- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lưu Hồng S và đồng bọn - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 322 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lưu Hồng S và bị cáo Trần Mạnh L phạm tội: “Tổ chức đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 322 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TPNĐ TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 249/2023/HS-ST Ngày: 24-10-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ N VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TPNĐ, TỈNH NAM ĐỊNH
- T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Mai Anh.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Quang Chung
Ông Nguyễn Tiến Dũng
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Phương Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân TPNĐ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TPNĐ, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ích Sáng - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 10 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân TPNĐ, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 223/2023/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 223/2023/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Lưu Hồng S, sinh năm 1986; nơi đăng ký thường trú và cư trú: Số nhà 18H Bắc ô 17, phường Hạ L, TPNĐ, tỉnh Nam Định; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Tự do; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 8/12; con ông Lưu Khắc N và bà Nguyễn Thị G; vợ: Trần Thị Thanh H (đã ly hôn); có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 6/12/2001 Công an TPNĐ, tỉnh Nam Định xử phạt cảnh cáo về hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; ngày 17/3/2002, Công an phường Hạ L, TPNĐ, tỉnh Nam Định xử phạt cảnh cáo về hành vi “Trộm cắp tài sản”; ngày 11/9/2003, Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xử phạt 68 tháng tù về các tội “Cướp tài sản”, “Cướp giật tài sản”, “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; ngày 20/9/2012, Tòa án nhân dân TPNĐ, tỉnh Nam Định xử phạt 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị tạm giữ từ ngày 03/7/2023 đến ngày 06/7/2023 chuyển tạm giam; hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an TPNĐ; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Trần Mạnh L, sinh năm 1987; nơi đăng ký thường trú và cư trú: Số nhà 237 phố Minh K, phường Vị H, TPNĐ, tỉnh Nam Định; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Tự do; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 12/12; con ông Trần Ngọc L và bà Vũ Thị Kim C; tiền án: Ngày 19-3-2014 Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội xử phạt 12 năm tù tội “Giết người”. Nhân thân: Ngày 14-7-2023 Tòa án nhân dân TPNĐ, tỉnh Nam Định xử 03 năm tù tội: “Đánh bạc”; bị tạm giữ từ ngày 29-12-2022 đến ngày 07-01-2023 chuyển tạm giam; hiện đang chấp hành hình phạt của bản án số 149/2023//HS-ST ngày 14-7-2023 của Tòa án nhân đân TPNĐ; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có mối quan hệ quen biết nên khoảng tháng 10/2022 Lưu Hồng S và Trần Ngọc V, sinh năm 1985, trú tại số 14/6 Đinh Bộ Lĩnh, phường Năng Tĩnh, TPNĐ, tỉnh Nam Định biết Đoàn Đức T, sinh năm 1983, trú tại 17- CL3 khu đô thị Dệt, phường Trần Đăng N, TPNĐ, tỉnh Nam Định đang quản lý tài khoản cá độ bóng đá. T đặt vấn đề trả công cho S và V nếu tìm được khách đánh bạc, S và V đồng ý. Sau đó T cung cấp tài khoản Master AY2500, AY2501 cho S; tài khoản Master AY2502 cho V, còn tài khoản Master AY2504 T sử dụng để quản lý riêng. S và T thống nhất với nhau đơn vị tiền cá độ gọi là “đô”, 1 đô = 8.000 đồng, đối với tài khoản AY2500 và AY2501, T cho S hưởng số tiền hoa hồng hay gọi là tiền “com” gấp 3 lần số tiền com hệ thống. Đến thứ 2 hoặc thứ 3 hàng tuần, S và T sẽ thanh toán tiền được thua với nhau trực tiếp bằng tiền mặt.
Từ ngày 20 tháng 11 năm 2022 đến ngày 28 tháng 12 năm 2022, Lưu Hồng S sử dụng điện thoại di động Iphone X có kết nối Internet đăng nhập vào trang Web “bongag88.com” để tổ chức đánh bạc cụ thể như sau:
* Tài khoản Master AY2500 (không nhớ hạn mức).
Lưu Hồng S rủ bạn là Trần Mạnh L cùng tìm khách chơi cá độ bóng đá với mình, L có trách nhiệm thanh toán số tiền thắng hoặc thua của khách với tỉ lệ 25%, phần còn lại S thanh toán. S cung cấp cho L tài khoản tên đăng nhập “AY2500sub1” mật khẩu “Abc123456” đăng nhập vào trang Web “vaobong.biz”để theo dõi số tiền đặt cược của người chơi. Khi S hoặc L tìm được người chơi thì sẽ thông báo cho nhau biết. Vào thứ 2 hoặc thứ 3 hàng tuần, S sẽ thông báo cho L số tiền được, thua để thanh toán cho nhau trực tiếp bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản. S chia tài khoản AY2500 T các tài khoản Agent AY250000; AY250001; AY250002; AY250003; AY250004; AY250005; AY250006 rồi chuyển cho khách cụ thể:
- Tài khoản AY250000 (không nhớ hạn mức), S cung cấp cho Trần Văn N, sinh năm 1992, trú tại số 51 Hưng Y, phường Quang T, TPNĐ. S cho N hưởng tiền com bằng 2 lần số tiền com hệ thống. N sau đó chia T nhiều tài khoản gồm:
+ Tài khoản AY25000000C, cả hai thống nhất giá 1 đô = 40.000 đồng, sau đó N cấp tài khoản này cho khách, đến ngày 05/12/2022 khách nghỉ chơi nên N trực tiếp sử dụng tài khoản trên để đánh bạc và thống nhất lại với S giá 1 đô = 20.000 đồng.
Tài khoản AY25000000C từ ngày 28/11/2022 đến ngày 04/12/2022 có số tiền tham gia cá cược là 12.683 đô tương đương với số tiền 12.683 đô x 40.000 đồng = 507.320.000 đồng. Từ ngày 05/12/2022 đến ngày 24/12/2022 có số tiền tham gia cá cược là 7.195 đô tương đương số tiền là 7.195 đô x 20.000 đồng = 143.900.000 đồng.
Trong khoảng thời gian từ ngày 28/11/2022 đến ngày 04/12/2022 khách của N chơi thua 1038,54 đô tương đương số tiền là 1038,54 đô x 40.000 đồng = 41.541.600 đồng. Từ ngày 05/12/2022 đến ngày 24/12/2022 N trực tiếp sử dụng tài khoản trên đánh bạc và thua 2456,62 đô tương đương với số tiền 2456,62 đô x 20.000 đồng = 49.132.400 đồng.
+ Các tài khoản AY25000000B; AY250000000; AY250000001; AY250000002; AY250000003; AY250000004; AY250000005; AY250000007; AY250000008; AY250000009; AY25000000A; AY25000000D cấp cho khách chơi thua cược tổng cộng là 6.786,05 đô tương đương số tiền là 6.786,05 đô x 25.000 đồng = 169.651.250 đồng. Tổng số tiền tham gia cá cược của các tài khoản này là 152.691 đô - 19.878 đô = 132.813 đô tương đương số tiền là 132.813 đô x 25.000 đồng = 3.320.325.000 đồng.
- Đối với các tài khoản còn lại gồm AY250001; AY250002; AY250003; AY250004; AY250005; AY250006 S cung cấp cho khách có tổng số tiền cược là 1.704.399 đô – 152.691 đô = 1.551.708 đô, tương đương số tiền là 1.551.708 đô x 8.000 đồng = 12.413.664.000 đồng.
Tổng số tiền com S phải trả cho N là 335,71 đô x 2 = 671,42 đô tương đương số tiền 671,42 đô x 25.000 đồng = 16.758.500 đồng nên tài khoản AY250000 S thu về số tiền là 41.541.600 đồng + 49.132.400 đồng + 169.651.250 đồng - 16.758.500 đồng = 243.566.750 đồng. Do tài khoản AY250000 thua tổng cộng 10.281,21 đô nên số tiền S phải trả cho T là 10.281,21 đô x 8.000 đồng = 82.249.680 đồng. Số tiền com T phải trả cho S là 1.007,13 đô tương đương số tiền 1.007,13 đô x 8.000 đồng = 8.057.040 đồng. Vậy tổng số tiền S thu về từ tài khoản AY250000 là 243.566.750 đồng - 82.249.680 đồng + 8.057.040 đồng = 169.374.110 đồng.
- Tài khoản Agent AY250002 S trực tiếp quản lý chia cắt T các tài khoản rồi cấp cho khách chơi để tham gia đánh bạc như sau:
+ Tài khoản Member AY250002008, AY250002009, AY25000200A S cung cấp cho Phạm Ngọc T, sinh năm 1987, trú tại 284 Trường C, phường Vị X, TPNĐ để tham gia cá độ bóng đá, hạn mức cho mỗi tài khoản là 4000 đô. S và T thỏa T với nhau 1 đô = 8000 đồng. S cho T hưởng gấp 3 lần số tiền com hệ thống.
Tài khoản AY250002008, T tham gia đánh bạc từ ngày 26/11/2022 đến ngày 10/12/2022 với tổng số 176 kèo cá cược của 59 trận bóng đá. Trong đó có 21 trận có số tiền đánh bạc trên 50.000.000 đồng, 36 trận có số tiền đánh bạc từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng, trận có số tiền đánh bạc nhiều nhất là 249.120.000 đồng, 2 trận có số tiền đánh bạc dưới 5.000.000 đồng. Tổng số tiền đánh và trúng tại tài khoản này là là 3.081.898.560 đồng.
Tài khoản AY250002009, T tham gia đánh bạc từ ngày 27/11/2022 đến ngày 13/12/2022 với tổng số 18 kèo cá cược của 6 trận bóng. Trong đó có 3 trận có số tiền đánh bạc trên 50.000.000 đồng, trận có số tiền đánh bạc nhiều nhất là 104.000.000 đồng, 03 trận có số tiền đánh bạc từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng. Tổng số tiền đánh và trúng tại tài khoản này là 332.100.000 đồng.
Tài khoản AY25000200A, T tham gia đánh bạc từ ngày 27/11/2022 đến ngày 04/12/2022 với tổng số 31 kèo cá cược của 14 trận bóng đá. Trong đó có 5 trận có số tiền đánh bạc trên 50.000.000 đồng, 9 trận có số tiền đánh bạc từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng, trận có số tiền đánh bạc nhiều nhất là 116.000.000 đồng. Tổng số tiền đánh và trúng tại tài khoản này là 585.880.000 đồng.
+ Tài khoản member AY25000200B S giao cho Trần Mạnh L có hạn mức là 1000 đô, 1 đô = 8.000 đồng, S không đề cập với L về số tiền com. S được hưởng số tiền com là 9,66 đô x 3 = 29,98 đô tương đương với số tiền 28,98 đô x 8.000 đồng = 231.840 đồng.
Từ ngày 30/11/2022 đến ngày 27/12/2022, Trần Mạnh L đã tham gia tổng cộng 108 kèo cá cược của 39 trận bóng đá, trong đó có 2 kèo cá cược bị hủy, 01 trận có số tiền đánh bạc là 7.280.000 đồng, 38 trận có số tiền đánh bạc dưới 5.000.000 đồng. Tổng số tiền đánh và trúng tại tài khoản này là 44.444.480 đồng.
- Đối với các tài khoản còn lại trong tài khoản AY250002 gồm AY250002000, AY250002001, AY250002002, AY250002003, AY250002004, AY250002005, AY250002006, AY250002007, AY250002010; tài khoản cấp Master AY 2501; tài khoản cấp Agent còn lại AY250001, AY250003, AY250004, AY250005, AY250006, Lưu Hồng S khai nhận chuyển cho một nam thanh niên tên T (chưa rõ tên tuổi địa chỉ cụ thể) với giá 1 đô = 8.000 đồng và cho T hưởng gấp 3 lần số tiền com hệ thống. Các tài khoản này có tổng số tiền cược là 12.922.748.000 đồng.
Trên thực tế khi tính tiền thanh toán cho L, S không báo lại cho L biết về giá đô S thỏa T riêng với khách mà chỉ báo với L tài khoản AY250000 S giao cho khách với giá 1 đô = 25.000 đồng, cho khách hưởng tiền com gấp 2 lần số tiền com hệ thống tính toán, các tài khoản AY250001; AY250002; AY250003; AY250004; AY250005; AY250006 S để cho khách giá 1 đô = 8.000 đồng và cho khách hưởng tiền com gấp 3 lần số tiền com hệ thống tính toán. Do đó, số tiền S thực tế đã trả cho L là 41.513.027 đồng. Vậy số tiền thực tế bản thân S thu lợi được từ việc tổ chức đánh bạc là 169.374.110 đồng + 231.840 đồng - 41.513.027 đồng = 128.092.923 đồng.
* Tài khoản Master AY 2501 (không nhớ hạn mức).
Lưu Hồng S tiếp tục chuyển cho đối tượng T (chưa rõ nhân thân) với giá 1 đô = 8.000 đồng, S cho T hưởng tiền com gấp 3 lần số tiền com hệ thống tính toán. Tài khoản AY2501 có tổng số tiền tham gia cá cược là 296.030 đô tương đương với số tiền 296.030 đô x 8.000 đồng = 2.368.240.000 đồng.
Vậy tổng số tiền tham gia cá cược của cả 2 tài khoản AY2500 và AY2501 là 18.753.449.000 đồng.
Đối với Trần Mạnh L, tài khoản Agent AY250000 S thông báo cho L giá 1 đô = 25.000 đồng, còn các tài khoản Agent AY250001; AY250002; AY250003; AY250004; AY250005; AY250006 S thông báo cho L để cho khách giá 1 đô = 8.000 đồng nên số tiền tham gia cá cược bóng đá tại tài khoản AY2500 đối với L là 152.691 đô x 25.000 đồng + 1.551.708 đô x 8.000 đồng = 16.230.939.000 đồng.
Quá trình điều tra, Đoàn Đức T giao nộp 01 máy tính Macbook, Trần Mạnh L giao nộp 01 điện thoại Iphone 12 Promax, Phạm Ngọc T giao nộp 01 điện thoại Samsung galaxy Fold 4 là công cụ mà các đối tượng sử dụng để tổ chức đánh bạc, đánh bạc.
Ngày 30/3/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an TPNĐ đã ra Quyết định trưng cầu giám định: Trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định phục hồi, trích xuất tất cả các dữ liệu có liên quan đến hành vi tổ chức đánh bạc, đánh bạc đối với máy tính, điện thoại đã thu giữ.
Tại bản kết luận giám định số 544/KL-KTHS ngày 28/4/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Trích xuất được 101 file văn bản có định dạng *.xls” từ máy tính của Đoàn Đức T. Ngoài ra không trích xuất, phục hồi được dữ liệu nào khác có liên quan đến hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc của các đối tượng. Các dữ liệu trích xuất được từ máy tính của Đoàn Đức T hoàn toàn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan điều tra đã thu thập được.
Đối với chiếc điện thoại mà Lưu Hồng S, Trần Văn N sử dụng để tổ chức đánh bạc, đánh bạc, đối tượng khai đã bán đi nên không thu hồi được.
Trên cơ sở tài liệu, chứng cứ thu thập được, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TPNĐ đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Đoàn Đức T, Trần Ngọc V, Lưu Hồng S về tội “Tổ chức đánh bạc” quy định tại Điều 322 Bộ luật Hình sự; đối với Trần Mạnh L, Phạm Ngọc T về tội “Đánh bạc” quy định tại Điều 321 Bộ luật Hình sự; đối với Trần Văn N về tội “Tổ chức đánh bạc” và tội “Đánh bạc” quy định tại Điều 321, 322 Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra xác định Lưu Hồng S, Trần Văn V bỏ trốn khỏi địa phương nên Cơ quan điều tra đã ra quyết định truy nã.
Ngày 14 /7/2023, Tòa án nhân dân TPNĐ đã mở phiên tòa xét xử đối với Đoàn Đức T, Phạm Ngọc T, Trần Mạnh L, Trần Văn N.
Quá trình điều tra xác định Trần Mạnh L có hành vi giúp sức cho Lưu Hồng S tổ chức đánh bạc nên ngày 27/7/2023 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an TPNĐ đã ra Quyết định khởi tố bị can số 221 đối với Trần Mạnh L về tội “Tổ chức đánh bạc”.
Ngày 03/7/2023, Lưu Hồng S đã đến Cơ quan điều tra đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi tổ chức đánh bạc của bản thân và đồng phạm. Trần Mạnh L khai nhận toàn bộ hành vi tổ chức đánh bạc của bản thân cùng Lưu Hồng S.
Bản cáo trạng số 241/CT-VKS - TPNĐ ngày 27-9-2023 Viện kiểm sát nhân dân TPNĐ truy tố Lưu Hồng S tội: “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 322 của Bộ luật Hình sự; truy tố Trần Mạnh L tội: “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm c, d khoản 2 Điều 322 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Lưu Hồng S và Trần Mạnh L đã T khẩn khai báo, ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:
Giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Lưu Hồng S và Trần Mạnh L về tội danh, điều luật như bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lưu Hồng S và Trần Mạnh L phạm tội: “Tổ chức đánh bạc”
- Về hình phạt chính:
- Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lưu Hồng S từ 05 năm 06 tháng tù đến 06 năm tù.
- Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c, d khoản 2 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 56 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Mạnh L tù đến 05 năm 03 tháng tù đến 05 năm 06 tháng tù. Tổng hợp với 03 (ba) năm tù của bản án số 149/2023/HS-ST ngày 14-7-1023 của Tòa án nhân dân TPNĐ; buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án.
- Về hình phạt bổ sung:
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 322 của Bộ luật Hình sự: Phạt bị cáo Lưu Hồng S và bị cáo Trần Mạnh L mỗi bị cáo từ 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) đến 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng) sung vào ngân sách Nhà nước.
- Về số tiền thu lợi bất chính: Đề nghị Hôi đồng xét xử căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự:
Truy thu của bị cáo Lưu Hồng S 128.092.000 đồng (một trăm hai mươi tám triệu không trăm chín mươi hai nghìn đồng); truy thu của bị cáo Trần Mạnh L 41.513.000 đồng (bốn mươi mốt triệu năm trăm mười ba nghìn đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an TPNĐ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân TPNĐ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
. Về tội danh:
Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ như: Biên bản bắt giữ người, biên bản ghi lời khai của người làm chứng, biên bản giao nhận tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử, kết luận giám định cùng các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Có đủ căn cứ xác định:
Từ ngày 20 tháng 11 năm 2022 đến ngày 28 tháng 12 năm 2022 tại địa bàn TPNĐ, Đoàn Đức T sau khi lấy được tài khoản để tham gia đánh bạc trên mạng Internet dưới hình thức cá độ bóng đá đã cấp cho một số đối tượng khác và cấp cho Lưu Hồng S 02 tài khoản là AY2500, AY2501 để cung cấp cho người chơi trực tiếp tham gia đánh bạc. Sau đó, Lưu Hồng S rủ Trần Mạnh L cùng mình tổ chức cho các đối tượng đánh bạc. S, L cùng quản lý, chịu trách nhiệm thanh toán tiền được thua với các đối tượng đánh bạc ở tài khoản AY 2500. S đã cấp 01 tài khoản cho Trần Văn N để N chia, tách T các tài khoản thấp hơn cấp cho các đối tượng đánh bạc và N cũng trực tiếp sử dụng 01 tài khoản nhỏ để đánh bạc; cấp cho Phạm Ngọc T 03 tài khoản để T trực tiếp đánh bạc; cấp cho Trần Mạnh L 01 tài khoản để L trực tiếp đánh bạc.
Trên cơ sở dữ liệu sao kê được, Cơ quan điều tra xác định Lưu Hồng S đã tổ chức cho các đối tượng đánh bạc với tổng số tiền là 18.753.449.000 đồng, thu lợi bất chính với số tiền là 128.092.923 đồng. Trần Mạnh L đã tổ chức đánh bạc cho các đối tượng đánh bạc tổng số tiền là 16.230.939.000 đồng, thu lợi bất chính số tiền là 41.513 .027 đồng.
Hành vi của bị cáo Lưu Hồng S đã phạm tội: “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại các điểm b, c khoản 2 Điều 322 của Bộ luật Hình sự; hành vi của bị cáo Trần Mạnh L phạm tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm c, d khoản 2 Điều 322 của Bộ luật Hình sự
. Về tình tiết định khung tăng nặng:
Bị cáo Lưu Hồng S sử dụng mạng Internet để thực hiện hành vi tổ chức đánh bạc và đã thu lợi bất chính từ hành vi tổ chức đánh bạc với tổng số tiền là 128.092.923 đồng. Hành vi “tổ chức đánh bạc” của bị cáo đã cấu T tình tiết định khung tăng nặng quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 322 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Trần Mạnh L đã sử dụng mạng Internet để thực hiện hành vi tổ chức đánh bạc và đã thu lợi bất chính từ hành vi tổ chức đánh bạc với tổng số tiền là 41.513 .027 đồng. Bị cáo đã bị kết án về tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, chưa được xóa án tích, lần này bị cáo thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng nên hành vi “tổ chức đánh bạc” của bị cáo đã cấu T tình tiết định khung tăng nặng quy định tại điểm c, d khoản 2 Điều 322 của Bộ luật Hình sự.
. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:
4.1. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo Lưu Hồng S và Trần Mạnh L không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
4.2. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo có thái độ T khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội; sau khi phạm tội bị cáo Trần Mạnh L đã ra đầu thú khai nhận hành vi phạm tội; sau khi bỏ trốn bị cáo Lưu Hồng S đã ra đầu thú khai nhận hành vi phạm tội; vì vậy các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
4.3. Về hình phạt chính:
Trên cơ sở xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, đối chiếu với các quy định của Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự an toàn công cộng, nếp sống văn minh. Hiện nay việc sử dụng mạng Internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để tổ chức đánh bạc và đánh bạc là vấn nạn được xã hội quan tâm. Việc đưa các bị cáo ra xét xử và ấn định mức hình phạt tù có thời hạn trong khung đã truy tố cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục các bị cáo và góp phần phòng ngừa tội phạm nói chung trên địa bàn T phố.
Trong vụ án này bị cáo Lưu Hồng S và Trần Mạnh L cùng thống nhất thực hiện hành vi tìm người chơi cá độ bóng đá, bị cáo L có trách nhiệm thanh toán số tiền thắng, thua của người chơi tại tài khoản cá độ bóng đá sau đó S và L thông báo cho nhau số tiền được, thua để thanh toán cho nhau, vì vậy xác định Lưu Hồng S và Trần Mạnh L đồng phạm.
Xét vai trò của các bị cáo:
- Bị cáo Lưu Hồng S là người chủ động rủ bị cáo Trần Mạnh L cùng mình thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo S đã lấy 2 tài khoản quản lý cấp Master từ Đoàn Đức T sau đó S đã chia T nhiều tài khoản quản lý, tài khoản cá độ bóng đá cấp thấp hơn cùng đồng bọn tổ chức thực hiện hành vi: “Tổ chức đánh bạc” cho nhiều người khác. Bị cáo là người tổ chức đánh bạc với số tiền cược và thu lợi bất chính nhiều hơn so với bị cáo Trần Mạnh L nên xếp bị cáo vai trò đầu trong vụ án này. Bị cáo có nhân thân xấu, vì vậy cần ấn định mức hình phạt của bị cáo cao hơn so với bị cáo Trần Mạnh L.
Bị cáo Trần Mạnh L thực hiện hành vi phạm tội với vai trò đồng phạm giúp sức tích cực cùng với bị cáo Lưu Hồng S. Bị cáo chịu trách nhiệm cùng bị cáo S đi tìm người chơi và bị cáo phải thanh toán 25% số tiền thắng, thua của người chơi từ tài khoản Master AY2500 cho S và thu lợi số tiền ít hơn so với bị cáo Lưu Hồng S. Vì vậy xếp vị cáo Trần Mạnh L vai trò sau bị cáo Lưu Hồng S. Về hình phạt, cần ấn định mức hình phạt của bị cáo thấp hơn so với bị cáo Lưu Hồng S. Bị cáo đang chấp hành hình phạt của bản án số 149/2023/HS-ST ngày 14-7-2023 của Tòa án nhân dân TPNĐ và bị đưa ra xét xử về tội đã phạm trước khi có bản án này, vì vậy bị cáo phải chịu tổng hợp hình phạt của nhiều bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
4.4. Về hình phạt bổ sung:
Xét bị cáo Lưu Hồng S và bị cáo Trần Mạnh L có hành vi “tổ chức đánh bạc” thu lời bất chính, để tăng cường tính răn đe và phòng ngừa chung cần phạt các bị cáo một khoản tiền nhất định sung vào ngân sách Nhà nước. Xét các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên ấn định mức tiền phạt ở mức thấp theo quy định của pháp luật.
Về xử lý vật chứng:
Đối với chiếc điện thoại Iphone X màu trắng Lưu Hồng S sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội bị cáo khai nhận đã bán cho người không quen biết nên không có khả năng thu hồi.
Đối với chiếc điện thoại Iphone 12 promax bị cáo Trần Mạnh L sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội đã được xử lý theo bản án số 149/2023/HS-ST ngày 14-7-2023 của Tòa án nhân dân TPNĐ.
. Về số tiền thu lợi bất chính:
Số tiền các bị cáo thu lợi bất chính từ hành vi tổ chức đánh bạc cụ thể: Bị cáo Lưu Hồng S thu lợi bất chính 128.092.923 đồng; bị cáo Trần Mạnh L thu lợi bất chính 42.513.027 đồng. Số tiền này các bị cáo chưa nộp lại. Xét đây là tiền do các bị cáo phạm tội mà có nên truy thu của các bị cáo để sung vào ngân sách Nhà nước theo quy định của pháp luật.
Án phí Hình sự sơ thẩm: Các bị cáo Lưu Hồng S, Trần Mạnh L bị kết án nên phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Lưu Hồng S và bị cáo Trần Mạnh L phạm tội: “Tổ chức đánh bạc”.
2. Căn cứ điểm b, c khoản 2; khoản 3 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:
- Xử phạt bị cáo Lưu Hồng S 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 03-7-2023.
- Phạt bị cáo Lưu Hồng S 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) sung vào ngân sách Nhà nước.
3. Căn cứ điểm c, d khoản 2; khoản 3 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 56 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Trần Mạnh L 05 (năm) năm 03 (ba) tháng tù. Tổng hợp với 03 (ba) năm tù của bản án số 149/2023/HS-ST ngày 14-7-2023 của Tòa án nhân dân TPNĐ, buộc bị cáo Trần Mạnh L phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 08 (tám) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29-12-2022.
- Phạt bị cáo Trần Mạnh L 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) sung vào ngân sách Nhà nước.
4. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự:
Truy thu của bị cáo Lưu Hồng S 128.093.000 đồng (một trăm hai mươi tám triệu không trăm chín mươi ba nghìn đồng) (đã làm tròn số) sung vào ngân sách Nhà nước.
- Truy thu của bị cáo Trần Mạnh L 41.513.000 đồng (bốn mươi mốt triệu năm trăm mười ba nghìn đồng) (đã làm tròn số) sung vào ngân sách Nhà nước.
5. Về án phí Hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội:
Các bị cáo Lưu Hồng S và Trần Mạnh L mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
6. Các bị cáo Lưu Hồng S và Trần Mạnh L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án Dân sự: Các bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 9 của Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các bị cáo; - Toà án nhân dân tỉnh Nam Định; - Viện kiểm sát nhân dân TPNĐ; - Chi cục Thi hành án dân sự TPNĐ; - Công an TPNĐ; - Lưu Hồ sơ vụ án; - Lưu VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phạm Thị Mai Anh |