vanban.org

Bản án 246/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và mức hình phạt:

Xử phạt bị cáo Vũ Thanh P 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù được tính từ ngày 23/10/2025. Xử phạt bị cáo Trương Ngọc Vũ B 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù được tính từ ngày 23/10/2025… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương N V B + ĐP - Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy - tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và mức hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 18
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 246/2026/HS-ST
Ngày: 19-8-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 18 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Nhung.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thanh Nga;

2. Bà Nguyễn Thị Kim Hiền.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hương Giang – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 18 – Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 18 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vui – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 18 – Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 251/2026/TLST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 283/2026/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 8 năm 2026, đối với các bị cáo:

1. Vũ Thanh P, sinh năm 1993 tại tỉnh Đắk Lắk; căn cước công dân số: 066093019429; địa chỉ thường trú: Tổ dân phố B, phường B, tỉnh Đắk Lắk; chỗ ở: Phòng T3, nhà T, đường N, khu phố C, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh); nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 4/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Vũ Trọng T, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị P1, sinh năm 1968; có 03 chị em, lớn nhất sinh năm 1991, nhỏ nhất sinh năm 1995; có 02 con, lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2016.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giam từ ngày 23/10/2025 cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Trương Ngọc Vũ B, sinh năm 1984 tại tỉnh Vĩnh Long; căn cước công dân số: 086084000454; địa chỉ thường trú: Ấp T, xã H, tỉnh Vĩnh Long; chỗ ở: Không nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: Không; ; trình độ học vấn: 0/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Trương Ngọc Đ (đã chết) và bà Lâm Thị T1, sinh năm 1949; có 03 chị em, lớn nhất sinh năm 1971, nhỏ nhất sinh năm 1985.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giam từ ngày 23/10/2025 cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Các bị cáo Vũ Thanh P và Trương Ngọc Vũ B có mối quan hệ quen biết, đều là đối tượng nghiện ma túy loại Methamphetamine. Từ ngày 13/9/2025 đến ngày 07/10/2025, P và B đã 03 lần có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, cụ thể như sau:

- Lần thứ nhất: Ngày 13/9/2025, B đi bộ đến phòng trọ số 01 nhà trọ Nguyễn Thị M, cạnh đường N thuộc khu phố C, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh của P thuê ở cùng Nông Thị H (sinh năm 1992, địa chỉ thường trú: Thôn A, xã E, tỉnh Đắk Lắk). Tại đây, B rủ P mua ma túy đá đem về cùng nhau sử dụng thì P đồng ý. Sau đó, B đưa 300.000 đồng cho P đi mua ma túy. P sử dụng điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A12 gọi điện thoại qua mạng xã hội Z hỏi mua 300.000 đồng ma túy đá của người tên “Heo” (không rõ lai lịch), thì “Heo” đồng ý bán. Sau đó, người tên “H1” đi đến phòng trọ số 01 nhà trọ Nguyễn Thị M bán 01 đoạn ống hút hàn kín chứa ma túy đá với giá 300.000 đồng cho P. Sau đó, P lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy ra, còn B lấy ma túy đá đổ vào bộ dụng cụ. P sử dụng bật lửa đốt ma túy đá trong bộ dụng cụ để sử dụng ma túy cùng B. Sau khi P và B sử dụng ma túy xong, B lấy bộ dụng cụ sử dụng ma tuý cất giấu dưới ghế trong phòng trọ.

- Lần thứ hai: Ngày 16/9/2025, B đi bộ đến phòng trọ số 01 nhà trọ Nguyễn Thị M. Tại đây, B tiếp tục rủ P mua ma túy đá đem về cùng nhau sử dụng nhưng do P mệt nên đồng ý mua hộ ma túy cho B sử dụng. Sau đó, B đưa 200.000 đồng cho P đi mua ma túy. P sử dụng điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A12 gọi điện thoại qua mạng xã hội Z hỏi mua 200.000 đồng ma túy đá của người tên “Ba Tép” (không rõ lai lịch) thì “Ba Tép” đồng ý bán. Sau đó, người tên “Ba T2” đi đến phòng trọ số 01 nhà trọ Nguyễn Thị M bán 01 đoạn ống hút hàn kín chứa ma túy đá với giá 200.000 đồng cho P. Sau đó, P đưa ma túy vừa mua được và 01 ống thủy tinh uốn cong đã bị bể mẻ cho B. Sau đó, B đi bộ về chòi tạm của B, cạnh đường NL10 thuộc khu phố C, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. Tại đây, Bé chế tạo bộ dụng cụ sử dụng ma túy rồi đổ ma túy đá vào bộ D sử dụng hết ma túy mua được.

- Lần thứ ba: Khoảng 10 giờ, ngày 07/10/2025, B đi bộ đến phòng trọ của P. Tại đây, B rủ P mua ma túy đá đem về cùng nhau sử dụng thì P đồng ý. Sau đó, B đưa 200.000 đồng cho P đi mua ma túy. P sử dụng điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A12 gọi điện thoại qua mạng xã hội Z hỏi mua 200.000 đồng ma túy đá của người đàn ông (không rõ lai lịch) thì người đàn ông đồng ý bán và hẹn P đi đến đoạn đường NL10 thuộc khu phố C, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh để bán ma túy. Sau đó, P đi đến điểm hẹn mua được 01 đoạn ống hút hàn kín chứa ma túy đá với giá 200.000 đồng của người đàn ông. Sau đó, P đem ma túy mua được về phòng trọ số 01 nhà trọ Nguyễn Thị M. Tại đây, P lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy ra, còn B lấy ma túy đá đổ vào bộ dụng cụ. P sử dụng bật lửa đốt ma túy đá trong bộ dụng cụ để sử dụng ma túy cùng B. Sau khi P và B sử dụng ma túy xong, B lấy bộ dụng cụ sử dụng ma tuý cất giấu dưới ghế trong phòng trọ.

Đến khoảng 11 giờ ngày 13/10/2025, lực lượng Công an phường T kiểm tra hành chính phòng trọ số 01 nhà trọ Nguyễn Thị M, phát hiện Vũ Thanh P có biểu hiện nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy nên tiến hành kiểm tra phát hiện 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 chai nước hiệu DrThanh màu đỏ, trên nắp nhựa màu đỏ đục 02 lỗ, 01 lỗ gắn ống hút màu đen, 01 lỗ gắn 01 nỏ thủy tinh bám dính chất màu đen cất giấu trong phòng trọ nên mời P về Công an phường T làm việc. Tại đây, P khai nhận Bé đã 03 lần đưa tiền cho P mua ma túy đá. Trong đó 02 lần P và B cùng nhau sử dụng.

Vật chứng thu giữ gồm:

- 01 Bộ dụng cụ sử dụng ma túy, gồm: 01 Chai nước hiệu DrThanh màu đỏ, trên nắp nhựa màu đỏ đục 02 lỗ, 01 lỗ gắn ống hút màu đen, 01 lỗ gắn 01 nỏ thủy tinh bám dính chất màu đen của P.

- 01 Điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A12, số IMEI1: 357026895757551, số IMEI2: 357412785757556 của P.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H, P và B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của P và B phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Theo Kết luận giám định số 7994/KL-KTHS ngày 22/10/2025 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận: Mẫu nước tiểu của Vũ Thanh P gửi giám định có thành phần ma tuý, loại Methamphetamine. Mẫu nước tiểu của Trương Ngọc Vũ B, gửi giám định, tìm không thấy loại ma túy thường gặp trong Danh mục chất ma túy (theo Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất). Mẫu vật đã phục vụ hết cho công tác giám định.

Theo Kết luận giám định số 8198/KL-KTHS ngày 25/10/2025 của Phòng K Công an Thành phố H, kết luận: Mẫu chất bám dính màu đen (bị thu giữ), gửi giám định là ma tuý, loại Methamphetamine, không xác định được khối lượng/trọng lượng. Mẫu vật sau giám định được niêm phong: 01 nỏ thủy tinh.

Tại bản Cáo trạng số 115/CT-VKSHCM-kv ngày 02/7/2026 của Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 18 – Thành phố Hồ Chí Minh truy tố các bị cáo Vũ Thanh P và Trương Ngọc Vũ B về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 18 – Thành phố Hồ Chí Minh trong phần tranh luận tại phiên tòa, giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

+ Xử phạt bị cáo Trương Ngọc Vũ B mức án từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù.

+ Xử phạt bị cáo Vũ Thanh P mức án từ 07 năm 03 tháng đến 07 năm 06 tháng tù.

- Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên: Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A12 thu giữ của bị cáo P và tịch thu tiêu hủy 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy thu giữ của bị cáo P.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi đúng như nội dung Cáo trạng truy tố, có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

Các bị cáo không bào chữa, không có tranh luận gì với Đại diện Viện Kiểm sát. Các bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra, điều tra viên; viện kiểm sát nhân dân, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã đảm bảo thực hiện đúng và đầy đủ.

Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy đã có đủ cở sở để kết luận:

Từ ngày 13/9/2025 đến ngày 07/10/2025, bị cáo Trương Ngọc Vũ B đã 02 lần có hành vi rủ và đưa tiền cho bị cáo Vũ Thanh P mua ma túy đá loại Methamphetamine đem về phòng trọ số 01 nhà trọ Nguyễn Thị M, cạnh đường N thuộc khu phố C, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh của P thuê ở rồi cùng nhau sử dụng.

Ngoài ra, bị cáo P còn 01 lần mua ma túy giúp bị cáo B để B mang về phòng trọ của B sử dụng một mình.

Xét các bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Về nhận thức, các bị cáo hoàn toàn biết ma tuý là loại độc dược gây nghiện do Nhà nước độc quyền quản lý, nghiêm cấm các hoạt động sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển, sử dụng trái phép. Nhưng vì mục đích thỏa mãn cơn nghiện của bản thân nên các bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội, bất chấp hậu quả.

Hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của các bị cáo Vũ Thanh P và Trương Ngọc Vũ B là nguy hiểm cho xã hội. Ma túy là một loại chất độc gây ra tác hại rất lớn về nhiều mặt cho xã hội, làm ảnh hưởng đến sức khỏe của con người và cũng là mầm mống lan truyền căn bệnh của xã hội như HIV,... Ma túy còn là nguyên nhân dẫn đến những loại tội phạm khác.

Hành vi của các bị cáo Vũ Thanh P và Trương Ngọc Vũ B đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

Như vậy, bản Cáo trạng số 115/CT-VKSHCM-kv ngày 02/7/2026 của Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 18 – Thành phố Hồ Chí Minh và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố đối với các bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các bị cáo đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

Áp dụng quy định tại Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xét về tính chất và mức độ tham gia phạm tội của từng bị cáo: Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với vai trò đồng phạm giản đơn. Trong đó, bị cáo B là người đề xuất với bị cáo P về việc mua ma túy để sử dụng, bị cáo B đưa tiền cho bị cáo P đi mua ma túy; bị cáo P là người liên lạc với người bán ma túy, trực tiếp đi mua ma túy, chuẩn bị bộ dụng cụ sử dụng ma túy và tổ chức sử dụng ma túy tại địa điểm là phòng trọ của bị cáo P. Ngoài ra P còn có 01 lần đi mua ma túy đưa cho bị cáo B và cung cấp bộ dụng cụ sử dụng ma túy cho bị cáo B sử dụng. Do đó xét về tính chất và mức độ tham gia phạm tội của 02 bị cáo này là ngang nhau.

Do đó, Hội đồng xét xử cần xử phạt các bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo nhằm cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục cho các bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.

Như đã phân tích ở trên, về tính chất và mức độ tham gia phạm tội của 02 bị cáo là ngang nhau nên đại diện Viện Kiểm sát đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo B cao hơn mức hình phạt đối với bị cáo P là chưa phù hợp. Về các nội dung khác theo đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát là phù hợp và có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với 02 đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo P tên gọi là “Heo” và “Ba Tép” chưa rõ lai lịch cụ thể, kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H tiếp tục điều tra, làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy thu giữ của bị cáo P là công cụ phạm tội không có giá trị sử dụng, cần áp dụng quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự để tuyên tịch thu và tiêu hủy.

Đối với 01 Điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A12 thu giữ của bị cáo P, là phương tiện liên lạc phục vụ cho việc phạm tội, cần áp dụng quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a, c khoản 2 Điều 106, Điều 136, Điều 260, khoản 1 Điều 268, Điều 269 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Căn cứ khoản 1 Điều 21, khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh và mức hình phạt:

- Xử phạt bị cáo Vũ Thanh P 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù được tính từ ngày 23/10/2025.

- Xử phạt bị cáo Trương Ngọc Vũ B 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù được tính từ ngày 23/10/2025.

2. Về xử lý vật chứng:

- Tuyên tịch thu và tiêu hủy: 01 Bộ dụng cụ sử dụng ma túy, gồm: 01 Chai nước hiệu DrThanh màu đỏ, trên nắp nhựa màu đỏ đục 02 lỗ, 01 lỗ gắn ống hút màu đen, 01 lỗ gắn 01 nỏ thủy tinh bám dính chất màu đen thu giữ của bị cáo P.

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 Điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A12, số IMEI1: 357026895757551, số IMEI2: 357412785757556 thu giữ của bị cáo P.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án./.

Cỡ chữ