vanban.org

Bản án 247/2018/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 03/08/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 03/08/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Bùi Bích P, Trần Quốc S - Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 16/2018/HSST ngày 14 tháng 5 năm 2018 của Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk. Xử phạt Bùi Bích P 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "BÙI BÍCH P VÀ ĐB - phạm tội đánh bạc (điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
  • Căn cứ chính? Điều 248 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 247/2018/HS-PT
Ngày 03-8-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Doãn Đình Quyến.

Các Thẩm phán: Ông Y Thông Kbuôr.

Bà Lưu Thị Thu Hường.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Khắc Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Dương Văn Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 203/2018/TLPT-HS ngày 22 tháng 6 năm 2018 đối với các bị cáo Bùi Bích P, Trần Quốc S phạm tội “Đánh bạc” do có kháng cáo của các bị cáo Bùi Bích P, Trần Quốc S đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2018/HSST ngày 14 tháng 5 năm 2018 của Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk.

Các bị cáo có kháng cáo:

1. Họ và tên: BÙI BÍCH P, sinh năm 1959, tại tỉnh Đắk Lắk;

Nơi cư trú: Đường D, tổ dân phố H1, phường T, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi C (đã chết) và bà Bùi Thị H (đã chết); có chồng Trần Quốc S (là bị cáo trong cùng vụ án) và 01 con sinh năm 2001; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tại Bản án số 90/HSST ngày 17/7/2000 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xử phạt bị cáo 04 tháng tù về tội “Đánh bạc”, tổng hợp hình phạt 03 tháng tù của Bản số 07/HSST ngày 27/12/1999 của Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 07 tháng tù. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt và đã được xóa án tích.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 30/9/2017 đến ngày 09/10/2017 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: TRẦN QUỐC S, sinh năm 1967, tại tỉnh Đắk Lắk;

Nơi cư trú: Đường D, tổ dân phố H 1, phường T, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Minh H (đã chết) và bà Nguyễn Thị V; có vợ Bùi Bích P (là bị cáo trong cùng vụ án) và có 01 con sinh năm 2001; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tại Bản án số 90/HSST ngày 17/7/2000 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xử phạt bị cáo 12 tháng tù về tội đánh bạc, tổng hợp hình phạt của bản số 07/HSST ngày 27/12/1999 của Tòa án nhân dân huyện Krông Năng xử phạt bị cáo 15 tháng tù giam về tội “Đánh bạc”, bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 2 bản án là 27 tháng tù. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt và đã được xóa án tích; Tại Bản án số 02/2009/HSST ngày 14/5/2009 của Toà án nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk xử phạt số tiền 2.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” bị cáo đã chấp hành xong hình phạt và đã được xóa án tích.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/9/2017 đến ngày 28/11/2017 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cho bảo lĩnh”, có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra trong vụ án này còn có các bị cáo Phạm Thị H, Trần Thị Thanh B, Hoàng Nguyễn Ngọc Q, Nguyễn Trung H2, Trần Đức N, Nguyễn Ngọc D, Nguyễn Quang Đ, Phan Hữu T, Nguyễn Xuân H, Hoàng Anh Q2, Nguyễn Thị Kim T1, Trần Văn Đ, Nguyễn Thị Thanh H3, Nguyễn Thị B, Nguyễn Vũ Thái Đ2, nhưng không có kháng cáo và không bị kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng tháng 3 năm 2017, để nhằm mục đích thu lợi bất chính Phạm Thị H và Trần Thị Thanh B (là con gái của H) đã cùng đứng ra tổ chức cho các đối tượng đánh bạc trái phép dưới hình thức xóc đĩa chẵn lẽ được thua bằng tiền tại sân xi măng sau nhà mình để H thu tiền xâu và B đứng ra bán nước giải khát nhằm lôi kéo các đối tượng đến tham giam đánh bạc; sau đó H chuẩn bị chiếu, chăn, đĩa và 04 con vị được cắt ra từ lá bài tú lơ khơ làm công cụ đánh bạc, B chuẩn bị nước giải khát để phục vụ việc tổ chức đánh bạc.

Biết được nhà H thường hay tổ chức đánh bạc dưới hình thức xóc đĩa. Nên vào khoảng 15 giờ 30 ngày 29/9/2017, Trần Quốc S điều khiển xe mô tô biển số 47K4 - 9170 và vợ Bùi Bích P điều khiển xe mô tô biển số 47L8 - 0796; Phan Hữu T điều khiển xe mô tô biển số 47C1 - 077.74 (xe này T mượn của anh Trịnh Duy L); Hoàng Nguyễn Ngọc Q điều khiển xe mô tô biển số 47K6 - 2558 (xe này Q mượn của bị cáo Phan Hữu T); Nguyễn Quang Đ đi bộ một mình đến; Nguyễn Trung H2 điều khiển xe mô tô biển số 47 - 837HU và Trần Văn Đ điều khiển xe mô tô biển số 47K1-9513 (xe này Đ mượn của chị Trần Thị Lệ U); đi đến nhà H để đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức xóc đĩa chẵn lẻ. Thấy mọi người đến H mang chiếu, chăn ra trải lên nền xi măng phía sau nhà để cho các con bạc đánh bạc. Lúc này, Nguyễn Vũ Thái Đ2 có mặt tại nhà H, thấy vậy, lấy chén đĩa và 04 con vị được cắt ra từ lá tú lơ khơ để sẵn ở góc nhà của H bỏ lên chiếu; sau đó, Phan Hữu T đến ngồi vào chiếu cầm cái xóc để S, P, Q2, Đ3, H2, Đ đặt cược. Tiếp đó, Nguyễn Xuân H4 điều khiển xe mô tô biển số 47P2-0322; Nguyễn Ngọc D điều khiển xe mô tô biển số 47-715F7; Trần Đức N điều khiển xe mô tô biển số 47L8-4778 (xe này N mượn cuả ông Trần Xuân C); Nguyễn Thị Kim T1, điều khiển xe mô tô biển số 47R1-2387 (xe này T1 mượn của ông Nguyễn Đình T2); Hoàng Anh Q, điều khiển xe mô tô biển số 47AB-381.69 (xe này Q mượn của chị Hoàng Thị Khánh V là em ruột); Nguyễn Thị B và Nguyễn Thị Thanh H3 cũng đi bộ đến nhà của H để cùng tham gia đánh bạc. S và T thay nhau cầm cái xóc để các con bạc đặt tiền cược, người đạt tiền cược ván ít nhất là 50.000 đồng ván nhiều nhất là 500.000 đồng, những người đi đến tham gia đánh bạc tự đóng tiền xâu cho H mỗi người từ 20.000 đồng đến 50.000 đồng.

Khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, trong lúc các đối tượng đang đánh bạc thì bị lực lượng cảnh sát điều tra về tội phạm trật tự xã hội (PC45) Công an tỉnh Đắk Lắk phối hợp với cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Buôn Hồ và Công an phường Thống Nhất phát hiện bắt quả tang.

Quá trình điều tra các bị cáo Bùi Bích P, Trần Quốc S khai nhận đã sử dụng số tiền vào mục đích đánh bạc như sau:

Bùi Bích P khi đi đánh bạc mang theo 950.000 đồng, đưa cho chồng là Trần Quốc S 200.000 đồng, còn 750.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc. Khi T cầm cái P đặt cược 01 ván 50.000 đồng, đang chờ kết quả thì bị bắt quả tang, còn 700.000 đồng trên người bị thu giữ.

Trần Quốc S khi đi đánh bạc không mang theo tiền, khi đến sòng bạc thấy vợ là Bùi Bích P tham gia đánh bạc S lấy của P 200.000 đồng để đánh bạc; đặt cược nhiều ván, có ván thắng, ván thua; đã đóng tiền xâu cho H 50.000 đồng khi bị bắt quả tang thua hết tiền.

Vật chứng của vụ án Cơ quan điều tra thu giữ bao gồm:

Thu trên chiếu bạc số tiền 9.220.000 đồng; 01 tấm chiếu nhựa nhiều màu sắc kích thước (1,6 x 02) m; 01 đĩa sứ màu trắng có nhiều hoa văn và 04 con vị hình tròn đường kính 1,5 cm được cắt từ lá bài tú lơ khơ, một tờ giấy học sinh ghi nhiều chữ và số. Thu trên người của các bị cáo số tiền 8.240.000 đồng.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 16/2018/HSST ngày 14/05/2018 của Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk đã quyết định: Tuyên bố các bị cáo Bùi Bích P, Trần Quốc S phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 248, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự.

- Xử phạt Bùi Bích P 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Bị cáo được khấu trừ thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 30/9/2017 đến ngày 09/10/2017.

- Xử phạt Trần Quốc S 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Bị cáo được khấu trừ thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/9/2017 đến ngày 28/11/2017.

Ngoài ra án sơ thẩm còn xử lý về xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo của các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Ngày 21-5-2018, các bị cáo Bùi Bích P và bị cáo Trần Quốc S có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và cho các bị cáo được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Bùi Bích P và bị cáo Trần Quốc S vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo và đã khai nhận toàn bộ hành vi mà bị cáo đã thực hiện đúng như nội dung vụ án đã được tóm tắt nêu trên.

Quá trình tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo Bùi Bích P và Trần Quốc S về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999 là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Về mức hình phạt 06 (Sáu) tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt đối với các bị cáo Bùi Bích P và mức hình phạt 04 (bốn) tháng tù đối với bị cáo Trần Quốc S là thoả đáng, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo. Các bị cáo có nhân thân xấu là đã từng bị xử phạt về tội đánh bạc. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 không chấp nhận đơn kháng cáo của các bị cáo Bùi Bích P và Trần Quốc S giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận, bào chữa gì và chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho các bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai của các bị cáo Bùi Bích P, Trần Quốc S tại phiên toà phúc thẩm là phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 29/9/2017, Phạm Thị H cùng với Trần Thị Thanh B đã có hành vi tổ chức cho các đối tượng Hoàng Nguyễn Ngọc Q, Nguyễn Trung H, Trần Đức N, Nguyễn Ngọc D, Nguyễn Quang Đ, Phan Hữu T, Bùi Bích P, Nguyễn Xuân H, Hoàng Anh Q, Trần Quốc S, Nguyễn Thị Kim T, Trần Văn Đ, Nguyễn Thị Thanh H, Nguyễn Thị B và Nguyễn Vũ Thái Đ tham gia đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức xóc đĩa tại sân nhà bị cáo H thuộc tổ dân phố H 4, phường T, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk. Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày khi các đối tượng đang đánh bạc thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk phối hợp với Cơ quan điều tra Công an thị xã Buôn Hồ và Công an phường T phát hiện bắt quả tang thu giữ cùng tang vật liên quan đến vụ án. Số tiền thu giữ tại chiếu bạc là 9.220.000đ, số tiền thu trên người các bị cáo là 8.240.000đ. Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo Bùi Bích P, Trần Quốc S về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999 là có căn cứ, đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đối với kháng cáo của các bị cáo Bùi Bích P, Trần Quốc S, Hội đồng xét xử xét thấy mức hình phạt mà Toà án cấp sơ thẩm đã xử phạt các bị cáo Bùi Bích P, Trần Quốc S là thỏa đáng, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo. Khi xét xử sơ thẩm, Toà án đã xem xét, nhận định, đánh giá, phân tích và áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà các bị cáo được hưởng. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo không cung cấp thêm được tình tiết giảm nhẹ nào mới. Đồng thời, các bị cáo đều là những người có nhân thân xấu đã từng bị xử phạt về tội đánh bạc, không lấy đó làm bài học cho bản thân mà còn tiếp tục phạm tội. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm không có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Bùi Bích P, Trần Quốc S mà cần giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt đối với các bị cáo.

Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận, nên các bị cáo Bùi Bích P, Trần Quốc S phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Bùi Bích P, Trần Quốc S - Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 16/2018/HSST ngày 14 tháng 5 năm 2018 của Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk.

Căn cứ khoản 1 Điều 248, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999.

Xử phạt Bùi Bích P 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Bị cáo được khấu trừ thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 30/9/2017 đến ngày 09/10/2017.

Xử phạt Trần Quốc S 04 (bốn) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Bị cáo được khấu trừ thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/9/2017 đến ngày 28/11/2017.

[2] Về án phí: Các bị cáo Bùi Bích P, Trần Quốc S mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí Hình sự phúc thẩm.

[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ