- Tranh chấp gì? "trương T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trương T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 33 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
̀ A Á N NHÂN DÂN QUẬN CẦ
́
̀ A XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆ TO
U GIÂY
CỘNG HO
T NAM
̀ NH PHỐ
̀ NỘI
THA
HA
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Bản án số: 249/2017/HSST Ngày: 28/12/2017
NHÂN DANH
Nướ c Cô ̣ng hòa xa hô ̣̃ i chủ nghia Viê ̣̃
t Nam
TÒ A Á N NHÂN DÂN QUẬN CẦ U GIẤ Y – THÀ NH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Lương
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Vũ Mỹ Thuần
2/ Bà Nguyễn Thị Minh
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy: Bà Lê Huyền Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 12 năm 2017 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Cầu Giấy xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số:226/2017/HSST ngày 24 tháng 11 năm 2017. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 257/2017/QĐXX ngày12/ 12/2017 đối với bị cáo:
Trương T - Sinh năm: 1981; ĐKHKTT: Khu tập thể Đ, phường N, quận B, Thành phố Hà Nội; Nơi ở: Không ổn định; Trình độ văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: Không ổn định; Con ông: Trương H; Con bà: Tạ T; Vợ là Đỗ H, có 01con sinh năm 2014; Theo danh bản, chỉ bản số 0275 lập ngày 12/8/2017 tại Công an quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội, bị cáo có 02 tiền án:
- Ngày 26/9/2008, Tòa án nhân dân quâ ̣n B xử phạt 3 năm 6 tháng tù về tội cướp tài sản. Ra trại ngày 07/01/2011. Tại biên bản xác minh thi hành án dân sự của Chi cục thi hành án dân sự quâ ̣n B ngày 19/10/2017, bị án đa thi hành khoản ã
́n phi
́ tại biên lai 5620 ngày 26/02/2009; khoản truy nộp tại biên lai 8657 ngày 04/6/2009.
- Ngày 25/10/2011 Tòa án nhân dân quâ ̣n B xử phạt 15 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Ra trại ngày 27/10/2012. Tại biên bản xác minh thi hành án dân sự của Chi cục thi hành án dân sự quận B ngày 19/10/2017, bị án đa thi hành khoản ã
́n phi
́ tại biên lai 0175 ngày 20/12/2011.
Bắt khẩn cấp ngày 08/8/2017. Hiện bị can đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an thành phố Hà Nội. (Có mặt tại phiên toà).
2. Người bị hại:
1/ Anh Nguyễn A - sinh năm 1997 (vắng mặt)
ĐKHKTT: Thôn M, xa T , huyện C, Thành phố Hà Nội.̃
Hiện trỳ tại: đườ ng T, quận C, Thành phố Hà Nội.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Chị Đỗ T - sinh năm 1991
HKTT: Xa H, huyện Y, tỉnh B (cõ
́ mặt).
Nhận thấy:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trinh xét hỏi, tranh luận tại phiên
̀ tòa, nội dung vụ án như sau: Khoảng đầu tháng 8/2017 Trương T sử dụng CMTND mang tên Phạm N (T không quen biết) để thuê trọ tại nhà nghỉ H 1 ở số 5, ngách phường Q, quận C, Thành phố Hà Nội cùng chị Đỗ T (vợ T) và cháu Trương M (con T). Tại khu vực gần nhà nghỉ, T phát hiện 1 xe wave màu xám, đen, bạc, BKS: 30L8-0064 của anh Nguyễn A, thường xuyên để qua đêm tại trước cửa nhà trên đườ ng T, quâ ̣n C, Thành phố Hà Nô ̣i, xe không khóa cổ, khóa càng, chỉ có 01 khóa chữ U mắc vào 02 nan hoa bánh phía trước. Đêm 07/8/2017, T đi qua nhà trên đưuòng T thi vẫn
̀ thấy chiếc xe máy dựng chỗ cũ, nên T nảy sinh ý định trộm cắp. Khoảng 2h ngày 08/8/2017, sau khi chơi game ở đường Q, T lấy trong cốp xe Air blade của T chiếc kim cắt, 01 vam phá khóa chữ L và một số đoạn dây thép bằng kim loại cất vào túi ̀ quần rồi điều khiển xe máy Airblade không có biển kiểm soát về nhà nghỉ. Khoảng 3giờ 30 T đi qua nhà trên đườ ng T và quan sát, thấy không ai trông giữ chiếc xe nói trên, T vòng lại dừng chiếc xe Airblade cách chiếc WaveS khoảng 5m, T dùng kim
̀ cắt 02 nan hoa bánh trước khóa chữ U ra khỏi nan hoa xe. T dùng 03 sợi dây thép buộc cố định khóa chữ U vào trục xoay của bánh xe, rồi dắt xe máy ra đầu đường T. Trên đường đi T gặp chị Đỗ T và cháu Trương M đứng đợi trước cửa nhà nghỉ H, T nói với chị T là dắt xe ra đầu ngõ cho 01 người bạn. Chị T cùng cháu M đi sau dắt chiếc xe Airblade dựng ở gần đó cùng ra đầu ngõ. T dắt chiếc Waves ra đầu đườ ng T rồi lấy từ trong túi quần trái phía trước ra 01 bộ vam phá khóa để mở khóa điện của xe nhưng không mở được. T cất 01 kim sắt và 02 dây thép vào cốp xe Airblade
̀
do chị T vừa dắt đến đầu ngõ. Khi đến ở đầu ngõ, T thấy tổ tuần tra của công an đi qua đó vứt bộ vam phá khóa vào gốc cây cách đó 3m. Tổ công tác tiến hành kiểm tra hành chính, T và chị T không xuất trinh được giấy tờ của hai chiếc xe trên, tổ
̀
công tác đa đưa T, chi ̣̃
T, và cháu M cùng toàn bộ tang vật thu giữ về trụ sở Công an phường Q để làm việc.
Cơ quan công an đa thu giữ của Trương T: 01 xe WaveS màu xám, đen, bạc̃ biển kiểm soát 30L8-0064, 01 bộ vam phá khóa chữ L, 05 đoạn dây thép màu ghi dài khoảng 20cm, 01 kim cắt dài khoảng 20cm trong cốp xe Airblade. Ngoài ra, còn
̀ thu giữ của T: 01 xe máy honda Air blade không có biển kiểm soát, 01 chiếc điện thoại Viettel màu vàng hồng bên trong có sim số 0989208904, và thu giữ của chị T 01 chiếc điện thoại Samsung galaxy note 4 màu đen.
Tại cơ quan điều tra Trương T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng.
Bộ vam phá khóa là bạn T cho từ năm 2011 để làm tua vít, 05 sợi dây thép màu ghi dài 20 cm, 01 kim cắt dài khoảng 20cm là cụng cụ để T uốn lồng chim, 01
̀ điện thoại di động viettel màu vàng hồng số sim 0989208904 là tài sản cá nhân của T.
Về chiếc xe máy Airblade, T khai mua của một nam thanh niên không quen biết trước cửa nhà số 29 đường C, phường Q, quận C, Thành phố Hà Nội với giá 10.000.000 đồng.
Quá trinh điều tra cơ quan công an xác định chiếc xe trên mang tên anh Lê G
̀ ở Thôn T, xa S, huyện A, Thành phố H. Ngày 07/7/2017 anh G cho chị gái là chị Lễ K mượn xe để sử dụng, khoảng 22 giờ cùng ngày chị K dựng xe trước cửa quán cà phê N thi bị kẻ gian lấy cắp. Quá trinh điều tra không xác minh được đối tượng bán
̀
̀
xe cho T. Xét thấy chưa đủ căn cứ xác định Trương T đa trộm chiếc xe Air blade nóĩ trên, ngày 31/10/2017 cơ quan điều tra công an quận C đa giao chiếc xe Airbladẽ không có biển kiểm soát nói trên cho cơ quan điều tra Công an quận B để tiếp tục điều tra.
Chiếc CMND mang tên Phạm N, T khai nhặt được trên đường T nhưng không nhớ rõ vị tri. Do T và chi ̣ T đều không có giấy CMND nên T đó đưa cho chi ̣ T để
́ thuê phòng tại nhà nghỉ.
Quá trinh điều tra, xác định có người tên Phạm N đăng ký nhân khẩu theo địa
̀ chỉ trong giấy CMND tuy nhiên chị N không có mặt tại nơi đăng ký nhân khẩu, gia đinh không biết chị N đang làm gi, ở đâu, vi vậy, cơ quan điều tra đa tã ́ch phần tài ̀
̀
̀
liệu liên quan đến chiếc giấy CMND nêu trên để tiếp tục điều tra xử lý sau.
Tại cơ quan điều tra chị T khai không biết chiếc xe máy honda WaveS màu xám, đen, bạc có biển kiểm soát 30L8-0064 là tài sản do Trương T trộm cắp, 01 chiếc điện thoại samsung galaxy note 4 màu đen là tài sản của chị T.
Bản Cáo trạng số 233/CT- VKS ngày 21/11/2017 Viện Kiểm Sát nhân dân quận Cầu Giấy truy tố Trương T về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 - Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện VKSND quận Cầu Giấy vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 138, điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 33 BLHS, xử phạt bị cáo Trương T mức án từ 12 đến 15 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng hinh phạt tiền theo
̀ khoản 5 Điều 138, BLHS. Về dân sự: Không phải giải quyết; Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 bộ vam phá khóa chữ L, 05 sợi dây thép màu ghi dài 20cm, 01 kim
̀ cắt dài khoảng 20cm, trả lại cho bị cáo và chị T 02 chiếc điện thoại.
Bị cáo Trương T thừa nhận hành vi lén nút chiếm đoạt tài sản của người khác do minh thực hiện vào ngày 08/8/2017 là phạm tội.
̀
Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hinh phạt.
̀
Căn cứ vào chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Cầu Giấy, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy, Kiểm sát viên trong quá trinh
̀ điều tra, truy tố đa thực hiện đúng về thẩm quyền, trĩ
nh tự, thủ tục quy định của Bộ
̀
Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại; phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 3h30 phút ngày 08/8/2017 Trương T có hành vi sử dụng vam phá khóa, kim cắt, dây thép để trộm cắp 01 chiếc Honda WaveS
̀ màu xám, đen, bạc, BKS:30L8-0064 trị giá 7.500.000đồng. Hành vi của bị cáo Trương T đủ yếu tố cấu thành Tội trộm cắp tài sản, tội danh và hình phạt được quy định tại Điều 138 Bộ luật hình sự. Vi vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân
̀
quận Cầu Giấy quyết định truy tố bị cáo với tội danh nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm đã xâm phạm đến tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an. Nhân thân của bị cáo xấu, nhiều lần phạm tội do cố ý nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc mới đảm bảo tác dụng cải tạo giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm. Khi lượng hinh xét thấy, tại Cơ quan
̀ điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Do bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 138 BLHS là phù hợp.
Đối với giấy CMND của chị Phạm N, do đa được tách phần tài liệu để điềũ tra thêm nên Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy không xem xét trong vu ̣ án này.
Về vật chứng: Chiếc xe máy Honda Wave S màu xám, đen, bạc, BKS: 30L8-0064 của anh Nguyễn A, cơ quan điều tra đa trao trả cho người bị hại. Anh A đã
̃ nhận tài sản và không có yêu cầu gi về dân sự, nờn Tòa án không xem xét giải quyết.
̀
Chiếc xe máy nhón hiệu Honda Air blade do chưa xác minh được là tài sản do Trương T đa trộm chiếc xe này, cơ quan điều tra- Công an quận Cầu Giấy đã
giaõ chiếc xe cho cơ quan điều tra- Công an quận B tiếp tục điều tra, xác minh, Tòa án không xem xét trong vu ̣ án này.
Chiếc điện thoại samsung galaxy note 4 của chị Đỗ T và chiếc điện thoại Viettel màu vàng hồng số sim 0989208904 của bị cáo. xét thấy không liên quan đến vụ án, nên trả lại cho chị T là đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm Sát đề nghị tuyên bố bị cáo T phạm tội “Trộm cắp tài sản”, Áp dụng khoản 1 điều 138 và các điều luật quy định tinh tiết
̀ tăng nặng, giảm nhẹ đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo với mức án từ 12 đến 15 tháng tù. Đề suất giải quyết về trách nhiệm dân sự và đề nghị xử lý vật chứng như trên là có cơ sở chấp nhận.
Bị cáo phải nộp án phí theo quy định tại điểm a, Khoản 1 điều 23 nghị quyết 326/ 2016/UBTVQH của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí.
Vì các lẽ trên,
quyết định:
Tuyên bố bị cáo Trương T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
1/ áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 BLHS. Điều 76, 99, điều 231, điều 234 Bộ luật tố tụng hinh sự. Khoản 1 điều 23 nghị quyết 326
̀
ngày 30/12/2016 quy định về án phi.
́
Xử phạt: Trương T 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù kể từ ngày 08/8/2017.
2/ Về dân sự: Không phải giải quyết
3/ Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 bộ vam phá khóa chữ L, 05 sợi dây thép màu ghi dài 20cm, 01 kim cắt dài khoảng 20cm, và 02 chiếc nan hoa đa bị cắt rờĩ
̀ thành 4 đoạn. Trả lại cho chị T chiếc điện thoại di động kiểu dáng samsung galaxy note 4 màu đen điện thoại đa qua sử dụng; Trả lại cho bị cáo chiếc điện thoại di động̃ kiểu dáng Viettel màu vàng hồng số sim 0989208904 điện thoại đa qua sử dụng. Số̃ vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi Cục Thi Hành án dân sự quận Cầu Giấy theo biên bản giao nhận vật chứng số 40/GN/THA-CA ngày 23/11/2017
4/ Về án phi: Bị cáo Trương T phải nộp 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ
́ thẩm và có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (chị T) có quyền kháng cáo trọng hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người bị hại,có quyền kháng cáo trọng hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết tại trụ sở UBND nơi thường trú.
Tm. Hội đồng xét xử
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hà Nội; - VKSND thành phố Hà Nội; - VKSND quận Cầu Giấy; - Công an quận Cầu Giấy; - Chi cục THADS quận Cầu Giấy; - Bị cáo, bị hại; Người có QLNVLQ - Lưu HSVA, Vp. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Nguyễn Văn Lương |