- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về ngoại tình — án hôn nhân và gia đình — "BA Vầy - Cường"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị V,
- Căn cứ chính? Bộ luật T t ng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 244/2022/HNGĐ-ST Ngày: 08 - 06 - 2022 V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Sáu
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Võ Hoàng Nghiệp;
2. Ông Phan Phước Tân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Chúc Phương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Lâm Thị Thanh Thúy – Kiểm sát viên.
Trong ngày 08 tháng 06 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 71/2022/TLST-HNGĐ, ngày 15 tháng 02 năm 2022 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 228/2022/QĐXXST-HNGĐ, ngày 28 tháng 4 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 304/2022/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 5 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Võ Thị V, sinh năm 1987; địa chỉ: Tổ X, ấp P, xã P, huyện An Phú, tỉnh An Giang.
- Bị đơn: Ông Đinh Phi C, sinh năm 1987; địa chỉ: Tổ Y, ấp A, thị trấn AP, huyện An Phú, tỉnh An Giang.
Tại phiên tòa, bà V có mặt, ông C vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai của nguyên đơn; các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hôn nhân giữa bà Võ Thị V và ông Đinh Phi C là do tự tìm hiểu, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Phú Hội, huyện An Phú, tỉnh An Giang cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 123 ngày 24 tháng 09 năm 2008. Nguyên nhân mâu thuẫn gia đình là do bất đồng quan điểm sống, ông C quan hệ với người phụ nữ khác, không quan tâm chăm lo cuộc sống gia đình. Bà V và ông C đã ly thân từ năm 2017. Nhận thấy đời sống hôn nhân không hạnh phúc, nên bà V xin ly hôn.
Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, bà Võ Thị V và ông Đinh Phi C có 02 (hai) con chung là cháu Đinh Phi M, sinh ngày 03/12/2005 và cháu Đinh Phi G, sinh ngày 16/04/2013. Các con chung đang sống với bà V. Bà V có nguyện vọng được trực tiếp nuôi các con chung sau ly hôn và không yêu cầu ông C cấp dưỡng.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
Tòa án đã triệu tập nhiều lần nhưng ông C đều vắng mặt không lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến, nên không ghi nhận được ý kiến của ông C. Bà V có đơn yêu cầu không tiến hành hòa giải.
Tòa án tiến hành xác minh nơi cư trú, tình trạng hôn nhân và ghi nhận ý kiến con chung:
Theo Biên bản xác minh nơi cư trú ngày 11/5/2022, ông Đinh Phi C có đăng ký hộ khẩu thường trú và hiện sinh sống tại ấp A, thị trấn AP, huyện An Phú, tỉnh An Giang.
Theo Biên bản xác minh ngày 28/4/2022, bà Phạm Thị T cho biết, bà T là bà con xa của bà V. Bà T nghe nói nguyên nhân mâu thuẫn là do C có quan hệ với người phụ nữ khác, V và C đã ly thân khoảng 5 năm nay. Đám tiệc nhà bà V, bà T chỉ thấy bà V và 2 con về, không thấy ông C.
Tòa án tiến hành ghi nhận ý kiến của cháu Đinh Phi M và cháu Đinh Phi G: Theo các biên bản ghi nhận ý kiến cùng ngày 28/4/2022, các cháu M, G đều có nguyện vọng được chung sống với bà V khi ông C và bà V ly hôn.
Tại phiên tòa, bà V giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, xin được ly hôn với ông C, được trực tiếp nuôi dạy 2 con chung và không yêu cầu ông C cấp dưỡng.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát:
Về tố tụng: Tòa án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ đảm bảo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; thành phần Hội đồng xét xử không thuộc trường hợp phải thay đổi. Tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn là đúng quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Theo trình bày của bà V; tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, có căn cứ xác định hôn nhân giữa bà V và ông C đã đến mức trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên đề nghị chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà V. Về người trực tiếp nuôi con sau ly hôn, đề nghị chấp nhận theo nguyện vọng của các cháu Đinh Phi M và Đinh Phi G, giao các cháu cho bà V trực tiếp nuôi dạy và công nhận sự tự nguyện của bà V về việc không yêu cầu ông C cấp dưỡng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Bà Võ Thị V khởi kiện xin ly hôn với ông Đinh Phi C và có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con chung sau ly hôn. Xác định quan hệ tranh chấp “ly hôn, nuôi con chung”. Bị đơn ông Đinh Phi C đăng ký hộ khẩu thường trú và hiện sinh sống tại ấp An Thịnh, thị trấn An Phú, huyện An Phú, tỉnh An Giang, nên vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang theo quy định tại các điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về việc vắng mặt của đương sự: Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý, Thông báo hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông Đinh Phi C vắng mặt không lý do. Bà V có đơn yêu cầu không tiến hành hòa giải. Như vậy, ông C đã tự từ bỏ quyền tham gia tố tụng, Tòa án tiến hành xét xử mà không qua thủ tục hòa giải là phù hợp quy định tại Điều 207 Bô luật Tố tụng dân sự; xét xử vắng mặt đối với ông C là đúng quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Theo trình bày của bà V, kết quả xác minh được biết, nguyên nhân mâu thuẫn trong tình cảm giữa bà V và ông C là do bất đồng quan điểm sống, ông C không quan tâm chăm lo cuộc sống gia đình. Bà V và ông C đã ly thân từ năm 2017. Trong thời gian ly thân, cũng như trong thời gian Tòa án tiến hành giải quyết vụ án, ông C không có hành động thể hiện sự hàn gắn và không có ý kiến về việc bà V xin ly hôn. Từ đó cho thấy, mâu thuẫn tình cảm giữa bà V và ông C đã đến mức trầm trọng, đời sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Võ Thị V là phù hợp quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Theo biên bản ghi nhận ý kiến các cháu Đinh Phi M và Đinh Phi G thì các cháu đều có nguyện vọng sống với bà V sau khi bà V và ông C ly hôn. Theo kết quả xác minh thì các cháu đều được nuôi dạy, học hành chu đáo; bà V cũng có thu nhập ổn định, đủ điều kiện để nuôi dạy các cháu. Căn cứ Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, giao các cháu M và G cho bà V trực tiếp nuôi dạy sẽ đảm bảo việc học tập, ổn định tâm lý, phù hợp nguyện vọng các cháu.
Công nhận sự tự nguyện của bà V về việc không yêu cầu ông C cấp dưỡng.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà V xác định không có, không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét giải quyết. Nếu ông C có căn cứ xác định có tài sản chung, nợ chung thì khởi kiện và sẽ được giải quyết trong một vụ án khác.
V chi phí t t ng:
Về án phí, bà Võ Thị V là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm, ông Đinh Phi C không phải chịu án phí.
Các đương sự không phải chịu các chi phí tố tụng khác.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các đi u 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ các đi u 147, 271, 273 của Bộ luật T t ng dân sự;
Căn cứ điểm a khoản 5 Đi u 27 Nghị quyết s 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường v Qu c hội,
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị V,
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị V được ly hôn với ông Đinh Phi C.
Giấy chứng nhận kết hôn số 123 do Ủy ban nhân dân xã Phú Hội, huyện An Phú, tỉnh An Giang cấp ngày 24 tháng 09 năm 2008 cho ông Đinh Phi C và bà Võ Thị V không còn giá trị pháp lý kể từ ngày Bản án này có hiệu lực pháp luật.
2. Về con chung: Bà Võ Thị V được trực tiếp nuôi dạy 2 con chung tên Đinh Phi M, sinh ngày 03/12/2005 và Đinh Phi G, sinh ngày 16/04/20013.
Ông Đinh Phi C không phải cấp dưỡng nuôi dạy con chung.
Ông Đinh Phi C và các thành viên trong gia đình phải tôn trọng quyền được trực tiếp nuôi con của bà Võ Thị V. Ngược lại, bà V và các thành viên trong gia đình phải tôn trọng quyền được thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của ông C.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
3. Về án phí: Bà Võ Thị V phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, số tiền này được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí mà bà V đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006781 ngày 15/02/2022. (Bà V đã nộp đủ).
4. Về quyền kháng cáo: Án tuyên công khai có mặt bà Võ Thị V. Thời hạn kháng cáo của bà V là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Thời hạn kháng cáo của ông Đinh Phi C là 15 ngày kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang (1); - VKSND tỉnh An Giang (1); - VKSND huyện An Phú (1); - THADS huyện An Phú (1); - UBND xã Phú Hội (1); - Các đương sự (2); - Lưu văn phòng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Văn Sáu |