vanban.org

Bản án 245/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 18/09/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Bành Minh T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý: Xử phạt bị cáo Bành Minh T 07 (bảy) năm tù.

Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Về xử lý vật chứng: Các vật chứng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ gồm: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý - tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bành Minh T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý: Xử phạt bị cáo Bành Minh T 07 (bảy) năm tù.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 255 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 11 - TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 245/2026/HS-ST
Ngày: 18-9-2026
NINH

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hoàng Yến

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Vũ Hòa ;

2/ Bà Nguyễn Thị Kim Đào.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lâm Thành Đạt, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 11 – Tây Ninh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11- Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Minh Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 224/2026/HSST ngày 19 tháng 8 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 262/2026/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 9 năm 2026 đối với bị cáo:

Họ và tên: Bành Minh T, sinh ngày 04/11/1993, tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: Ấp P, xã D, tỉnh Tây Ninh; nơi ở hiện tại: Ấp P, xã D, tỉnh Tây Ninh; số CCCD: xxxxxxxxxxxx; nghề nghiệp: tài xế; trình độ học vấn: 11/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: Nam; con ông Bành Văn S (đã chết) và bà Thái Ngọc Đ (đã chết); có vợ tên Nguyễn Thị Thanh V, sinh năm 1996; Con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không có.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/5/2026, chuyển sang tạm giam ngày 29/5/2026 đến nay tại Phân trại tạm giam T, Trại tạm giam số 1 - Công an tỉnh T.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa; nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bành Minh T và Đào Thị Kim T1, sinh năm 1998 có mối quan hệ tình cảm với nhau. Tháng 3/2026, T đến nhà trọ cho thuê tháng “Cường Phát” tại ấp P, xã D, tỉnh Tây Ninh do anh Châu Văn P, sinh năm 1990 làm chủ thuê Phòng trọ số 5 để ở đi làm thuê. Trong khoảng thời gian này, T đã tổ chức cho T1 sử dụng trái phép chất ma túy 02 lần, cụ thể:

- Lần thứ nhất: Sáng ngày 19/5/2026, T đến khu vực đồng ruộng (gần cây xăng “T" trên đường Đ thuộc ấp P, xã D, tỉnh Tây Ninh tìm gặp người đàn ông (không rõ họ tên, nhân thân), do người này lớn tuổi hơn nên T gọi là “Anh” mua 200.000 đồng ma tuý. Khi có ma tuý, T mang về phòng trọ, rồi lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy của T có sẵn trong phòng ra, đổ ma tuý vào nỏ thủy tinh và dùng hột quẹt đốt ma tuý lên hút trước, sau đó đưa T1 hút, cả 2 thay phiên nhau hút được 2 lượt thì nghỉ; T mang bộ dụng cụ sử dụng ma túy cất giấu vào góc phòng, số ma tuý còn lại trong bịch nylon T cất giữ trong người.

- Lần thứ hai: Khoảng 19 giờ ngày 20/5/2026, T tiếp tục lấy bộ dụng cụ sử dụng ma tuý để phòng ra rồi lấy ma túy còn lại trong bịch nylon mua vào ngày 19/5/2026 chưa sử dụng hết, đổ vào nỏ thủy tinh đốt lên sử dụng trước, sau đó đưa T1 sử dụng, cả 2 sử dụng mỗi người được 2 lượt thì Công an đến kiểm tra phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng có liên quan.

Ngoài ra, T còn khai nhiều lần khác tổ chức cho T1 sử dụng nhưng không nhớ cụ thể thời gian.

* Phiếu xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể ngày 20/5/2026 đối với Bành Minh T và Đào Thị Kim T1, kết luận: dương tính với chất ma túy, loại Methamphetamine.

* Phiếu xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể ngày 20/5/2026 đối với Đào Thị Kim T1, kết luận: dương tính với chất ma túy.

* Kết luận giám định số 1725/KL-KTHS, ngày 27/5/2026 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Mẫu chất rắn màu trắng, nâu, đầu ống thủy tinh còn lại được gắn ống hút nhựa màu trắng (ký hiệu M1) gửi đến giám định là chất ma túy; Loại Methamphetamine; Khối lượng 0,0029 gam.

Quá trình điều tra, Bành Minh T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và xử lý vật chứng: Có bảng kê kèm theo.

Qua xác minh thể hiện: Bành Minh T không có tài sản nên không tiến hành kê biên.

Tại Bản cáo trạng số: 130/CT–VKSTNH-KV ngày 18 tháng 8 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân khu vực 11- Tây Ninh đã truy tố bị cáo Bành Minh T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”, quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự;

Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Tây Ninh giữ quyền công tố tại phiên tòa, trong phần tranh luận đã giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Bành Minh T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 255; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo T từ 07 năm đến 08 năm tù.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Đối với Đào Thị Kim T1 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhưng đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, Công an xã D đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng

Đối với người đàn ông không rõ nhân thân, bán ma túy cho Bành Minh T để tổ chức sử dụng, do không xác định được nhân thân, lai lịch nên chưa làm việc được, khi nào xác định làm việc được xử lý sau.

Đối với cơ sở kinh doanh nhà trọ “Cường Phát” do Châu Văn P làm chủ, không biết việc Bành Minh T dùng phò trọ cho thuê để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cũng như việc cho thuê có đăng bản nội quy không được sử dụng chất cấm...nên không xem xét xử lý vi phạm hành chính về quản lý ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự là có căn cứ đúng quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Trong lời nói sau cùng của bị cáo: Trong thời gian tạm giam bị cáo đã ăn năn về hành vi phạm tội của mình nên xin giảm nhẹ hình phạt để sớm về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11- Tây Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định:

Vào các ngày 19, 20/5/2026, tại Phòng trọ số E, nhà trọ cho thuê tháng “Cường Phát” trên địa phận ấp P, xã D, tỉnh Tây Ninh, bị cáo Bành Minh T đã mua ma tuý và 02 lần tổ chức cho Đào Thị Kim T1 sử dụng trái phép chất ma túy loại Methamphetamine, với khối lượng thu giữ là 0,0029 gam thì bị phát hiện. Hành vi của bị cáo T đủ yếu tố cấu thành về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Do đó, bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11- Tây Ninh truy tố bị cáo T tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” là có căn cứ.

Bị cáo đã thực hiện hành vi là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước. Bản thân bị cáo biết được tác hại của ma túy đối với sức khỏe, tốn kém tiền bạc, tài sản của những người sử dụng, hành vi bị nghiêm cấm và sẽ bị pháp luật nghiêm trị nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo T gây ra ảnh hưởng xấu đến tính mạng, sức khỏe của con người và là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác nhưng vì thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân bị cáo đã tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là công dân đã trưởng thành, phát triển bình thường; đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Song vì xem thường pháp luật nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi phạm tội của mình gây ra.

. Khi quyết định hình phạt có xem xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, xem xét vai trò, mức độ phạm tội của từng bị cáo trong vụ án:

. Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo tự nguyện khai ra các lần phạm tội trước đó bị cáo nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

Tình tiết tăng nặng: không có.

. Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

. Đối với Đào Thị Kim T1 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhưng đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 256a Bộ Luật Hình sự, Công an xã D đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng là đúng quy định

. Đối với người đàn ông không rõ nhân thân, bán ma túy cho Bành Minh T để tổ chức sử dụng, do không xác định được nhân thân, lai lịch nên chưa làm việc được, khi nào xác định làm việc được xử lý sau là phù hợp

. Đối với cơ sở kinh doanh nhà trọ “Cường Phát” do Châu Văn P làm chủ, không biết việc Bành Minh T dùng phò trọ cho thuê để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cũng như việc cho thuê có đăng bản nội quy không được sử dụng chất cấm...nên không xem xét xử lý vi phạm hành chính về quản lý ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự là có căn cứ đúng quy định pháp luật.

. Về xử lý vật chứng:

- 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 1725, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn N, trợ lý giám định Nguyễn Hoàng Chi M và dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh T.

- 01 (một) chai nhựa nắp màu vàng có 02 (hai) lỗ tròn trong đó:01 lỗ gắn 01 (một) ống hút màu trắng, ống hút nhựa có quấn băng keo màu đen.

- 01 (một) hột quẹt gas màu trắng, đỏ, bên trong có chất lỏng màu xanh.

- 01 (một) cây kéo bằng kim loại màu trắng, có tay cầm ốp nhựa màu xanh.

- 01 (một) bịch nilon được hàn kín 03 (ba) đầu, đầu còn lại khoá bóp có viền ngang màu xanh, bên trong không chứa gì.

Các vật chứng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.

. Về án phí: bị cáo T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 255; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Bành Minh T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý: Xử phạt bị cáo Bành Minh T 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 20/5/2026

2. Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

3.Về xử lý vật chứng: Các vật chứng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ gồm:

- 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 1725, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn N, trợ lý giám định Nguyễn Hoàng Chi M và dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh T.

- 01 (một) chai nhựa nắp màu vàng có 02 (hai) lỗ tròn trong đó:01 lỗ gắn 01 (một) ống hút màu trắng, ống hút nhựa có quấn băng keo màu đen.

- 01 (một) hột quẹt gas màu trắng, đỏ, bên trong có chất lỏng màu xanh.

- 01 (một) cây kéo bằng kim loại màu trắng, có tay cầm ốp nhựa màu xanh.

- 01 (một) bịch nilon được hàn kín 03 (ba) đầu, đầu còn lại khoá bóp có viền ngang màu xanh, bên trong không chứa gì.

4. Về án phí: Bị cáo T phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo biết được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh để xét xử phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ