vanban.org

Bản án 25/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Hải Dương, tỉnh Hải Dương Tuyên án 01/03/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Văn L phạm tội "Buôn bán hàng cấm".

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đặng Văn L 48 (bốn mƣơi tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/10/2018. Về hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Đặng Văn L 20.000.000đ sung quỹ Nhà nƣớc. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Văn L phạm tội "Buôn bán hàng cấm". - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 201…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Văn L phạm tội "Buôn bán hàng cấm".
  • Căn cứ chính? Điều 190 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH HẢI DƢƠNG
Bản án số: 25/2019/HS-ST
Ngày: 01/3/2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƢƠNG -TỈNH HẢI DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Nhan.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Công Hoan, ông Lê Văn Cƣ.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Bốn - Thƣ ký Toà án nhân dân thành phố Hải Dƣơng, tỉnh Hải Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Ông Vũ Đức Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Hải Dƣơng, tỉnh Hải Dƣơng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 23/2019/HSST ngày 31/01/2019, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 23/2019/HSST-QĐ ngày 15/02/2019, Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa ngày 25/02/2019, đối với bị cáo:

Đặng Văn L, sinh năm1989; ĐKHKTT: Thôn H K, xã Đ T, huyện Y T, tỉnh N A; Nơi cƣ trú: Khu T Tr, phƣờng A Q, thành phố H D, tỉnh H D; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 9/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Đặng Văn L và bà Đoàn Thị H; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ Đinh Thị H1, sinh năm 1988; Có 02 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2015. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/10/2018, chuyển tạm giam từ ngày 14/10/2018 đến nay tại Trại tạm giam K C, Công an tỉnh H D. Có mặt tại phiên tòa.

- Ngƣời làm chứng:

1. Anh Đoàn Văn Hƣng, sinh năm 1970.

Nơi cƣ trú: Khu V X, phƣờng A Q, thành phố H D.

2. Ông Vũ Văn N, sinh năm 1959.

Nơi cƣ trú: Khu T Tr, phƣờng A Q, TP. phố H D.

Đều vắng mặt tại phiên tòa

3. Chị Đinh Thị H1, sinh năm 1988.

Nơi cƣ trú: Khu T Tr, phƣờng A Q, TP. H D.

Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Đặng Văn L có quen biết ngƣời tên Q (không rõ họ tên, địa chỉ). Khoảng giữa tháng 09/2018, Q có nói với L về việc biết chỗ mua pháo. Do có nhu cầu mua pháo mang về quê ở xã H K, H K, Y T, N A để sử dụng và bán lại kiếm lời, L bảo Q khi nào có pháo thì thông báo cho L. Buổi trƣa ngày 04/10/2018, có 01 nam thanh niên (không rõ họ tên, địa chỉ) điện thoại từ số 0339.148.220 đến số điện thoại 0901.023.444 của L, tự giới thiệu là bạn của Q và bảo với L là có pháo để bán. L bảo nam thanh niên bán cho L số pháo trị giá 2.400.000đ, nam thanh niên bảo sẽ chuyển pháo bằng cách gửi ô tô khách cho L, còn tiền thì thanh toán sau. Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 05/10/2018, nam thanh niên trên gọi điện thoại bảo L tối đi đến khu vực ngã ba đƣờng mới, thuộc địa phận xã Hồng Lạc, huyện Nam Sách, tỉnh H D lấy pháo. Khoảng 20 giờ cùng ngày, L đến khu vực đã hẹn với nam thanh niên thì có 01 xe ô tô (loại 16 chỗ, không rõ biển số) đi đến và chuyển cho L 02 thùng xốp, L mang 02 thùng xốp lên xe ô tô taxi biển số 34A-063.64 do anh Đoàn Văn Hƣng ở khu V X, phƣờng A Q điều khiển rồi bảo anh Hƣng chở L về phòng trọ ở khu T Tr, phƣờng A Q để cất giấu. Đến khoảng 20 giờ 45 phút cùng ngày, khi anh Hƣng đang điều khiển xe đến địa phận khu Tiến Đạt, phƣờng A Q, thành phố H D thì bị tổ công tác Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội, công an tỉnh H D kết hợp cùng Công an phƣờng A Q trong khi làm nhiệm vụ, kiểm tra phát hiện, lập biên bản thu giữ 02 thùng xốp bên trong có 20 gói hình trụ màu đỏ, mỗi gói có đƣờng kính 30 cm, chiều cao 06 cm, trọng lƣợng 22 kg; 10 gói hình hộp chữ nhật màu đỏ, mỗi gói có kích thƣớc (15x14,5)cm, trọng lƣợng 14,5kg; 01 điện thoại di động Iphone 6 màu vàng- trắng bên trong lắp sim số 0901.023.444, L khai số pháo đó L vừa mua đƣợc đang trên đƣờng mang về phòng trọ cất giấu. Quá trình bắt giữ và lập biên bản có sự chứng kiến của anh Đoàn Văn Hƣng và ông Vũ Văn Xá (tổ trƣởng tổ bảo vệ dân phố khu Tiến Đạt, phƣờng A Q, thành phố H D).

Tại Kết luận giám định số 5522B/C09-P2 ngày 08/10/2018, Viện khoa học hình sự -Bộ Công an xác định: 10 khối hình hộp, vỏ bọc giấy màu, bên trong mỗi hộp có 36 vật hình trụ, vỏ giấy đƣợc liên kết với nhau đều là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi đốt có gây tiếng nổ). Khối lƣợng của 10 khối hộp là 14,5kg; các vật hình trụ, vỏ giấy màu, một đầu mỗi vật đều có gắn dây ngòi đƣợc liên kết với nhau thành tràng (20 tràng) đều là pháo nổ, khối lƣợng là 22kg.

Về vật chứng: Số pháo hoàn lại sau giám định và 02 thùng xốp, cơ quan Cảnh sát điều tra-Công an thành phố H D đã thành lập hội đồng tiến hành tiêu hủy theo quy định. Đối với 01 điện thoại di động Iphone 6 màu vàng – trắng lắp sim 0901.023.444 của Đặng Văn L hiện đang đƣợc quản lý tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố H D.

Tại Cáo trạng số 29/CT-VKSTPHD, ngày 31/01/2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố H D truy tố bị cáo Đặng Văn L về tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, rất ân hận về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đối với chiếc điện thoại Iphone 6 màu vàng - trắng cơ quan điều tra đã thu giữ là tài sản riêng của bị cáo. Bị cáo là ngƣời sử dụng chiếc điện thoại trên nhƣng bị cáo đề nghị Tòa án xem xét trả lại cho vợ bị cáo là chị Đinh Thị H1 để có phƣơng tiện liên lạc.

Ngƣời làm chứng chị Đinh Thị H1 xác định chị là ngƣời mua chiếc điện thoại Iphone 6 màu vàng - trắng mà cơ quan điều tra đã thu giữ. Chị đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho chị xin lại chiếc điện thoại trên, tuy nhiên chị không có tài liệu gì chứng minh chị là ngƣời mua và là chủ sở hữu chiếc điện thoại trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H D thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm nhƣ đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Văn L, phạm tội “Buôn bán hàng cấm”; Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 4 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Văn L từ 45 tháng đến 48 tháng tù, thời hạn tính từ ngày 06/10/2018; Về hình phạt bổ sung: Đề nghị xử phạt bị cáo 20.000.000đ sung quỹ Nhà nƣớc; Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung quỹ Nhà nƣớc 01 điện thoại di động Iphone 6 màu vàng – trắng lắp sim 0901.023.444 của Đặng Văn L. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Lời khai của bị cáo Đặng Văn L tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai ngƣời làm chứng, biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Nhƣ vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ ngày 05/10/2018, Đặng Văn L có hành vi mua 22kg pháo nổ và 14,5kg pháo có đặc tính nhƣ pháo nổ mục đích để sử dụng và bán kiếm lời, trên đƣờng vận chuyển đến khu Tiến Đạt, phƣờng A Q, thành phố H D, tỉnh H D thì bị Tổ công tác phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội Công an tỉnh H D kết hợp với Công an phƣờng A Q, thành phố H D phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Bị cáo là ngƣời có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức đƣợc pháo nổ là một loại hàng hóa Nhà nƣớc cấm sản xuất, kinh doanh, buôn bán, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, đồng thời bản thân bị cáo cũng nhận thức đƣợc tác hại khi sử dụng pháo nhƣng vì mục đích tƣ lợi, ý thức coi thƣờng pháp luật nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Việc bị cáo mua trái phép 22kg pháo nổ và 14,5kg pháo có đặc tính nhƣ pháo nổ để sử dụng và bán lại kiếm lời là vi phạm pháp luật. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố H D truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm vào chính sách độc quyền của Nhà nƣớc trong quản lý, sản xuất, kinh doanh một số loại hàng cấm, xâm phạm trật tự an toàn xã hội đƣợc pháp luật bảo vệ. Vì vậy, cần áp dụng một hình phạt nghiêm tƣơng xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt biết tôn trọng, chấp hành pháp luật và phòng ngừa chung trong xã hội.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, bị cáo có bố đẻ là ông Đặng Văn Lý đƣợc Nhà nƣớc tặng thƣởng huân chƣơng chiến công nên bị cáo đƣợc áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có hành vi mua tổng số 36 kg pháo trong đó có 22kg pháo nổ và 14,5kg pháo có đặc tính nhƣ pháo nổ để sử dụng và bán lại kiếm lời nên cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy đinh tại khoản 4 Điều 190 Bộ luật hình sự.

Về vật chứng: Số pháo hoàn lại sau giám định cơ quan Điều tra đã thành lập hội đồng tiêu hủy vật chứng theo đúng quy định. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 chiếc điện thoại di động Iphone 6 màu vàng - trắng trong có lắp sim số 0901.023.444 của bị cáo Đặng Văn L. Xét chiếc điện thoại trên là tài sản cá nhân của bị cáo, bị cáo đã dùng làm phƣơng tiện để thực hiện hành vi liên lạc mua pháo về sử dụng và bán lại kiếm lời. Tại phiên tòa, chị Đinh Thị H1 xác định chiếc điện thoại là do chị mua và đề nghị Tòa án trả lại cho chị, tuy nhiên chị không có tài liệu gì chứng minh về vấn đề này, nên Hội đồng xét xử không có căn cứ để xem xét đề nghị của chị H1. Do vậy căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu sung quỹ Nhà nƣớc chiếc điện thoại trên.

Về án phí: Bị cáo bị kết án có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về vấn đề khác: Đối với anh Đoàn Văn Hƣng là lái xe ôtô taxi biển số 34A-063.64, khi chở L, anh Hƣng không biết 02 thùng xốp đựng pháo và không biết việc L mua bán pháo nổ nên không có căn cứ xử lý.

Đối với ông Vũ Văn N (là chủ phòng trọ khu T Tr – A Q, thành phố H D và chị Đinh Thị H1 (vợ của L) không biết và không đƣợc L trao đổi về việc mua bán pháo nổ nên không xem xét xử lý là phù hợp. Đối với đối tƣợng tên Q sử dụng số điện thoại 0383.683.192 và ngƣời bạn của Q sử dụng số điện thoại 0339.148.220 theo lời khai của bị cáo nhƣng quá trình xác minh xác định ngƣời dùng số chứng minh nhân dân 225058237 để đăng ký số thuê bao 0383.683.192 là chị Nguyễn Thị T ở V T, huyện V N, tỉnh K H.Ngƣời sử dụng số chứng minh nhân dân 321232555 để đăng ký số thuê bao 0339.148.220 là anh Trần Văn L, ở Ấp A Q, xã V A, tỉnh B Tr. Tuy nhiên họ chƣa bao giờ sử dụng số điện thoại trên và chứng minh nhân dân của mình để đăng ký thuê bao điện thoại, họ đều không quen biết L, Q và chƣa đến địa bàn H D. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh đối tƣợng tên Q và ngƣời bạn của Q và làm rõ sau là phù hợp pháp luật.

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố H D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 4 Điều 190, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí sô 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Văn L phạm tội "Buôn bán hàng cấm".

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đặng Văn L 48 (bốn mƣơi tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/10/2018.

3. Về hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Đặng Văn L 20.000.000đ sung quỹ Nhà nƣớc.

4. Về xử lý vật chứng: Tịch thu 01 chiếc điện thoại di động Iphone 6 màu vàng – trắng của bị cáo Đặng Văn L. (Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố H D và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H D ngày 01/02/2019).

5. Về án phí: Buộc bị cáo Đặng Văn L phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 01/3/2019)./.

Cỡ chữ