2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2019/QĐXXST-HS ngày 13-6-2019 đối với bị cáo:

Mông Văn S, sinh năm 1988 tại tỉnh Đắk Lắk; nơi đăng ký HKTT: thôn 9, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; nơi cư trú: Bon S, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Mông Văn D và bà Thân Thị K; có vợ là Hoàng Thị L và 01 con; bị bắt tạm giữ ngày 30-01-2019 sau đó chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông; có mặt.

- Người làm chứng:

+ Anh Đỗ Văn T; nơi cư trú: Bon S, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 29-01-2019, Công an huyện Đắk Glong phát hiện Đỗ Văn T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Đỗ Văn T khai nhận mua ma túy của Mông Văn S tại nhà ở Bon P, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Glong thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp nhà ở của Mông Văn S, quá trình khám xét khẩn cấp Mông Văn S đã tự nguyện giao nộp 01 gói nylon màu trắng bên trong chứa chất rắn màu trắng đục; tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 200.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu WIKO màu vàng – đen (bên trong có 01 sim số 0915626904).

Quá trình điều tra S khai nhận, S là người nghiện ma túy, qua một số con nghiện ma túy khác S biết một người đàn ông tên K (chưa xác định được nhân thân lai lịch) thường xuyên bán ma túy tại khu vực đồi keo ở thôn S, xã Đ, huyện Đ. Ngày 26-01-2019, S đến khu vực đồi keo ở thôn S, xã Đ gặp K để hỏi mua Hêroine, K đồng ý bán cho S 01 gói Hêroine với giá là 500.000 đồng, sau khi mua Hêroine xong S đem về nhà cất dấu sử dụng và bán lại kiếm lời. Đến khoảng 17 giờ 00 phút ngày 29-01-2019, Đỗ Văn T đến nhà S hỏi mua Hêroin để sử dụng thì S đồng ý bán cho T 01 gói ma túy với giá 100.000 đồng. Sau đó, S bị bắt giữ

Quá trình điều tra xác định 01 điện thoại di động nhãn hiệu WIKO màu vàng - đen (bên trong có 01 sim số 0915626904) của Mông Văn S không sử dụng vào việc phạm tội nên đã trả lại.

Tại bản Kết luận giám định số 12/KLMT-PC09 ngày 04-02-2019 của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Đăk Nông kết luận: Chất rắn màu trắng bên trong bì thư được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, là Heroin. Tổng khối lượng là 0,8209 gam. Hoàn lại đối tượng sau giám định có khối lượng 0,5179 gam Heroin.

Tại bản Cáo trạng số 26/CTr-VKS, ngày 13-5-2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong truy tố bị cáo Mông Văn S về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, sau khi phân tích nội dung vụ án và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Mông Văn S từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù, phạt bổ sung bị cáo 5.000.000 đồng; vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: tịch thu, sung quỹ Nhà nước số tiền 100.000 đồng; tiếp tục tạm giữ 100.000 đồng để đảm bảo thi hành án; tịch thu tiêu hủy 0,5179 gam Heroin còn lại sau giám định.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng truy tố, không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Khi nói lời sau cùng, bị cáo ăn năn hối cải và xin hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đắk Glong, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã được thu thập lưu trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa. Các chứng cứ buộc tội và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đối với việc giải quyết vụ án là có căn cứ pháp lý, qua đó xác định: Ngày 26-01-2019, Mông Văn S mua Hêroine của một người đàn ông tên K (chưa xác định được nhân thân lai lịch) tại khu vực đồi keo thuộc thôn S, xã Đ, huyện Đ với giá 500.000 đồng. Đến khoảng 17 giờ 00 phút ngày 29-01-2019, Mông Văn S bán cho Đỗ Văn T 01 gói ma túy với giá 100.000 đồng. Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của S sau đó bị phát hiện. Tổng khối lượng Hêroine thu giữ được của Mông Văn S là 0,8209 gam.

Tại Điều 1 của Nghị định số 73/2018/NĐ-CP, ngày 15-5-2018 của Chính phủ quy định về các danh mục chất ma túy và tiền chất; “Ban hành kèm theo Nghị định này là các danh mục ma túy và tiền chất sau đây: Danh mục I: Các chất ma túy tuyệt đối cấm sử dụng trong y học và đời sống xã hội; việc sử dụng các chất này trong phân tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, điều tra tội phạm theo quy định đặc biệt của cơ quan có thẩm quyền”.

Tại phụ lục danh mục I của Nghị định số 73/2018/ NĐ-CP quy định Heroine (tên khoa học: Diacetylmorphine) là một trong các chất ma túy.

Như vậy Mông Văn S mua, bán chất ma túy phục vụ cho mục đích cá nhân là trái phép. Do đó, hành vi của bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong truy tố S về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, cụ thể:

Tại Điều 251 của Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. ...".

[3] Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận thức được sự nguy hiểm của ma túy, nó là tiền đề của tệ nạn xã hội, là nguồn gốc của nhiều tội phạm khác, đồng thời gây mất an ninh trật tự tại địa phương, các tội phạm về ma túy hiện nay cả xã hội đều lên án nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện nên cần có mức án thật nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội, do đó cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định thì mới có tác dụng răn đe nói riêng và phòng ngừa chung.

[4] Về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt; sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là người dân tộc thiểu số, nhận thức pháp luật có phần hạn chế nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên cần xem xét khi quyết định hình phạt.

[5] Về hình phạt bổ sung: Cần phạt bổ sung bị cáo 5.000.000 đồng sung quỹ nhà nước.

[6] Về vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, cần tịch thu, sung quỹ Nhà nước số tiền 100.000 đồng do S mua bán ma túy mà có; tiếp tục tạm giữ 100.000 đồng để đảm bảo thi hành án; tịch thu tiêu hủy 0,5179 gam Heroin còn lại sau giám định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Mông Văn S phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Mông Văn S 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 30-01-2019)

Hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, phạt bổ sung Mông Văn S 5.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước.

2. Vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu, sung quỹ Nhà nước số tiền 100.000 đồng; tiếp tục tạm giữ 100.000 đồng để đảm bảo thi hành án; tịch thu tiêu hủy 0,5179 gam Heroin còn lại sau giám định. Đặc điểm vật chứng như biên bản bàn giao ngày 13-5-2019 của Cơ quan CSĐT và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ.

3. Án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Mông Văn S phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ