vanban.org

Bản án 24/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” đối với Trần Công N.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 20 (hai mươi) tháng, kể từ ngày được giao vào quản lý tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Điện Biên, ngày 06/5/2026. Về quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với quyết định: Anh Trần Công N có quyền khiếu nại; Công an xã N, tỉnh Điện Biên có quy… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Trần Công N"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” đối với Trần Công N.
  • Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 – ĐIỆN BIÊN
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 24/QĐ-TAĐiện Biên, ngày 27 tháng 5 năm 2026.

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chínhđưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Chu Thị Chức.

2. Thư ký phiên họp: Bà Trần Thanh Hằng.

Ngày 27 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 – Điện Biên, tỉnh Điện Biên tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 26/QĐ - TA ngày 21 tháng 5 năm 2026 đối với: Họ và tên: Trần Công N (tên gọi khác: không có tên gọi khác); Sinh ngày: 25/9/1992; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Số CCCD: 0110xxxxxxx, ngày cấp: 24/6/2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về TTXH. Nguyên quán: xã K, tỉnh H. Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Bản H, xã N, tỉnh Đ. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 11/5/2011 Tòa án nhân dân huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên đã xét xử Trần Công N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” xử phạt 30 tháng tù giam, ngày 27/01/2013 N đã chấp hành xong bản án (đã được xóa án tích); Ngày 03/12/2015 Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên đã xét xử Trần Công N về tội “Cướp giật tài sản” xử phạt 04 năm tù giam, ngày 18/6/2019 N đã chấp hành xong bản án (đã được xóa án tích). Con ông: Trần Văn C; Con bà: Vừ Thị Châu L.

Người bị đề nghị Trần Công N đang bị quản lý tại cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Điện Biên từ ngày 06/5/2026 cho đến nay. Có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Sùng A Khai– Trưởng Công an xã N, tỉnh Điện Biên. 2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Điện Biên: Bà Nguyễn Thị Hiền - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Hành vi của Trần Công N và quá trình xây dựng hồ sơ đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc như sau:

Trần Công N sử dụng ma túy, có nơi cư trú ổn định tại bản Hin 2, xã N, tỉnh Điện Biên. Ngày 17/4/2026 N có đơn đề nghị Trạm y tế xã N, tỉnh Điện Biên xác định tình trạng nghiện ma tuý. Kết quả: Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 23/4/2026 của Trạm y tế xã N, tỉnh Điện Biên kết luận: Trần Công N nghiện chất ma túy: Loại H và M.

Ngày 23/4/2026, Công an xã N thông báo về việc đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện, yêu cầu Trần Công N đăng ký cai nghiện tự nguyện theo quy định tại Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng chống ma túy, luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy, trong thời hạn 5 ngày làm việc N phải đăng ký cai nghiện tự nguyện, nhưng hết thời hạn trên Trần Công N vẫn không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện theo quy định.

Ngày 06/5/2026 Công an xã N đã lập biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện số: 06/BB-VPHC đối với Trần Công N. Ngày 07/5/2026, Công an xã N, thông báo lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Công N.

Tại bản tường trình về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Trần Công N thừa nhận đã sử dụng ma túy lần đầu từ năm 2013, loại ma túy sử dụng là Methamphetamine, Heroine, hình thức sử dụng là hít, mỗi ngày sử dụng từ 01 lần đến 02 lần, lý do sử dụng là để thỏa mãn cơn nghiện của bản thân, khi sử dụng ma túy cảm thấy tinh thần thoải mái, hứng phấn, không sử dụng ma túy cảm thấy khó chịu, mệt mỏi không làm được việc gì. Thời điểm sử dụng ma túy lần cuối là ngày 03/5/2026.

Ngày 13/5/2026, Trưởng Công an xã N có đề nghị số: 06/ĐN-CNBB, đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 4 - Điện Biên, tỉnh Điện Biên xem xét đưa Trần Công N vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Quá trình lập hồ sơ, Trần Công N đã được thông báo về việc lập hồ sơ và được đọc hồ sơ đúng quy định.

Tại phiên họp:

Đại diện Cơ quan đề nghị trình bày ý kiến: Giữ nguyên quan điểm theo đề nghị số: 06/ĐN-CNBB ngày 13/5/2026 của Công an xã N, tỉnh Điện Biên. Đề nghị Tòa án xem xét áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Công N. Nơi chấp hành: Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Điện Biên (Địa chỉ: Thôn C, xã T, tỉnh Điện Biên).

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Điện Biên có ý kiến: Trình tự, thủ tục lập hồ sơ của cơ quan đề nghị và quá trình thụ lý, giải quyết của Toà án đối với việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Công N được thực hiện đúng theo quy định. Người bị đề nghị Trần Công N đã được bảo đảm các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật. Xét thấy có đủ căn cứ pháp lý đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 4 - Điện Biên áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Trần Công N vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn từ 20 đến 22 tháng.

Người bị đề nghị có ý kiến: Trần Công N xác nhận bản thân nghiện ma tuý và chưa đăng ký hình thức cai nghiện hoặc điều trị nghiện bằng các chất thay thế, nay bản thân nhất trí được đi cai nghiện.

XÉT THẤY:

Trên cơ sở nội dung vụ việc, căn cứ vào các chứng cứ tài liệu có tại hồ sơ đề nghị đã được thẩm tra tại phiên họp cũng như ý kiến của những người tham gia phiên họp thấy rằng:

Về trình tự, thủ tục lập hồ sơ: Tài liệu trong hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Công N đảm bảo về thời hiệu và trình tự, thẩm quyền, đối tượng theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6, Điều 95, khoản 1 Điều 96 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020); khoản 1 Điều 40, khoản 1 Điều 41 của Nghị định số 116/ 2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy; Điều 7, Điều 8 Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025 quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến áp dụng các biện pháp xử lý hành chính, đưa vào trường G, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi khi sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước.

Về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của người bị đề nghị áp dụng:

Trần Công N nghiện và sử dụng trái phép chất ma túy, có đơn đề nghị xác định tình trạng nghiện ma túy và có kết quả xác định là nghiện chất ma túy (loại Methamphetamine và H), N có năng lực trách nhiệm hành chính, có nơi cư trú ổn định. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày được thông báo kết quả xác định nghiện ma túy của cơ quan có thẩm quyền, N vẫn không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện tại Ủy ban nhân dân xã, nơi cư trú là vi phạm vào khoản 1 Điều 32 của Luật phòng chống ma túy; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 33 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính Phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng chống ma túy, luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy nên cần thiết phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với N, để Trần Công N được cai nghiện ma túy, học tập, rèn luyện và lao động trở thành người công dân khỏe mạnh, sống có ích cho gia đình và xã hội.

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hành chính thấy: Ngày 11/5/2011 Tòa án nhân dân huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên đã xét xử Trần Công N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” xử phạt 30 tháng tù giam, ngày 27/01/2013 N đã chấp hành xong bản án (đã được xóa án tích); Ngày 03/12/2015 Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên đã xét xử Trần Công N về tội “Cướp giật tài sản” xử phạt 04 năm tù giam, ngày 18/6/2019 N đã chấp hành xong bản án (đã được xóa án tích), N vẫn không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy, thể hiện ý thức chấp hành pháp luật kém. Do vậy, khẳng định Trần Công N có nhân thân xấu. Tuy nhiên, tại phiên họp N đã tự nguyện khai báo, hối lỗi nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính; Trần Công N không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hành chính.

Ý kiến của cơ quan đề nghị, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Điện Biên đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Công Nghĩa là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ khoản 2 Điều 3, khoản 2 Điều 5, điểm d khoản 2 Điều 6, khoản 2 Điều 9, Điều 95, khoản 1 Điều 96, Điều 103, Điều 104, khoản 2 Điều 105 và Điều 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (Sửa đổi, bổ sung các năm 2020, 2025);

Căn cứ khoản 1 Điều 32 Luật phòng, chống ma túy năm 2021; khoản 1 Điều 28, Điểm a khoản 1 Điều 33, khoản 1 Điều 40, khoản 1 Điều 41, khoản 3 Điều 44 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của luật Phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện; Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 3, Điều 8, Điều 17, Điều 21, Điều 23, Điều 24, Điều 30, Điều 31, Điều 32 và Điều 33 của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; khoản 1 Điều 5 Pháp lệnh 08/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025;

Căn cứ Điều 7, Điều 8 và Điều 11 của Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025 quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến áp dụng các biện pháp xử lý hành chính, đưa vào trường G, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi khi sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” đối với Trần Công N.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 20 (hai mươi) tháng, kể từ ngày được giao vào quản lý tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Điện Biên, ngày 06/5/2026.

3. Về quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với quyết định: Anh Trần Công N có quyền khiếu nại; Công an xã N, tỉnh Điện Biên có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Điện Biên, tỉnh Điện Biên có quyền kháng nghị Quyết định này bằng văn bản gửi đến Tòa án nhân dân khu vực 4 – Điện Biên, tỉnh Điện Biên trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định (27/5/2026).

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị. 5. Cơ quan thi hành quyết định: Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Điện Biên./.

Cỡ chữ