- Tranh chấp gì? án hình sự — "vụ án hình sự thụ lý số: 17/2018/HSST ngày 11/7/2018 đối với các bị cáo:Hồ Hưng và Lê Hữu Trung - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luậ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Lê H u T và Hồ Sỹ H phạm tội: “Trộm cắp tài sản".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KBANG – TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 25/2018/HSST. Ngày: 28/8/2018. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KBANG -TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
Thẩm phán, Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Nguyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Võ Thị Cảnh;
2. Ông Phan Đình Toàn;
- Thƣ ký phiên toà: Ông Phan Đình Mão – Thư ký Tòa án nhân dân (TAND) huyện Kbang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) huyện Kbang tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Khanh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 28/8/2018, tại Hội trường xét xử TAND huyện K, TAND huyện K, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 17/2018/HSST ngày 11/7/2018 đối với các bị cáo:
1. Hồ S Hƣng, sinh ngày 29/11/1998; Sinh trú quán: Tổ dân phố (TDP) 14, thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 6/12; tiền án, tiền sự: Không; Con ông Hồ Sỹ M và bà Nguyễn Thị H; Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
2. Lê Hữu Trung, sinh ngày 25/2/1991; Sinh trú quán: TDP 2, thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 7/12; tiền án, tiền sự: Có 02 tiền án về tội trộm c p tài sản chưa đư c xóa án t ch. Con ông Lê H u M và bà Nguyễn Thi H; v là Hồ Thị T; bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
Ngƣời bị hại: Công ty trách nhiệm h u hạn (TNHH) Thảo Nguyên Xanh (sau đây gọi t t là Công ty Thảo Nguyên Xanh);
Địa chỉ: TDP 14, thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Xuân L, sinh năm 1961, là Phó Giám đốc Công ty.
Địa chỉ: TDP 13, thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai (v ng mặt).
Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Hồ Sỹ M, sinh năm 1972;
Địa chỉ: TDP 14, thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai (có mặt).
- Ông Lê H u C, sinh năm 1986;
Địa chỉ: TDP 2, thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai (v ng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 09/4/2018, tại nhà Hồ Sỹ H TDP 14, thị trấn K có H c ng với v chồng em gái là Hồ Thị T và chồng là Lê H u T. H rủ T đi đến xư ng g Công ty Thảo Nguyên Xanh để trộm c p g về bán lấy tiền tiêu xài, T đồng ý nên cả hai đi theo đường mòn trong vườn ph a sau nhà H đến xư ng (cách nhà H khoảng 100m). Lúc này đã hết ca nên công nhân của xư ng đã ra về hết, các cổng ra vào đều đóng, H và T đi bên ngoài tường rào nhìn vào xư ng phôi thấy đống g có nhiều hộp g x đã bào, quan sát thấy b c tường ph a b c xư ng có ô rào lưới B40. H nói Trung đó chờ để mình về nhà lấy kìm c t lưới B40, H về nhà lấy 01 chiếc kìm s t, loại kìm bấm quay lại c m kìm c t lưới B40 nhưng không đư c. Thấy vậy T bảo đưa kìm để T c t cho, H đưa kìm cho T, T đã sử dụng kìm bấm c t đ t t ng s i dây thép lưới B40. C t khoảng 15 phút thì lưới B40 đ t ra thành một khoảng trống rộng 30cm x cao 70cm, sau đó cả hai chui vào trong đi đến nơi đống g đã bào, vác m i người 01 hộp g đưa ra ngoài qua l lưới v a c t rồi quay lại vác tiếp 2 l n n a đư c 06 hộp g thì nghỉ về nhà H ăn cơm.
n cơm xong khoảng 20 giờ, cả hai lại tiếp tục vào xư ng lấy g đưa qua l lưới B40 đã c t đư c 22 hộp g n a, tổng cộng là 28 hộp. Sau đó cả hai về nhà H lấy m i người 01 xe mô tô ch g về để sân nhà T tại TDP 2, thị trấn K, ch nhiều chuyến (m i người ch m i chuyến đư c 03 hộp g ). Đến 02 giờ sáng ngày 10/4/2018 thì ch hết xong H về nhà ngủ và T c ng đi ngủ. Đến khoảng 08 giờ c ng ngày, một mình T vác đống g trộm c p ra cất giấu vườn sau bếp nhà T, lấy tấm bạt phủ lên.
Sáng ngày 10/4/2018, ông Trịnh Đ c N là bảo vệ xư ng g phát hiện thấy có dấu vết k gian c t rào B40 vào xư ng trộm c p g nên đã báo lãnh đạo Công ty, sự việc sau đó đư c trình báo Cơ quan điều tra Công an huyện. Cơ quan điều tra đã tiến hành khám nhiệm hiện trường, xác minh, truy tìm vật ch ng cho đến 21 giờ 30 phút c ng ngày thì phát hiện thu gi đư c toàn bộ tang vật g trộm c p tại vườn sau bếp nhà Lê H u T. Ngày 11/4/2018, Hồ Sỹ H đến Cơ quan điều tra Công an huyện đ u thú, ngày 12/4/2018 Lê H u T c ng ra đ u thú.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tạm gi phương tiện 02 chiếc xe mô tô hiệu DAM SAN biển số: 77M9-6212 và hiệu DETECH biển số 81S1-2460, 01 chiếc kìm s t dài 20cm cán bọc nhựa màu vàng và 01 tấm bạt c nền tr ng sọc đỏ, xanh (k ch thước 1,95x 3,77)m.
Căn c Kết luận giám định tài sản số: 16/KL-HĐĐG ngày 13/4/2018 của Hội đồng định giá tài sản TTHS huyện K xác định: 21 hộp g x -Hoàng t ng (2,1m x 5cm x 35cm) khối lư ng 0,771m3 trị giá là 4.993.650đ, 07 hộp g x Cảng lò (2,1m x 5cm x 35cm) khối lư ng 0,257m3 trị giá là 1.130.250đ, tổng cộng 28 hộp g có khối lư ng 1,028m3 trị giá là: 6.123.900 đồng.
Do xe mô tô hiệu DAM SAN biển số: 77M9-6212 là của anh Lê H u C (anh trai Lê H u T), xe mô tô hiệu DETECH biển số 81S1-2460 là xe của ông Hồ Sỹ Mô (bố Hồ Sỹ H, T và H tự lấy sử dụng ch g trộm c p anh C và ông M không biết nên Cơ quan điều tra đã xử lý trả lại cho chủ s h u. Vật ch ng trong vụ án là 28 hộp g x , khối lư ng 1,028m3 c ng đã đư c xử lý trả lại cho Công ty Thảo Nguyên Xanh .
Tại Bản cáo trạng số: 17/CTr-VKS ngày 11/7/2018, VKSND huyện K đã truy tố Hồ Sỹ H về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS năm 2015, đư c sửa đổi, bổ sung năm 2017; truy tố Lê H u T về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS năm 2015, đư c sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà, đại diện VKSND huyện K vẫn gi nguyên quyết định truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng đã nêu và đề nghị HĐXX tuyên bố Lê H u T và Hồ Sỹ H phạm tội: "Trộm cắp tài sản"; Áp dụng khoản 1 Điều 173, Điều 38; các điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự (BLHS) năm 2015, đư c sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt Hồ Sỹ H t 10 đến 12 tháng tù; Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, Điều 38; các điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS năm 2015, đư c sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt Lê H u T t 24 đến 27 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) để tuyên tịch thu tiêu hủy tang vật của vụ án là 01 chiếc kìm s t dài 20cm, cán bọc nhựa màu vàng; 01 tấm bạt c nền tr ng sọc đỏ, xanh (k ch thước 1,95x 3,77m)
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án ph HSST theo quy định.
Tại phiên tòa, các bị cáo Lê H u T và Hồ Sỹ H đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu và không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát. Các bị cáo đều đã nhận th c đư c hành vi phạm tội của mình và xin giảm nhẹ hình phạt.
Người có quyền l i, nghĩa vụ liên quan ông Hồ Sỹ M không có ý kiến tranh luận.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K và Điều tra viên; VKSND huyện K và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại và người có quyền l i, nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều h p pháp.
Tại phiên tòa hôm nay, lời khai của các bị cáo Lê H u T và Hồ Sỹ H phù h p với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và ph h p với các tài liệu, ch ng c khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:
Vào chiều tối ngày 09/4/2018, l i dụng lúc công nhân của xư ng g Công ty Thảo Nguyên Xanh hết ca ra về hết và sự sơ h của bảo vệ Công ty, Lê H u T và Hồ Sỹ H đã lén lút chiếm đoạt 28 hộp g có khối lư ng 1,028m3, trị giá thành tiền là 6.123.900 đồng. Do Lê H u T vào năm 2010, bị TAND huyện K xử phạt 08 tháng t về tội: "Trộm cắp tài sản" , đã chấp hành xong hình phạt; năm 2013, T lại bị TAND huyện T, tỉnh Bình Định xử phạt 24 tháng t c ng về tội: "Trộm cắp tài sản", bản án của TAND huyện T có áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm” theo điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 1999, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt nhưng chưa chấp hành xong ph n bồi thường thiệt hại. Vì vậy, hành vi nêu trên của bị cáo H đã phạm vào tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS năm 2015, đư c sửa đổi, bổ sung năm 2017; của bị cáo T đã phạm vào tội: "Trộm cắp tài sản" theo quy định điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS năm 2015, đư c sửa đổi, bổ sung năm 2017 (thuộc tình tiết định khung tăng nặng là tái phạm nguy hiểm) như kết luận của Viện Kiểm sát là có căn c , đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Các bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo H phạm tội l n đ u và thuộc trường h p t nghiêm trọng; các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên toà, đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải, hành vi phạm tội gây thiệt hại không lớn và sau khi phạm tội, các bị cáo đã ra đ u thú. Đây là nh ng tình tiết giảm nhẹ đư c quy định tại các điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS năm 2015 đư c sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Qua ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị hướng xử lý vụ án. Sau khi xem xét nhân thân của các bị cáo, đánh giá t nh chất, m c độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, c ng như xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS của t ng bị cáo, HĐXX thấy rằng: Lê H u T và Hồ Sỹ H đều là người đã thành niên, có đ y đủ năng lực hành vi để nhận th c đư c việc lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật. Song do động cơ tham lam, tư l i cá nhân, lười lao động, muốn có tiền tiêu xài ăn chơi nên các bị cáo đã có hành vi phạm tội như đã nói trên.
Hành vi phạm tội của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến tài sản của người khác đư c pháp luật bảo vệ và gây mất trật tự trị an trên địa bàn. Trong vụ án này, Lê H u T phạm tội thuộc tình tiết định khung tăng nặng là tái phạm nguy hiểm đư c quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS năm 2015, đư c sửa đổi, bổ sung năm 2017; Hồ Sỹ H là người kh i xướng và t ch cực c ng Trung thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, c n phải xử phạt các bị cáo hình phạt t nghiêm kh c trong khung hình phạt bị truy tố, cách ly các bị cáo ra ngoài cộng đồng xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo tr thành người lương thiện và nâng cao hiệu quả phòng ng a chung.
Xét bị cáo T đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải, hành phạm tội gây thiệt hại không lớn, sau khi phạm tội đã ra đ u thú; bị cáo H phạm tội l n đ u và thuôc trường h p t nghiêm trọng, hành vi phạm tội gây thiệt hại không lớn, sau khi phạm tội, bị cáo đã ra đ u thú, thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải nên HĐXX c ng đã cân nh c để giảm nhẹ một ph n hình phạt áp dụng đối với t ng bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Do Công ty Thảo Nguyên Xanh đã đư c nhận lại toàn bộ số g bị mất và không có yêu c u gì thêm nên HĐXX không xem xét.
Về vật chứng của vụ án:
Xét các phương tiện đư c hai bị cáo sử dụng phạm tội là chiếc xe mô tô hiệu DAM SAN biển số: 77M9-6212 của anh Lê H u C và chiếc xe mô tô hiệu DETECH biển số 81S1-2460 của ông Hồ Sỹ M, do anh và ông M không biết các bị cáo sử dụng xe ch g trộm c p nên Cơ quan điều tra Công an huyện K đã xử lý trả lại cho chủ s h u là đúng pháp luật nên HĐXX không xem xét đến n a.
Về các tang vật khác của vụ án là 01 chiếc kìm s t dài 20cm cán bọc nhựa màu vàng và 01 tấm bạt c nền tr ng sọc đỏ, xanh (k ch thước 1,95x 3,77)m do không còn giá trị sử dụng nên c n tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án ph HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố các bị cáo Lê H u T và Hồ Sỹ H phạm tội: “Trộm cắp tài sản".
- Áp dụng khoản 1 Điều 173, Điều 38; các điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của BLHS năm 2015, đư c sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Hồ Sỹ H 8 (tám) tháng tù, thời hạn t t nh t ngày bị cáo bị b t thi hành án.
- Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, Điều 38; các điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của BLHS năm 2015, đư c sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Lê H u T 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn t t nh t ngày bị cáo bị b t thi hành án.
- Áp dụng khoản 2 Điều 106 của BLTTHS;
Tuyên tịch thu tiêu hủy tang vật của vụ án là 01 chiếc kìm s t dài 20cm, cán bọc nhựa màu vàng và 01 tấm bạt c nền tr ng sọc đỏ, xanh (k ch thước 1,95x 3,77)m.
(theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 16/7/2018 giữa Công an huyện K và Chi cục THADS huyện K).
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của BLTTHS năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án ph , lệ ph Tòa án:
Buộc m i bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.
Trong thời hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án, các bị cáo, người có quyền l i, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo đề nghị TAND tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Thời hạn trên đối với đại diện của người bị hại, người có quyền l i, nghĩa vụ liên quan v ng mặt tại phiên tòa đư c t nh t ngày nhận đư c bản án hoặc bản án đư c niêm yết theo quy định./.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh. -VKSND huyện. -Công an huyện. -Bị cáo. -Người bị hại. -Người có QL,NVLQ. -Chi cục THADS huyện. -Lưu HSVA,VPTA. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa Lê Văn Nguyên |