- Tranh chấp gì? án hình sự — "Sa L và đồng phạm - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
- Căn cứ chính? Điều 17 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 255 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 241/2025/HS-ST Ngày 26-12-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1, THÀNH PHỐ H
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Nhật Minh.
Các Hội thẩm nhân dân: 1/Ông Hoàng Văn Định.
2/Ông Nguyễn Vạn Phúc.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Thế Mạnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1, Thành phố H tham gia phiên
toà: Bà Trần Thủy Quỳnh Trang và ông Lê Đông - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 1, Thành phố
H xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 219/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 275/2025/QĐXXST- HS ngày 12 tháng 11 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 66/2025/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 12 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Sa L, sinh năm 1994 tại tỉnh A; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp C, xã
C, thị xã T (nay là xã C), tỉnh A; Nơi cư trú: số 17A đường 25A, phường T, quận B (nay là phường T), Thành phố H; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ học vấn: 4/12; Dân tộc: Chăm; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Hồi giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Võ Phi D và bà Ay S; Hoàn cảnh gia đình: có vợ là bà Sa La M và có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2019, nhỏ nhất sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không. Sau khi chấp hành xong hình phạt 01 năm 03 tháng tù theo Bản án hình sự sơ thẩm số 34/2023/HS-ST ngày 10/5/2023 của Tòa án nhân dân quận T, Thành phố H, ngày 24/12/2023 được trả tự do. Đến ngày 26/5/2025, bị cáo bị tạm giam cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Mach S1, sinh năm 1988 tại tỉnh A; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi
cư trú: 111/16 đường H, phường M, quận P (nay là phường P), Thành phố H; Nghề nghiệp: Chăm sóc khách hàng; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Chăm; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Hồi giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông P và bà St; Hoàn cảnh gia đình: chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không. Sau khi chấp hành xong hình phạt 01 năm 03 tháng tù theo Bản án hình sự sơ thẩm số 34/2023/HS-ST ngày 10/5/2023 của Tòa án nhân dân quận T, Thành phố H, ngày 24/12/2023 được trả tự do. Đến ngày 26/5/2025, bị cáo bị tạm giam cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
3. Sala H, sinh năm 1996 tại tỉnh A; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư
trú: số 111/29 đường H, phường M, quận P (nay là phường P), Thành phố H; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Chăm; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Hồi giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Sal và bà Mari G; Hoàn cảnh gia đình: chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không. Sau khi chấp hành xong hình phạt 01 năm 03 tháng tù theo Bản án hình sự sơ thẩm số 34/2023/HS-ST ngày 10/5/2023 của Tòa án nhân dân quận T, Thành phố H, ngày 24/12/2023 được trả tự do. Đến ngày 26/5/2025, bị cáo bị tạm giam cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
4. M1, sinh năm 1996 tại tỉnh A; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp C, xã C,
thị xã T (nay là xã C), tỉnh A; Nơi cư trú: 35 đường N, phường B, quận M (nay là phường B), Thành phố H; Nghề nghiệp: Phục vụ nhà hàng; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Chăm; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Hồi giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Châu S2 và bà Fati M2; Hoàn cảnh gia đình: Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không. Sau khi chấp hành xong hình phạt 01 năm 03 tháng tù theo Bản án hình sự sơ thẩm số 34/2023/HS-ST ngày 10/5/2023 của Tòa án nhân dân quận T, Thành phố H, ngày 24/12/2023 được trả tự do. Đến ngày 26/5/2025, bị cáo bị tạm giam cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
5. As Na H, sinh năm 1993 tại tỉnh A; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư
trú: ấp C, xã C, thị xã T (nay là xã C), tỉnh A; Nghề nghiệp: Kinh doanh tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Chăm; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Hồi giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Y và bà Sa Ky R; Hoàn cảnh gia đình: Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không. Sau khi chấp hành xong hình phạt 01 năm 03 tháng tù theo Bản án hình sự sơ thẩm số 34/2023/HS-ST ngày 10/5/2023 của Tòa án nhân dân quận T, Thành phố H, ngày 24/12/2023 được trả tự do. Đến ngày 26/5/2025, bị cáo bị tạm giam cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
6. Assana Q, sinh năm 1991 tại Thành phố H; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú
và nơi cư trú: 95/20 đường H, phường M, quận P (nay là phường P), Thành phố H; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Chăm; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Hồi giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đoàn Văn Đg và bà Am; Hoàn cảnh gia đình: có vợ là bà Az và có 01 người con sinh năm 2024; Tiền án, tiền sự: Không. Sau khi chấp hành xong hình phạt 01 năm 03 tháng tù theo Bản án hình sự sơ thẩm số 34/2023/HS-ST ngày 10/5/2023 của Tòa án nhân dân quận T, Thành phố H, ngày 24/12/2023 được trả tự do. Đến ngày 26/5/2025, bị cáo bị tạm giam cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
7. Musa K, sinh năm 1989 tại Thành phố H; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú
và nơi cư trú: 95/20 đường H, phường M, quận P (nay là phường P), Thành phố H; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Chăm; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Hồi giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đoàn Văn Đg và bà Am; Hoàn cảnh gia đình: có vợ là bà F và có 01 người con sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không. Sau khi chấp hành xong hình phạt 01 năm 03 tháng tù theo Bản án hình sự sơ thẩm số 34/2023/HS-ST ngày 10/5/2023 của Tòa án nhân dân quận T, Thành phố H, ngày 24/12/2023 được trả tự do. Đến ngày 26/5/2025, bị cáo bị tạm giam cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
8. Ha Mid Ab Do Ra Z, sinh năm 2001 tại tỉnh A; Nơi đăng ký hộ khẩu thường
trú: Ấp C, xã C, thị xã T (nay là xã C), tỉnh A; Nơi cư trú: 123/12 đường C, phường M, quận P (nay là phường P), Thành phố H; Nghề nghiệp: Sinh viên; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Chăm; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Hồi giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Ab và bà Kh; Hoàn cảnh gia đình: chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không. Sau khi chấp hành xong hình phạt 01 năm 03 tháng tù theo Bản án hình sự sơ thẩm số 34/2023/HS-ST ngày 10/5/2023 của Tòa án nhân dân quận T, Thành phố H, ngày 24/12/2023 được trả tự do. Đến ngày 26/5/2025, bị cáo bị tạm giam cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
9. Mohamad A, sinh năm 1986 tại Thành phố H; Nơi đăng ký hộ khẩu thường
trú và nơi cư trú: 111/23 đường H, phường M, quận P (nay là phường P), Thành phố H; Nghề nghiệp: Giao hàng; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Chăm; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Hồi giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Ys và bà Nguyễn Thị Y1; Hoàn cảnh gia đình: có vợ là bà Rothi G1 và có 01 người con sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không. Sau khi chấp hành xong hình phạt 01 năm 03 tháng tù theo Bản án hình sự sơ thẩm số 34/2023/HS-ST ngày 10/5/2023 của Tòa án nhân dân quận T, Thành phố H, ngày 24/12/2023 được trả tự do. Đến ngày 26/5/2025, bị cáo bị tạm giam cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho các bị cáo Assana Q, Ha Mid Ab Do Ra Z và As Na H1:
Luật sư Trần Minh Hg –Văn phòng Luật sư G thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau: Khoảng 02 giờ ngày 24/9/2022, Công an Thành phố H phối hợp với Công an quận T và Trung đoàn Cảnh sát cơ động tiến hành kiểm tra hành chính tại căn hộ 6.04 chung cư The Tr, số 39-39B đường B, phường M, quận T, Thành phố H, phát hiện tại căn phòng thứ 3, bên phải của căn hộ 6.04 có 09 đối tượng gồm: Sa L, Mach S1, Sala H, M1, As Na H1, Assana Q, Musa K , Ha Mid Ab Do Ra Z, Mohamad A, tổ công tác thu giữ:
- Trên kệ tủ 01 gói nylon chứa 01 viên nén màu xám, 02 gói nylon chứa tinh
thể không màu;
- Trong hộc kệ tủ: 01 đĩa sứ; 01 thẻ nhựa; 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 20.000
đồng (cuộn tròn);
- Trong phòng ngủ thứ 3: 01 loa xách tay màu đen hiệu Harman/Kardon; 03
máy chiếu (01 máy màu đen hiệu Laser Show; 01 máy màu trắng không rõ hiệu; 01 máy màu trắng hiệu X Gimi Elfin), 02 bình khí màu xanh.
Cả 9 đối tượng thừa nhận vừa sử dụng xong ma túy tại đây. Kết quả xét nghiệm
chất ma túy trong cơ thể: Sa L, Mach S1, Sala H, M1, As Na H1, Assana Q, Musa K, Ha Mid Ab Do Ra Z và Mohamad A đều dương tính với ma tuý Ketamine và MDMA nên tổ công tác tiến hành lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Sa L, Mach S1, Sala H, M1, As Na H1, Assana Q, Musa K, Ha Mid Ab Do Ra Z, Mohamad A và thu giữ vật chứng.
Kết luận giám định số 5524/KL-KTHS ngày 30/9/2022 của Phòng Kỹ thuật
Hình sự Công an Thành phố H kết luận: 01 viên nén màu xám, là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,3538 gam, loại MDMA; 02 gói nylon chứa tinh thể không màu đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng: 2,7748 gam, loại Ketamine.
Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo khai nhận: Ngày 18/9/2022, khi Sa L, Mach
S1, Z, Assana Q, A, Sala H cùng ăn tối tại số 666 đường H, quận B, A đưa ra ý kiến hùn tiền thuê phòng, mua ma túy để sử dụng nhân dịp tổ chức lại sinh nhật cho Sa L vào ngày 23/9/2022, cả nhóm đồng ý. Sau đó, Sa L nhắn tin rủ As Na H1 và M1. M1 nhắn tin rủ thêm Musa K thì tất cả đồng ý.
Khoảng 20 giờ ngày 23/9/2022, Sa L, Z, H1, Sala H uống bia tại số 37 đường
N, phường N, quận M, cả nhóm nhắc lại việc thuê phòng sử dụng ma túy như đã bàn bạc ngày 18/9/2022 nên Sala H liên hệ với bạn qua Facebook nhờ đặt phòng và được cho số điện thoại 0888999606 của Nguyễn Hoàng A1 để liên hệ. Sala H liên lạc đến A1 đặt thuê phòng để sử dụng ma tuý với giá 2.500.000 đồng trong vòng 12 giờ và đưa số điện thoại của A1 cho Sa L để đến Chung cư The Tr nhận phòng trước. Sala H đưa số điện thoại của đối tượng tên Th (không rõ lai lịch) để Sa L liên hệ đặt mua ma túy. Sau đó, Sa L, Mach S1, Z, H1 đến Chung cư The Tr nhận phòng. Sa L chở As Na H1 bằng xe mô tô của Sa L; Z, Mach S1 đi xe mô tô riêng: Trên đường đi, Sa L liên hệ với Th để đặt mua 10 con kẹo (ma túy loại MDMA), nửa hộp khay (ma túy loại Ketamine) giao đến Chung cư The Tr.
Khoảng 22 giờ ngày 23/9/2022, Sa L, Mach S1, Z, As Na H1 đến Chung cư
The Tr, gửi xe tại tầng hầm B3, Sa L gọi điện thoại báo với A1, sau đó, cả nhóm được Phạm Ngọc Ph (người giúp việc cho A1) đưa lên nhận căn hộ 06.04 chung cư The Tr. Ph giao cho Mach S1 một thẻ màu trắng đi thang máy và cho mật mã để mở cửa phòng số 06.04. Khoảng 22 giờ 40 phút cùng ngày, Mohamad A, Sala H đến, gửi xe mô tô tại tầng hầm B3 Chung cư The Tr và được Mach S1 xuống đón lên căn hộ. Khoảng 20 phút sau, Assana Q cũng đến và được As Na H1 xuống đón, đưa lên căn hộ.
Sau khi nhận căn hộ, Sa L điện thoại cho Th đặt mua 10 viên ma tuý loại
MDMA và nửa hộp 5 (khoảng 05 gam) loại Ketamine, Th báo khoảng 05 phút sau xuống góc tối bên cạnh cổng trường học N, phía giáp đường B gặp shipper để nhận ma tuý. Sa L và Mach S1 đến điểm hẹn, gặp một thanh niên giao cho Mach S1 một hộp quà, bên trong đựng một bịch nylon màu hồng trắng chứa ma túy gồm viên nén MDMA và Ketamine. Mach S1 cất hộp này vào túi quần rồi cùng Sa L đến cửa hàng tiện lợi tại tầng trệt chung cư The Tr để phụ Z và As Na H1 đem thức ăn lên căn hộ 06.04.
Khoảng 00 giờ 15 phút ngày 24/9/2022, cả nhóm gồm 09 đối tượng cùng sử
dụng ma tuý, nghe nhạc tại căn phòng thứ 3, bên phải của căn hộ 06.04. Trong đó, Sa L, Mach S1, Sala H, M1, As Na H1, Musa K, Ha Mid Ab Do Ra Z, Mohamad A đều sử dụng 01 viên ma túy MDMA, riêng Assana Q sử dụng 1/2 viên ma túy MDMA (còn nửa viên bị rơi, không tìm thấy) và sử dụng ma túy Ketamine, với lượng khác nhau: Sala H, Ha Mid Ab Do Ra Z, As Na H1 cùng sử dụng 04 đường kẻ ma túy Ketamine; M1 sử dụng 2-3 đường kẻ Ketamine; Assana Q: 02 đường kẻ ma túy Ketamine; Mohamad A, Mach S1, Musa K sử dụng 01 đường kẻ ma túy Ketamine. Đến khoảng 02 giờ ngày 24/9/2022, cả nhóm bị tổ công tác kiểm tra, bắt quả tang như nêu trên.
Đối với Nguyễn Hoàng A1: Từ cuối năm 2020, A1 thuê căn hộ 6.04, (cùng
các căn 7.01, 7.02, 7.04, 8.03) chung cư The Tr, số 39-39B đường B, phường M, quận T, Thành phố H, cải tạo lại phòng ngủ trong căn hộ, trang bị loa, đèn chiếu, máy chiếu và cho khách thuê lại để sử dụng ma túy. Đồng thời, A1 thuê Trịnh Văn T, Phạm Ngọc P, Hà Văn T1 phụ giúp trong việc đưa khách lên căn hộ để tổ chức sử dụng ma túy. A1 móc nối Nguyễn Trọng N, Trần Trung N1, là bảo vệ chung cư để Trọng N, Trung N1 tạo điều kiện thuận lợi cho nhóm của A1 đưa khách lên các căn hộ sử dụng ma tuý và thông báo khi Công an kiểm tra chung cư.
Vật chứng vụ án gồm có:
* Thu giữ tại căn hộ 6.04: 01 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên
Mach S1, Sa L và hình dấu Công an phường M, quận T, bên trong mẫu vật còn lại sau giám định; 01 loa xách tay màu đen hiệu Harman/Kardon; 03 máy chiếu (01 máy màu đen hiệu Laser Show; 01 máy màu trắng không rõ hiệu; 01 máy màu trắng hiệu X Gimi Elfin); 01 đĩa sứ, 01 thẻ nhựa, 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 20.000 đồng (được cuộn tròn), 02 bình khí màu xanh.
* Tạm giữ của Sa L: 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh đã qua sử
dụng; 01 bóp da màu nâu; 01 căn cước công dân số 089094023305, tên Sa L; 200.000 đồng tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam và 01 xe mô tô hiệu Honda AirBlade màu đỏ đen, biển số 84K1-400.61, số khung: RLHJA3634LY002926, số máy: JA34E0853605. Qua xác minh do Nguyễn Ngọc Tr mua và đứng tên đăng ký. Tháng 5/2021, Tr đã bán xe cho cửa hàng “Thanh Đ” nhưng không làm thủ tục mua bán, chỉ thỏa thuận miệng với chủ cửa hàng là Nguyễn Thanh Đ. Ngày 17/10/2021, Đ bán lại xe cho Ap - là cậu vợ của Sa L, có viết hóa đơn mua bán tay của cửa hàng “Thanh Đ”, mã số thuế 3702372438. Ngày 23/9/2022, Sa L mượn xe của Ap để đi công việc. Ap không biết việc Sa L sử dụng xe để làm phương tiện đến căn hộ sử dụng ma túy.
* Tạm giữ của Mach S1: 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu hồng; 01 căn
cước công dân số 079088008117, tên Mach S1; 200.000 đồng tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam; 01 xe mô tô hiệu Atila màu đen, biển số 59E1-359.27, số khung: LDBD006688, số máy: VT3CD006688. Qua xác minh do Ag (sinh năm: 1984; Nơi thường trú: 95/4C đường H, phường M, quận P, là anh ruột của Mach S1) mua và đứng tên đăng ký. Ngày 23/9/2022, Mach S1 mượn xe để đi làm, sau đó đến chung cư The Tr sử dụng ma túy. Ag không biết sự việc trên. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại tài sản cho chủ sở hữu.
* Tạm giữ của Sala H: 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu đen; 01 bóp da
màu đen; 01 căn cước công dân số 079096039331, tên Sala H; 01 máy tính xách tay màu đen hiệu Asus kèm 01 (một) chuột máy tính và 01 USB màu bạc hiệu San Disk (đã qua sử dụng); 500.000 đồng tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam.
* Tạm giữ của M1: 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu đen đã qua sử dụng;
01 bóp da màu đen; 01 căn cước công dân số 089096001429, tên M1; 400.000 đồng tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam; 01 xe mô tô hiệu Suzuki Satria màu xanh-đen, biển số 67H1-63390, số khung: MH8DL11AZKJ189434, số máy: CGA1-ID189422. Qua xác minh do M1 đứng tên đăng ký.
* Tạm giữ của As Na H1: 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu trắng đã qua
sử dụng; 01 bóp da màu đen; 01 chứng minh nhân dân số 352161273, tên As Na H1; 700.000 đồng tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam.
* Tạm giữ của Assana Q: 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng đã qua
sử dụng; 01 bóp da màu đen; 01 căn cước công dân số 079091017631, tên Assana Q; 500.000 đồng tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam.
* Tạm giữ của Musa K: 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu xanh đã qua sử
dụng; 01 bóp da màu đen; 400.000 đồng tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam.
* Tạm giữ của Ha Mid Ab Do Ra Z: 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu
đen; 01 bóp da màu đen đã qua sử dụng; 01 căn cước công dân số 0892010116355, tên Ha Mid Ab Do Ra Z; 500.000 đồng tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam và 01 xe mô tô hiệu Honda Vario màu đỏ-đen đã qua sử dụng, biển số 67H1-62785, số khung: KF41E1408900, số máy: MH1KF4119KK. Qua xác minh do Hamide Abdo L là anh ruột của bị cáo là chủ sở hữu. Ngày 23/9/2022, Ha Mid Ab Do Ra Z mượn xe của Hamide Abdo L để đi học, rồi đi đến chung cư The Tr sử dụng ma túy cùng các bị cáo khác thì bị bắt. Hamide Abdo L không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại tài sản cho chủ sở hữu.
* Tạm giữ của Mohamad A: 01 điện thoại di động hiệu Mobell, đã qua sử
dụng. Ngày 23/9/2022, bị cáo sử dụng điện thoại để liên lạc với Sala H để cùng đến căn hộ 6.04 chung cư The Tr sử dụng ma túy và 01 xe mô tô hiệu Honda Vision màu đỏ, đã qua sử dụng, biển số 67H1- 455.65, số khung: RLHJF5812GY712602, số máy: JF66E0712218. Qua xác minh do Trần Thanh X là cha vợ của bị cáo là chủ sở hữu. Ngày 23/9/2022, bị cáo mượn xe của ông Trần Thanh X để đi công việc riêng rồi bị cáo tiếp tục sử dụng xe đi đến căn hộ 6.04 chung cư Tr để sử dụng ma túy thì bị bắt. Ông X không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T nhận thấy xe máy này là tài sản hợp pháp của X nên ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại tài sản cho chủ sở hữu.
Các đồ vật, vật chứng đã được bàn giao cho Thi hành án dân sự quận T ngày
14/4/2023 và Tòa án nhân dân quận T có quyết định xử lý vật chứng theo Bản án hình sự sơ thẩm số 34/2023/HS-ST ngày10/5/2023.
Tại bản cáo trạng số 828/CT-VKSTPHCM-P1 ngày 23 tháng 9 năm 2025,
Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H truy tố các bị cáo Sa L, Mach S1, Sala H, M1, As Na H1, Musa K, Ha Mid Ab Do Ra Z, Mohamad A và Assana Q phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255, điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung 2017, năm 2025.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1, Thành phố H giữ
quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo như nội dung bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025, tuyên bố các bị cáo Sa L, Mach S1, Sala H, M1, As Na H1, Musa K, Ha Mid Ab Do Ra Z, Mohamad A và Assana Q phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đề nghị xử phạt các bị cáo từ 07 (bảy) năm đến 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung cho hai tội từ 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù đến 10 (mười) năm tù. Về xử lý vật chứng và án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo đã thi hành xong.
- Người bào chữa cho các bị cáo Assana Q, Ha Mid Ab Do Ra Z và As Na H1:
Thống nhất tội danh “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255, điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung 2017, năm 2025 mà Viện kiểm sát truy tố đối với các bị cáo. Tuy nhiên mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với các bị cáo là quá nghiêm khắc. Sau khi chấp hành xong hình phạt 01 năm 03 tháng tù mà Toà án nhân dân quận T, Thành phố H xét xử các bị cáo đã có cuộc sống ổn định, không vi phạm pháp luật. Ha Mid Ab Do Ra Z tiếp tục học và tốt nghiệp Đại học với thành tích tốt. Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong quá trình giải quyết vụ án. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s, điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự áp dụng mức áp thấp nhất cho các bị cáo.
- Các bị cáo Assana Q, Ha Mid Ab Do Ra Z và As Na H1 thống nhất ý kiến của
luật sư bào chữa, không tranh luận thêm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1, Thành phố H tranh luận đối đáp:
Khi luận tội, đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo. Đối với tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, được hiểu là trường hợp người phạm tội có những hành vi, lời khai thể hiện sự hợp tác tích cực với cơ quan có trách nhiệm trong việc nhanh chóng làm sáng tỏ vụ án, giúp các cơ quan này phát hiện thêm tội phạm mới hoặc đồng phạm mới. Do các bị cáo bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang nên việc người bào chữa đề nghị là không có căn cứ áp dụng.
Các bị cáo còn lại trong vụ án khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp
với nội dung bản cáo trạng, không bào chữa, không tranh luận. Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để có cơ hội sửa chữa sai lầm.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Thành phố
H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1, Thành phố H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa các bị cáo có lời khai thống nhất như sau:
Vào ngày 18/9/2022 và ngày 23/9/2022 các bị cáo Sa L, Mach S, Z, Assana
Q, A, Sala H bàn bạc, thống nhất ngày 23/9/2022 sẽ cùng nhau thuê phòng để tổ chức sinh nhật cho Sa L và sau đó sử dụng ma túy. Sala H được phân công liên hệ đối tượng Nguyễn Hoàng A1 thuê phòng 6.04 chung cư The Tr, số 39-39B đường B, phường M, quận T, giá 2.500.000 đồng trong thời gian 12 giờ và nhắn tin cho các bị cáo As Na H1, M1 và Musa K biết để cùng tham gia. Sa L liên hệ đối tượng Th để đặt mua ma túy và cùng với Mach S1 trực tiếp nhận ma túy để cả nhóm cùng sử dụng.
As Na H1 khai vào lúc 18h30 ngày 20/9/2022, H1 nhận tin nhắn từ Sa L mời
lên dự sinh nhật, đến 20 giờ ngày 23/9/2022 H1 đã có mặt tại Thành phố H và trong lúc đi ăn cùng nhóm thì As Na H1 nghe Sa L gọi điện đặt mua ma túy nên biết việc cả nhóm sẽ cùng nhau sử dụng ma túy. Khi đến nơi thì ma túy chưa có trong phòng 6.04, sau đó Sa L và Mach S1 đi nhận ma túy, còn As Na H1 thì đi mua bia để cả nhóm uống và sử dụng ma túy.
M1 khai: Tối ngày 20/9/2022, Sa L nhắn tin có nội dung: Tối thứ 6, sáng thứ
7 có một chầu sinh nhật. Sau khi xem xong bị cáo nhắn “ok” và xóa tin. Bị cáo xác định biết việc tổ chức sinh nhật có sử dụng ma túy nên đồng ý. Vào lúc 23h30, M1 nhắn tin hỏi Musa K đã đến chưa để cùng nhau qua điểm hẹn. Bị cáo xác định số tiền mua ma túy và tiền thuê phòng sẽ được chia đều cho những ai tham gia.
Musa K khai: Vào lúc 19 giờ ngày 23/9/2022 tại cửa hàng của bị cáo thì các
đối tượng gồm Sala H, Z, As Na H1, Sa L nói tối nay có tiệc sinh nhật và bị cáo biết nhóm bàn bạc thống nhất thuê địa điểm sử dụng ma túy. Đến 23h30 phút, M1 nhắn tin cho bị cáo và hẹn gặp nhau tại chung cư The Tr. Sau khi được một thanh niên dẫn lên phòng 6.04 thì cả nhóm cùng nhau sử dụng ma túy và thống nhất sau khi chơi ma túy xong sẽ cùng nhau trả tiền.
Đến 02h ngày 24/9/2022 khi cả nhóm sử dụng ma túy thì bị bắt quả tang.
Xét thấy, lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản
bắt người phạm tội quả tang; Biên bản khám nghiệm hiện trường; Biên bản khám xét, biên bản niêm phong tài liệu, đồ vật; Biên bản đối chất; Kết luận giám định 5524/KL-KTHS ngày 30/9/2022 của Công an Thành phố H đã đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 02 giờ ngày 24/9/2022, phòng 6.04 chung cư The Tr, số 39-39B đường B, phường M, quận T (nay là phường X), Thành phố H, các bị cáo Sa L, Mach S1, Z, Assana Q, A, Sala H, As Na H1, M1, Musa K có hành vi cùng nhau thuê phòng, mua ma tuý để sử dụng chung. Ma tuý các bị cáo tàng trữ có khối lượng 0.3538g loại MDMA và ma túy ở thể rắn có tổng khối lượng 2.7748g, loại Ketamin. Hành vi của Sa L, Mach S, Z, Assana Q, A, Sala H, As Na H1, M1, Musa K đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp “đối với 02 người trở lên” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp “có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 và điểm i khoản 1 Điều 249 luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025. Do đó cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1, Thành phố H truy tố các bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật.
Đây là vụ án có đồng phạm nhưng là đồng phạm giản đơn, hành vi phạm tội
của các bị cáo đã xâm phạm đến sự quản lý độc quyền về ma túy của Nhà nước, nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng xấu đến trật trị trị an ở địa phương và tiếp tay cho những phần tử xấu duy trì tệ nạn ma túy. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt có xem xét cho các bị cáo các tình tiết giảm thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu. Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật, giúp các bị cáo cải tạo tốt, sớm trở về hòa nhập cộng đồng.
Đối với tội phạm về ma tuý, ngoài hình phạt chính lẽ ra còn áp dụng hình
phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo. Tuy nhiên, các bị cáo trong vụ án đều có hoàn cảnh khó khăn, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 34/2023/HS-ST ngày 10/5/2023 của Tòa án
nhân dân quận T, Thành phố H đã xử phạt các bị cáo 01 năm 03 tháng tù, các bị cáo đã chấp hành xong hình phạt ngày 24/12/2023. Đến ngày 20/01/2025, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố H ban hành Quyết định giám đốc thẩm số 05/2025/HS-GĐT, hủy toàn bộ Bản án hình sự sơ thẩm số 34/2023/HS-ST ngày 10/5/2023 của Tòa án nhân dân quận T để điều tra lại. Ngày 26/5/2025, các bị cáo bị tạm giam cho đến nay do đó thời hạn giam giữ từ ngày 24/9/2022 đến ngày 24/12/2023 sẽ được trừ vào thời hạn thi hành án án đối với hành vi mà các các bị cáo bị xét xử.
Đối với các đối tượng Nguyễn Hoàng A1, Trịnh Văn T, Phạm Ngọc Ph,
Hà Văn T1 có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Hiện Cơ quan cảnh sát điều tra tách hành vi để xử lý trong cùng vụ án khác.
Xử lý vật chứng: Đã giải quyết xong theo Bản án số 34/2023/HS-ST ngày
10/5/2023 của Tòa án nhân dân quận T, Thành phố H.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo đã nộp xong án phí theo Bản án số
34/2023/HS-ST ngày 10/5/2023 của Tòa án nhân dân quận T, Thành phố H.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1
Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 55, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025: Xử phạt Sa L 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung cho hai tội là 08 (tám) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/5/2025, được trừ đi thời hạn bị cáo đã chấp hành án từ ngày 24/9/2022 đến ngày 24/12/2023.
2. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1
Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 55, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025: Xử phạt Mach S1 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung cho hai tội là 08 (tám) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/5/2025, được trừ đi thời hạn bị cáo đã chấp hành án từ ngày 24/9/2022 đến ngày 24/12/2023.
3. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1
Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 55, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025: Xử phạt Sala H 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung cho hai tội là 08 (tám) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/5/2025, được trừ đi thời hạn bị cáo đã chấp hành án từ ngày 24/9/2022 đến ngày 24/12/2023.
4. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1
Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 55, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025: Xử phạt M1 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung cho hai tội là 08 (tám) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/5/2025, được trừ đi thời hạn bị cáo đã chấp hành án từ ngày 24/9/2022 đến ngày 24/12/2023.
5. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1
Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 55, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025: Xử phạt As Na H1 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung cho hai tội là 08 (tám) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/5/2025, được trừ đi thời hạn bị cáo đã chấp hành án từ ngày 24/9/2022 đến ngày 24/12/2023.
6. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1
Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 55, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025: Xử phạt Assana Q 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung cho hai tội là 08 (tám) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/5/2025, được trừ đi thời hạn bị cáo đã chấp hành án từ ngày 24/9/2022 đến ngày 24/12/2023.
7. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1
Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 55, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025: Xử phạt Musa K 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung cho hai tội là 08 (tám) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/5/2025, được trừ đi thời hạn bị cáo đã chấp hành án từ ngày 24/9/2022 đến ngày 24/12/2023.
8. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1
Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 55, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025: Xử phạt Ha Mid Ab Do Ra Z 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung cho hai tội là 08 (tám) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/5/2025, được trừ đi thời hạn bị cáo đã chấp hành án từ ngày 24/9/2022 đến ngày 24/12/2023.
9. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1
Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 55, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025: Xử phạt Mohamad A 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung cho hai tội là 08 (tám) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/5/2025, được trừ đi thời hạn bị cáo đã chấp hành án từ ngày 24/9/2022 đến ngày 24/12/2023.
10. Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Các bị
cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
11. Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì
người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Tòa án nhân dân TP. H; - Viện kiểm sát nhân dân TP.H; - Sở Tư pháp TP. H; - VKSND Khu vực 1, TP.H; - Công an Thành phố H; - Phòng THADS Khu vực 1, TP.H; - Thi hành án hình sự Khu vực 1, TP.H; - Lưu VP - hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Nhật Minh |