vanban.org

Bản án 244/2024/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 31/12/2024 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 31/12/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356, Điều 348 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đào Thị L. Đình chỉ kháng cáo của bị cáo Lê Thị Vân A. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 15/2024/HS-ST ngày 05/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đào Thị L phạm tội "Tổ chức đánh bạc" - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 322 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356, Điều 348 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 322 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 244/2024/HSPT
Ngày 31 - 12 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Sâm.

Các Thẩm phán: 1. Bà Lê Thị Thanh Huyền

2. Bà Đinh Thị Tuyết

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Tiến Tài – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mai Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 255/2024/TLPT-HS ngày 02 tháng 12 năm 2024 đối với các bị cáo Đào Thị L và Lê Thị Vân A về tội “Tổ chức đánh bạc”, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2024/HS-ST ngày 05 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk.

- Bị cáo có kháng cáo:

1. Đào Thị L, sinh ngày 10/8/1985 tại tỉnh Đắk Lắk; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn E, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; trình độ học vấn: 09/12; nghề nghiệp: Thợ làm tóc; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam. Con ông Đào Văn T và bà Nguyễn Thị C; bị cáo có chồng là Trần Hữu H (đã ly hôn) và có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2006, con nhỏ nhất sinh năm 2013.

Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 23/7/2024 bị Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xử phạt 04 năm tù về tội “Đánh bạc” tại Bản án hình sự phúc thẩm số 316/2024/HS-PT.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/12/2023 đến ngày 04/01/2024, hiện đang được tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

2. Lê Thị Vân A, sinh ngày 24/02/1996 tại tỉnh Đắk Lắk; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn A, xã E, huyện M'đrắk, tỉnh Đắk Lắk; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Kinh doanh Spa; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam. Con ông Lê Trung T1 (đã chết) và bà Lê Thị C1; bị cáo có chồng là Nguyễn Văn C2 và có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2014, con nhỏ nhất sinh năm 2021.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 29/02/2024, bị Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xử phạt 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 năm về tội “Tổ chức đánh bạc” tại Bản án số 17/2024/HS-ST, đang chấp hành án, chưa được xóa án tích.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/12/2023 đến ngày 04/01/2024, hiện đang tại ngoại, vắng mặt tại phiên tòa (có đơn xin rút kháng cáo).

(Ngoài ra, trong vụ án còn có 03 bị cáo khác nhưng không có kháng cáo, kháng nghị và không bị kháng cáo, kháng nghị)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đầu tháng 12/2023 đến ngày 24/12/2023, biết có nhiều người muốn mua số lô, đề nên Đào Thị L nhận cược ghi số đề của khách, tổng hợp chuyển lại cho Vân A, Vân A nhận số đề của khách, tổng hợp điểm cược rồi chuyển cho Nguyễn Thanh P và P chuyển cho Phạm Thị T2. Phụng nhận cược số đề của khách, tổng hợp điểm cược chuyển cho T4, T4 cũng nhận cược số đề của khách, tổng hợp điểm cược rồi chuyển cho Đoàn Ngọc H1 để H1 trực tiếp cược thắng, thua với khách ghi đề. Tỷ lệ cược thắng, thua đài miền N, miền T là 1 thắng 70 lần điểm bao lô và 1 thắng 600 lần điểm đá cặp số; đài miền B là 1 thắng 80 lần điểm bao lô và 1 thắng 600 lần điểm đá cặp số. L, Vân A, P, T4 hưởng tiền chênh lệch giá chuyển điểm cược như sau: L, Vân A, P, T4 nhận cược ghi số đề của khách giá 13.000 đồng/điểm lô, 26.000 đồng/điểm đá (xiên) đài miền N, miền T và 22.000đồng/điểm lô, 44.000đồng/điểm đá đài miền B.

Sau khi nhận cược, L chuyển hết điểm cược cho Vân A giá 12.800đồng/điểm lô, 25.600đồng/điểm đá đài miền N, miền T, và 21.800đồng/điểm lô, 43.600đồng/điểm đá đài miền B, L hưởng tiền chênh lệch 200đồng/điểm lô, 400đồng/điểm đá; Vân A nhận cược rồi chuyển cho P giá 12.700đồng/điểm lô, 25.400đồng/điểm đá đài miền N, miền T và 21.700đồng/điểm lô, 43.400đồng/điểm đá đài miền B, Vân A hưởng tiền chênh lệch 300đồng/điểm lô, 600đồng/điểm đá của khách và hưởng chênh lệch 100đồng/điểm lô, 200đồng/điểm đá các điểm cược nhận lại từ L; P nhận điểm cược chuyển cho T4 giá 12.600đồng/điểm lô, 25.200đồng/điểm đá đài miền N, miền T và 21.600đồng/điểm lô, 43.200đồng/điểm đá đài miền B, P hưởng tiền chênh lệch 400đồng/điểm lô, 800đồng/điểm đá của khách, hưởng chênh lệch 100đồng/điểm lô, 200đồng/điểm đá các điểm cược nhận lại từ Vân A. Sau khi nhận cược, T4 tiếp tục chuyển cho Đoàn Ngọc H1 giá 12.500đồng/điểm lô, 25.000đồng/điểm đá đài miền N, miền T và 21.500đồng/điểm lô, 43.000đồng/điểm đá đài miền B, Tương hưởng tiền chênh lệch 500đồng/điểm lô, 1.000đồng/điểm đá của khách, hưởng lợi 100đồng/điểm lô, 200đồng/điểm đá các điểm cược nhận lại từ P. Sau khi có kết quả xổ số, H1 tính thắng, thua và thanh toán tiền mặt cho Tương hoặc chuyển khoản, Tương thanh toán với P và khách ghi đề bằng chuyển khoản hoặc tiền mặt, P thanh toán với Vân A và khách ghi đề bằng chuyển khoản hoặc đưa tiền, Vân A thanh toán với L và khách ghi đề bằng chuyển khoản hoặc tiền mặt, Liên thanh T3 với khách ghi đề bằng hình thức đưa tiền mặt. Tuy nhiên, sau khi cược số đề thì L, Vân A, P và T4 đều xóa hết nội dung tin nhắn cược số đề và chuyển số đề.

Trong ngày 22/12/2023, hành vi Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc của các bị can cụ thể như sau:

Hành vi Tổ chức đánh bạc của Đào Thị L:

Khoảng 14 giờ ngày 22/12/2023, một người đàn ông tên S làm công trình tại xã C, huyện E (không xác định được nhân thân, lai lịch) đến tiệm làm tóc của L chơi và nhờ L làm trung gian nhận cược ghi số đề của S rồi chuyển cho nhà cái trên thì L đồng ý. S cược số đề đài miền B (Hải Phòng) các số 90 bao lô 1.500 điểm, 28 bao lô 1.500 điểm, đá cặp số 90 và 28 với 50 điểm, đá cặp số 76 và 90 với 5 điểm, đá cặp số 76 và 28 với 5 điểm, với tổng 3.000 điểm, tương ứng số tiền 68.640.000 đồng. S đưa L 68.640.000 đồng tiền cược số đề. Sau đó, L sử dụng số điện thoại 0857.108.508, tài khoản Zalo có tên “Đao Thi L1”, L nhắn tin qua Z cho Lê Thị Vân A có tên “V A1” để Vân A chuyển cho nhà cái trên đặt cược: “mb 90.1500đ 28.1500đ, đá 90.28.50đ, 76.90.5đ, 76.28.5đ”, thì Vân A đồng ý nhận. Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, S gọi điện thoại cho L để thay đổi cặp số 76 đá 90 bằng 92 đá 90 và 76 đá 28 bằng 28 đá 92 thì L đồng ý. Sau đó, L nhắn tin cho Vân A sửa các số đá nói trên thì Vân A đồng ý.

Kết quả xổ số, S trúng các số đã cược tương ứng số tiền trúng 276.000.000 đồng. Đến ngày 23/12/2023, sau khi trừ tiền cược (do L chưa chuyển tiền cược cho Vân A) nên Vân A sử dụng số tại khoản 52232055083517 của Ngân hàng N2 chi nhánh E, huyện E chuyển 03 lần tiền từ tài khoản của Vân A đến tài khoản số 6320625092 Ngân hàng TMCP Đ chi nhánh Đ1 của Đào Thị L với tổng số tiền 207.000.000 đồng. Sáng ngày 24/12/2023, L gặp S tại quán cà phê ở gần khu vực chợ C3, huyện E đưa 276.000.000 đồng tiền trúng số đề cho S.

Như vậy, ngày 22/12/2023 Đào Thị L được hưởng lợi số tiền khi nhận và chuyển số đề cho Lê Thị Vân A là 624.000 đồng.

Hành vi Tổ chức đánh bạc của Lê Thị Vân A:

Khoảng đầu tháng 12/2023, Lê Thị Vân A biết được nhu cầu đánh bạc dưới hình thức ghi số đề của một số người nên đã bàn bạc, thống nhất với Nguyễn Thanh P và Đào Thị L về việc để L đứng ra làm trung gian nhận cược số đề, sau đó tập hợp chuyển cho Vân A để Vân A chuyển cho P, ngoài nhận cược số đề của L chuyển, Vân A còn trực tiếp nhận cược ghi số đề từ người khác.

Ngày 22/12/2023, Đào Thị L chuyển 3000 điểm bao lô và 60 điểm đá gồm 90 1500điểm, 28 1500điểm, đá cặp số 90 với 28 50điểm; 92 với 90 5điểm; 28 với 92 5điểm, tương ứng tiền cược là 68.016.000 đồng cho Vân A. Sau khi nhận cược, Vân A sử dụng tài khoản Facebook tên “Anh Thư” chuyển đến tài khoản Facebook “Hồng Nhung” của Nguyễn Thanh P 2000 điểm bao lô và 60 điểm đá gồm 90 1000điểm, 28 1000điểm, đá cặp số 90 với 28 50điểm; 92 với 90 5điểm; 28 với 92 5điểm, tương ứng số tiền cược 46.004.000 đồng để P chuyển cho nhà cái trên. Còn 1000 điểm bao lô số 90 500điểm, 28 500điểm V chuyển cho Phạm Thị T2 để T2 trực tiếp thắng thua với khách ghi đề. Kết quả khách trúng tất cả các điểm cược với tổng số tiền là 276.000.000 đồng, sau khi trừ tiền cược (tiền xác), Vân A chuyển vào tài khoản của Đào Thị L số tiền 207.000.000 đồng để L trả tiền trúng cược cho khách ghi đề.

Trong ngày 22/12/2023, Lê Thị Vân A được hưởng lợi số tiền khi nhận và chuyển số đề cho Phan Thanh P1 là 312.000 đồng.

Hành vi Tổ chức đánh bạc của Nguyễn Thanh P:

Ngày 22/12/2023, Vân A chuyển cho P 2000 điểm bao lô, 60 điểm đá cặp số gồm 90 1000điểm, 28 1000điểm, đá cặp số 90 với 28 50điểm; 92 với 90 5điểm; 28 với 92 5điểm, tương ứng số tiền cược là 46.004.000 đồng. Sau khi nhận cược, P chuyển hết điểm cược cho Nguyễn Quang T4 để Tương chuyển cho nhà cái trên. Kết quả khách ghi đề trúng với số tiền 196.000.000 đồng. Sau khi trừ tiền cược, T4 chuyển vào tài khoản của P 02 lần với tổng số tiền 140.000.000 đồng để P chuyển cho Vân A, Vân A chuyển cho L trả tiền trúng số đề cho khách.

Trong ngày 22/12/2023, số tiền Nguyễn Thanh P được hưởng lợi khi nhận số đề của Lê Thị Vân A rồi chuyển cho Nguyễn Quang T4 là 212.000 đồng.

Hành vi Tổ chức đánh bạc của Nguyễn Quang T4:

Ngày 22/12/2023, P sử dụng Zalo tên “Hồng Nhung” chuyển đến Zalo có tên “Đại Phúc” của Tương 2000 điểm bao lô, 60 điểm đá cặp số gồm số 90 1000điểm, 28 1000điểm, đá cặp số 90 với 28 50điểm; 92 với 90 5điểm; 28 với 92 5điểm, tương ứng số tiền cược 45.792.000 đồng. Sau khi nhận cược, T4 chuyển hết điểm cược cho Đoàn Ngọc H1 để H1 trực tiếp thắng, thua với khách ghi đề.

Kết quả khách trúng số đề với số tiền 196.000.000 đồng. Sau khi trừ tiền cược, H1 phải trả cho khách mua đề 150.208.000 đồng. Ngày 23/12/2023, H1 đưa tiền mặt cho Tương số tiền 80.000.000 đồng và chuyển từ tài khoản của Nguyễn Duy H2 (Sinh năm: 1976; HKTT: Tổ dân phố C, thị trấn E, huyện E) số tiền 60.000.000 đồng, số tiền còn lại H1 chưa thanh toán. Sau khi nhận được tiền, T4 chuyển 02 lần vào số tài khoản của P 140.000.000 đồng để P chuyển cho khách mua đề.

Trong ngày 22/12/2023, số tiền Nguyễn Quang T4 được hưởng lợi khi nhận số đề Nguyễn Thanh P và Đoàn Ngọc Hiếu T5 thua với nhau là 212.000 đồng.

Hành vi đánh bạc của Phạm Thị T2:

Đối với đài xổ số miền N, miền T: T2 nhận số đề của khách đánh với giá 14.000đ/điểm bao lô, 28.000đ/điểm đá.

Đối với đài xổ số miền B: T2 nhận cược giá 22.000đ/điểm lô, 44.000đ/điểm đá, kết quả trúng thì 1 thắng 70 lần đối với điểm bao lô và 1 thắng 600 lần đối với điểm đá; đài B là 1 thắng 80 lần điểm bao lô và 1 thắng 600 lần điểm đá.

Ngày 22/12/2023, Vân A gọi điện cho T2 thoả thuận Vân A sẽ chuyển 1000 điểm cược các số 90 500điểm, 28 500điểm để T2 trực tiếp thắng thua với khách ghi đề, nếu khách thua thì Vân A sẽ trừ nợ 20.000.000 đồng mà T2 đang nợ của Vân A trước đó thì T2 đồng ý nhận cược với giá 21.700đ/điểm lô, tương ứng số tiền 21.700.000 đồng. Kết quả khách trúng đề với số tiền 80.000.000 đồng. Sau khi trừ tiền cược, T2 phải trả cho Vân A số tiền 58.300.000 đồng, do chưa có tiền nên T2 còn nợ Vân A số tiền trên.

Quá trình điều tra xác định được ngoài hành vi phạm tội trên thì ngày 22/12/2023 và ngày 24/12/2023 Lê Thị Vân A, Nguyễn Thanh P, Phạm Thị T2, Nguyễn Quang T4 còn thực hiện hành vi nhận và chuyển số đề, cụ thể như sau:

- Đối với Lê Thị Vân A, Nguyễn Thanh P và Nguyễn Quang T4:

Vào ngày 22/12/2023, Lê Thị Vân A cược số 44 đài xổ số Vĩnh Long và Bình Dương với mỗi đài 35 điểm, tương ứng tổng số tiền cược là 889.000 đồng với Nguyễn Thanh P. Sau khi nhận cược, P chuyển cho T4 để T4 chuyển cho H1, H1 trực tiếp thắng thua với Vân A. Kết quả xổ số Vân A không trúng số đề. Số tiền cược ghi đề Vân A đã trả cho P, P chuyển cho T4 và T4 đã trả cho H1.

Trong ngày 24/12/2023, Phạm Thị T2 nhận cược ghi số đề theo đài xổ số miền T (Khánh Hòa) và đài xổ số miền B, cụ thể:

- Đối với đài xổ số Khánh Hoà:

+ Nhận số đề từ Vũ Xuân T6: Trường sử dụng số điện thoại 0367.587.969, Trường N3 58 5điểm, 68 5điểm với tổng 10 điểm, tương ứng số tiền 140.000 đồng. Kết quả xổ số, T6 không trúng số đề, tiền cược ghi số đề T6 đã đưa cho T2.

+ Nhận số đề từ Nguyễn Văn N: Nhiên sử dụng số điện thoại 0782.589.185, Nhiên nhắn tin đặt cược các số 873 3điểm, 973 2điểm, 373 2điểm, 73 10điểm, 613 3điểm, đá cặp số 88 với 98 3điểm, 77 với 66 2điểm, với tổng 20 điểm lô và 5điểm đá, tương ứng số tiền 420.000 đồng. Kết quả xổ số, N không trúng, tiền cược ghi đề N chưa trả cho T2.

+ Nhận số đề từ Lò Văn T7: Thân sử dụng số điện thoại 0947.197.076, Thân nhắn tin đặt cược số 21 bao lô 15điểm, đầu giải tám số 21 cược 20.000 đồng, đuôi giải đặc biệt số 21 cược 20.000 đồng, tương ứng số tiền 250.000 đồng. Kết quả xổ số, T7 không trúng, tiền cược ghi đề T7 chưa trả cho T2.

+ Nhận số đề từ Hồ Thị T8: T8 sử dụng số điện thoại 0368.019.278, T8 nhắn tin đặt cược các số bao lô 147 20điểm, 655 5điểm, 736 10điểm, 89 5điểm, 47 10điểm, 36 30điểm và đá cặp số (xiên) 72 với 63 1điểm, 71 với 91 1điểm, 19 với 61 2điểm, đầu giải tám số 59 cược 10.000 đồng, cuối giải đặc biệt số 59 cược 7.000 đồng, tương ứng số tiền cược 1.249.000 đồng. Kết quả xổ số, T8 trúng số 89 với 5 điểm cược, tương ứng số tiền 350.000 đồng. Tổng số tiền T2 nhận và T8 trúng số đề là 1.599.000 đồng. Số tiền cược ghi đề T8 chưa trả cho T2.

Như vậy, trong ngày 24/12/2023, tổng số tiền T2 nhận đài xổ số Khánh H3 là 2.059.000 đồng. Kết quả xổ số, khách trúng số đề với số tiền 350.000 đồng. Tổng số tiền T2 nhận và khách trúng số đề là 2.409.000 đồng

- Đối với đài xổ số miền B:

+ T2 nhận ghi số đề của Nguyễn Văn N các số 45x10, 54x10 với tổng 20 điểm, tương ứng số tiền cược 440.000 đồng. Kết quả xổ số, N không trúng, tiền cược ghi đề N chưa trả cho T2.

+ T2 nhận ghi số đề từ Lò Văn T7 các số 21 15điểm, cược 2 số cuối giải đặc biệt số 21 với tiền cược 50.000 đồng, tương ứng số tiền cược 380.000 đồng. Kết quả xổ số, T7 không trúng, tiền cược ghi đề T7 chưa trả cho T2.

+ T2 nhận ghi số đề từ Hồ Thị T8 các số đá 95x96 1 điểm, 59x69 1 điểm, 19x52 3 điểm, 95x32 3 điểm, 56x65 0,5 điểm, tương ứng số tiền cược 1.273.000 đồng. Kết quả xổ số, T8 không trúng, tiền cược ghi đề T8 chưa trả cho T2.

Như vậy, trong ngày 24/12/2023, tổng số tiền T2 nhận đài xổ số miền B là 2.093.000 đồng. Kết quả xổ số, khách không trúng số đề.

- Đối với Nguyễn Thanh P: Ngày 24/12/2023, P nhận cược ghi số đề của Nguyễn Minh H4 sử dụng số điện thoại 0967.262.355 (Sinh năm: 1970; HKTT: Thôn D, xã E, huyện M) đài xổ số Gia Lai các số 99 10điểm, 62 15điểm, tương ứng số tiền cược 320.000 đồng. Sau đó, P chuyển cho Nguyễn Quang T4, T4 chuyển cho Đoàn Ngọc H1 để H1 trực tiếp thắng thua với H4. Kết quả xổ số, H4 không trúng. Tiền cược ghi số đề H4 đã trả cho P, P chuyển cho T4 và T4 đã chuyển cho H1.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 15/2024/HS-ST ngày 05/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện M’Đrắk, đã quyết định:

1. Tuyên bố các bị cáo Lê Thị Vân A, Nguyễn Thanh P, Đào Thị L và Nguyễn Quang T4 phạm tội: “Tổ chức đánh bạc”; bị cáo Phạm Thị T2 phạm tội: “Đánh bạc”.

2. Điều luật áp dụng và hình phạt:

Áp dụng Điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự:

+ Xử phạt Đào Thị L 01(một) năm 09 (chín) tháng tù.

Áp dụng Điều 56 của Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt 04 (bốn) năm tù của Bản án hình sự phúc thẩm số 316/2024/HS-PT ngày 23/7/2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng. Buộc bị cáo L phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 05 (năm) năm 09 (chín) tháng tù. Được khấu trừ thời gian đã tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/12/2023 đến ngày 04/01/2024. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi thi hành án.

+ Xử phạt Lê Thị Vân A 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, khấu trừ vào thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/12/2023 đến ngày 04/01/2024. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi thi hành án.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về tội danh và hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thanh P, Nguyễn Quang T4 và Phạm Thị T2, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo và các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 09/9/2024 bị cáo Đào Thị L có đơn kháng cáo với nội dung: Xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 16/9/2024 bị cáo Lê Thị Vân A có đơn kháng cáo với nội dung: Xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.

Kết quả xét hỏi tại phiên tòa, bị cáo L đã khai nhận toàn bộ hành vi mà các bị cáo đã thực hiện cơ bản đúng như nội dung vụ án đã được tóm tắt nêu trên.

Quá trình tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm, Đại điện Viện kiểm sát đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi, hậu quả của bị cáo và cho rằng: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo Đào Thị L và Lê Thị Vân A về tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Xét kháng cáo của bị cáo Đào Thị L xin giảm nhẹ hình phạt, qua phân tích đánh giá các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, tranh luận tại phiên tòa và tại phiên tòa bị cáo L cung cấp thêm tài liệu chứng cứ mới: Đơn xác nhận hoàn cảnh khó khăn, biên lai nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm, có ông ngoại là Nguyễn L2 được thưởng Huy chương Kháng chiến hạng nhì, có ông cố là Nguyễn Xuân N1 đã hy sinh vì sự nghiệp đấu tranh cách mạng và giải phóng dân tộc, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Tòa cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Do đó đề nghị HĐXX căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị cáo giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm về mức hình phạt đối với bị cáo L.

Do bị cáo Lê Thị Vân A có đơn xin rút kháng cáo. Đình chỉ giải quyết kháng cáo với bị cáo Lê Thị Vân A.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bị cáo không tranh luận, bào chữa gì chỉ đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai của bị cáo Đào Thị L tại phiên toà phúc thẩm là cơ bản phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận: Vào ngày 22/12/2023, tại huyện E và huyện M’Đrắk Đào Thị L, Lê Thị Vân A, Nguyễn Thanh P và Nguyễn Quang T4 làm trung gian nhận cược ghi số lô đề đài miền B, để Đoàn Ngọc H1, Phạm Thị T2 và người đàn ông tên S (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) đánh bạc với nhau được thua bằng tiền, số tiền đánh bạc 68.640.000 đồng, L hưởng lợi 624.000 đồng, Vân A hưởng lợi 312.000 đồng, P và T4 mỗi người hưởng lợi 212.000 đồng; còn Phạm Thị T2 nhận cược từ Lê Thị Vân A chuyển đến để trực tiếp thắng thua với khách ghi số đề với số tiền đánh bạc là 101.700.000 đồng. Do đó, cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Đào Thị L và Lê Thị Vân A về tội: “Tổ chức đánh bạc” theo điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Ngày 16/9/2024 bị cáo Lê Thị Vân A có đơn kháng cáo với nội dung: Xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo. Ngày 31/12/2014 bị cáo có đơn xin rút kháng cáo. Căn cứ Điều 348 Bộ luật tó tụng hình sự Hội đồng xét xử đình chỉ kháng cáo của của bị cáo Lê Thị Vân A.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Đào Thị L, HĐXX thấy rằng: Mức hình phạt 01 năm 09 tháng tù đối với bị cáo Đào Thị L là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, cấp sơ thẩm đã xem xét đủ, đúng các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng. Tại cấp phúc thẩm bị cáo L cung cấp thêm giấy xác nhận hoàn cảnh khó khăn, nộp biên lai thu tiền án phí theo bản án hình sự sơ thẩm, có ông ngoại là Nguyễn L2 đã được thưởng Huy chương Kháng chiến hạng nhì, có ông cố là Nguyễn Xuân N1 đã hy sinh vì sự nghiệp đấu tranh cách mạng và giải phóng dân tộc, đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, tuy nhiên với mức án mà cấp sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo là phù hợp. Nên HĐXX không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo.

Từ những phân tích và nhận định nêu trên, HĐXX phúc thẩm xét thấy không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đào Thị L, giữ nguyên Quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt và biên pháp chấp hành hình phạt đối với bị cáo là phù hợp.

Về án phí hình sự phúc thẩm: Do không được chấp nhận kháng cáo nên bị cáo Đào Thị L phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định. Bị cáo Lê Thị Vân A không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356, Điều 348 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đào Thị L.

Đình chỉ kháng cáo của bị cáo Lê Thị Vân A. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 15/2024/HS-ST ngày 05/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện M’Đrắk, tỉnh Đắk Lắk.

[2] Về điều luật áp dụng và mức hình phạt:

Áp dụng Điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự:

- Xử phạt bị cáo Đào Thị L 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”.

Áp dụng Điều 56 của Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt 04 (bốn) năm tù của Bản án hình sự phúc thẩm số 316/2024/HS-PT ngày 23/7/2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng. Buộc bị cáo L phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 05 (năm) năm 09 (chín) tháng tù. Được khấu trừ thời gian đã tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/12/2023 đến ngày 04/01/2024. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi thi hành án.

[3] Về án phí hình sự phúc thẩm:

Bị cáo Đào Thị L phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ