vanban.org

Bản án 24/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Sơn La Tuyên án 29/09/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 29/09/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Cầm Văn K, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 79/2021/HS - ST ngày 11/8/2021 của Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La như sau:

Xử phạt bị cáo Cầm Văn K 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 29/01/2021). Án phí: Bị cáo Cầm Văn K phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cầm Văn K - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Cầm Văn K, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 79/2021/HS - ST ngày 11/8/2021 của Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La như sau:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH SƠN LA
––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2021/HS-PT
Ngày 29 - 9 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Tuấn Long.

Các Thẩm phán: Ông Hoàng Văn Tuyền.

Ông Cầm Văn Thanh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kiều Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Châu - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 49/2021/TLPT-HS ngày 13 tháng 9 năm 2021 đối với bị cáo Cầm Văn K do có kháng cáo của bị cáo Cầm Văn K đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 79/2021/HS - ST ngày 11 tháng 8 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.

Bị cáo có kháng cáo: Cầm Văn K sinh ngày 08/10/1993, tại huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Nơi đăng ký HKTT và nơi ở: Bản B, xã CK, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12. Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; con ông Cầm Văn P sinh năm 1970 và bà Quàng Thị Đ, sinh năm 1972. Có vợ là Quàng Thị S, sinh năm 2000. Bị cáo có 01 con sinh năm 2020; Tiên án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 29/01/2021 đến nay “có mặt”.

Ngoài ra còn có các bị cáo Nguyễn Quý T, Hà Văn H, Hà Trọng T, Nguyễn Văn Tr và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Hoàng Thị P, bà Quàng Thị Đ không có kháng cáo, không bị kháng nghị Tòa án không triệu tập tham gia phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng tháng 02/2020, Cầm Văn K đến huyện Sầm Nưa, tỉnh Hủa Phăn, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào chơi. Tại đây, K nhìn thấy 01 cửa hàng tạp hóa có bày bán các loại pháo nổ và pháo hoa nổ nên K nảy sinh ý định mua về bán kiếm lời. K mua được của một người đàn ông không quen biết 14 dàn pháo hoa nổ loại 49 quả và 09 quả; 11 dàn pháo hoa loại 36 quả; 37 dàn pháo hoa nổ loại 49 quả và 09 túi pháo bi nổ với giá 22.860.000VNĐ và hẹn 02 ngày sau giao pháo tại khu vực rừng cây gần cửa khẩu Chiềng Khương, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Hai ngày sau, K điều khiển xe mô tô hiệu HONDA, biển kiểm soát 26B1- 541.55 đi từ nhà đến nơi hẹn nhận 03 hộp bìa cát tông chứa số lượng pháo K đặt mua rồi chở về cất giấu trong khu rừng cách nhà khoảng 05km. Đến khoảng tháng 10/2020, Cầm Văn K gặp và nói cho Nguyễn Văn Tr và Nguyễn Quý T biết K có pháo muốn bán. Nguyễn Văn T đặt mua của K 02 dàn pháo hoa nổ loại 09 quả và 02 dàn pháo hoa nổ loại 49 quả với giá 4.000.000VNĐ; Nguyễn Quý T đặt mua của K 31 dàn pháo hoa nổ loại 49 quả; 12 dàn loại 09 quả; 06 dàn loại 36 quả; 06 túi pháo bi nổ với giá 46.150.000VNĐ, T trả trước cho K 13.000.000VNĐ và hẹn khi nào bán được sẽ thanh toán số tiền còn lại. Đến ngày 25/01/2021, K điều khiển xe mô tô BKS 26B1- 541.55 đến khu vực cất giấu pháo lấy số lượng hai loại pháo T đặt mua cho vào 01 bao tải dứa màu xanh đem đến cất giấu trong bụi cây ven đường gần khu vực đầu cầu phao nổi thuộc xã Chiềng Khương, huyện Sông Mã rồi gọi điện cho T nói địa điểm cất giấu pháo. T điều khiển xe mô tô hiệu HONDA Vison, BKS 26B2- 287.23 đến vị trí K để pháo mang số pháo đó về cất giấu tại nóc nhà vệ sinh của gia đình, mục đích để đến tết sẽ sử dụng. Ngày 27 và 28/01/2021, K điều khiển xe mô tô đến chỗ cất giấu pháo và lấy số lượng các loại pháo T đặt mua cho vào 02 thùng cát tông rồi chở xuống đường quốc lộ 4G thuộc bản Bó, xã Chiềng Khương, huyện Sông Mã gửi xe ô tô khách chuyển đến khu vực phường Chiềng Sinh, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La cho T. Sau khi nhận được pháo, Nguyễn Quý T cho vào 05 hộp bìa cát tông và cất giấu 04 hộp dưới gầm cầu thang trong nhà; 01 hộp dưới gầm giường gội đầu tại gian bán hàng trước cửa nhà, mục đích để bán kiếm lời.

Khoảng 11 giờ 10 phút ngày 28/01/2021, Hà Trọng T đang ở nhà tại bản Nà Hạ 2, xã Chiềng Mung, huyện Mai Sơn thì Hà Văn H gọi điện nhờ T mua giúp 05 dàn pháo hoa nổ loại 49 quả để đốt chơi tết nguyên đán, T đồng ý và gọi điện cho T đặt vấn đề mua 05 dàn pháo hoa nổ loại 49 quả với giá 7.500.000VNĐ. Sau đó H điều khiển xe mô tô hiệu HONDA BKS 26K1- 7098 đi đến nhà đưa cho T 7.500.000VNĐ. T bảo H ở nhà chờ rồi điều khiển xe mô tô của H đến nhà T. Tại đây, T lấy 05 dàn pháo hoa nổ loại 49 quả trong hộp bìa cát tông để dưới gầm cầu thang trong nhà cho vào 01 bao tải dứa màu xanh bán cho T. Sau đó, T chở bao tải chứa pháo về nhà rồi cùng H lấy một dàn pháo cho vào 01 balo màu đen, 04 dàn pháo cho vào 01 bao tải dứa trắng. H để ba lô và bao tải chứa pháo tại vị trí giá để đồ phía trước xe mô tô rồi điều khiển xe đi tìm nơi cất giấu pháo. Khi đi đến bản Nà Hạ 2, xã Chiềng Mung, Mai Sơn thì bị tổ công tác, Công an huyện Mai Sơn kiểm tra phát hiện và thu giữ tại giá để đồ phía trước xe có 01 chiếc ba lô màu đen chứa 01 hộp có kích thước 16cm x 16cm x 9cm bên trong mỗi hộp có 49 ống giấy hình trụ tròn kích thước 9cm x 2cm và 01 bao tải dứa màu trắng chứa 04 hộp kích thước 16cm x 16cm x 9cm bên trong mỗi hộp có 49 ống hình trụ tròn kích thước 9cm x 2cm ghi là pháo nổ. H khai nhận đó là pháo nổ của H tàng trữ để sử dụng. Ngoài ra còn tạm giữ của H 01 điện thoại di động hiệu Vivo kèm 02 sim điện thoại; số tiền 3.900.000VNĐ; 01 xe mô tô hiệu Wave s biển kiểm soát 26K1- 7098. Số pháo nổ bị thu giữ Hùng khai nhờ Hà Trọng T mua hộ. Khám xét khẩn cấp nơi ở của Hà Trọng T thu giữ vật chứng gồm: 19 ống trụ tròn có kích thước 8cm x 10 cm x 2,3cm nghi là pháo nổ tại tủ quần áo trong phòng ngủ của Ti; 300.000VNĐ; 01 điện thoại di động hiệu OPPO kèm 02 sim điện thoại. T khai nhận số vật chứng thu giữ là pháo nổ của T mua của Nguyễn Quý T, mục đích để sử dụng trong dịp tết nguyên đán.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp người, chỗ ở, đồ vật, đồng thời ban hành Lệnh giữ và bắt người bị giữ trong trường hợp khấn cấp đối với Nguyễn Quý T, kết quả thu giữ: 01 hộp giấy có kích thước 38cm x 29cm x 40cm bên trong chứa 12 bánh, mỗi bánh chứa 49 ống giấy hình trụ tròn và 05 túi nilon chứa các quả tròn nhiều màu nghi là pháo nổ, tại gầm giường trong gian bán hàng của T; 01 hộp giấy kích thước 54cm x 29cm x 36cm bên trong chứa 04 dàn được bọc bằng giấy hoa văn nhiều màu, 02 dàn có kích thước 16cm x 16cm x 11 cm chứa 49 quả; 02 dàn có kích thước 15cm x 15cm x 20cm chứa 09 quả; 01 túi nilon màu trắng chứa các quả tròn nhiều màu nghi là pháo nổ; 01 hộp giấy kích thước 51cm x 28cm x 40cm bên trong chứa 12 dàn được bọc bằng giấy hoa văn nhiều màu, mỗi dàn có kích thước 16cm x 16cm x 11 cm chứa 49 quả nghi là pháo nổ; 01 hộp giấy kích thước 60 m x 30cm x 21cm bên trong chứa 08 dàn được bọc bằng giấy hoa văn nhiều màu, mỗi dàn có kích thước 15cm x 15cm x 20cm chứa 09 quả nghi là pháo nổ. 01 hộp giấy kích thước 44cm x 30cm x 40cm bên trong chứa 06 dàn được bọc bằng giấy hoa văn nhiều màu, mỗi dàn có kích thước 14cm x 14cm x 10cm chứa 36 quả nghi là pháo nổ (tại gầm cầu thang nhà T); 10.950.000VNĐ (tại túi quần của T); 11.800.000VNĐ (trong cốp xe ô tô biển kiểm soát 26A - 098.43); 01 xe ô tô hiệu Toyota Vios biển kiểm soát 26A - 098.43; 02 điện thoại di động (kèm 02 sim điện thoại di động). T khai nhận số vật chứng thu giữ là pháo nổ của T mua của Cầm Văn K, sinh năm 1993, trú tại bản B, xã Chiềng Khương, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La, mục đích để bán kiếm lời.

Ngày 29/01/2021, Cầm Văn K điều khiển xe mô tô BKS 26B1- 541.55 chở toàn bộ số pháo còn lại trên rừng đem về cất giấu tại nhà vệ sinh của gia đình K. Khoảng 13 giờ cùng ngày, K điều khiển xe mô tô chở 04 dàn pháo hoa nổ loại 36 qủa; 02 dàn 49 quả và 02 túi pháo bi nổ cho vào 01 hộp cát tông có nhãn hiệu “nước chấm ngon ông tây” đi đến khu vực đường quốc lộ 4G thuộc địa phận bản Bó, xã Chiềng Khương, huyện Sông Mã mục đích để bán thì bị Tổ công tác Công an huyện Mai Sơn thi hành lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp và thu giữ vật chứng, gồm: 01 hộp giấy có kích thước 25cm x 35cm x 40cm bên trong chứa 04 hộp kích thước 14cm x 14cm x 9cm, mỗi hộp chứa 36 ống giấy hình trụ; 02 hộp kích thước 16cm x 16cm x 9cm, mỗi hộp chứa 49 ống giấy hình trụ; 02 túi nilon màu trắng chứa các quả nhựa tròn nhiều màu nghi là pháo nổ (thu giữ khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp); 01 hộp giấy có kích thước 30cm x 30cm x 50cm bên trong chứa 02 hộp kích thước 16cm x 16cm x 9cm, mỗi hộp chứa 49 ống giấy hình trụ; 01 hộp kích thước 14cm x 14cm x 9cm, mỗi hộp chứa 36 ống giấy hình trụ; 01 túi nilon màu trắng chứa 25 quả nhựa tròn nhiều màu nghi là pháo nổ (tại nhà vệ sinh đằng sau nhà ở của Ka). K khai nhận số vật chứng thu giữ là pháo nổ của K mua của một người đàn ông không biết tên, địa chỉ, mục đích để bán kiếm lời. K khai nhận bán pháo nổ cho Nguyễn Quý T và Nguyễn Văn T, sinh năm 1980, bản Trung Châu, xã Chiềng Khương, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.

Ngày 30/01/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp người, chỗ ở, đồ vật, đồng thời ban hành lệnh giữ và bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Văn T, kết quả thu giữ: 01 bao tải dứa màu xanh bên trong chứa 04 dàn được bọc bằng giấy hoa văn nhiều màu, 02 dàn có kích thước 16cm x 16cm x 10cm và 02 dàn có kích thước 15cm x 15cm x 20cm chứa các ống trụ bằng giấy nghi là pháo nổ (tại nóc nhà vệ sinh), T khai mục đích để sử dụng.

Vào các ngày 29, 30 và 31/01/2021 Cơ quan điều tra Công an huyện Mai Sơn thành lập hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng nghi là pháo thu giữ của Hà Văn H, Hà Trọng T, Nguyễn Quý T, Cầm Văn K, Nguyễn Văn T, kết quả: Vật chứng thu của Hà Văn H là 8,505 kg; của Hà Trọng T là 0,605 kg; của Nguyễn Quý T là 80,774kg; của Cầm Văn K là 14,563kg và của Nguyễn Văn T là 7,497kg.

Tại Kết luận giám định số 897/C09-P2 ngày 01 tháng 02 năm 2021 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an, kêt luận:

- Mẫu vật thu giữ của Hà Văn H gửi giám định gồm 05 khối hộp, vỏ bọc giấy màu, có in hoa văn và chữ nước ngoài, bên trong mỗi khối gồm: 49 vật hình trụ vỏ giấy được liên kết với nhau đều là pháo nổ (pháo hoa nổ), khối lượng 8,505kg.

-Mẫu vật thu giữ của Hà Trọng T gồm: 19 vật hình trụ, vỏ giấy một đầu mỗi vật có gắn dây ngòi đều là pháo nổ (pháo hoa nổ), khối lượng 0,605kg.

- Mẫu vật thu giữ của Cầm Văn K gồm: 04 khối hộp, vỏ bọc giấy màu, có in hoa văn và chữ nước ngoài, bên trong mỗi khối gồm: 49 vật hình trụ vỏ giấy được liên kết với nhau đều là pháo nổ (pháo hoa nổ), khối lượng 6,894kg. 05 khối hộp, vỏ bọc giấy màu, có in hoa văn và chữ nước ngoài, bên trong mỗi khối gồm: 36 vật hình trụ vỏ giấy được liên kết với nhau đều là pháo nổ (pháo hoa nổ), khối lượng 6,695kg. Các vật hình cầu, vỏ nhựa, mỗi đầu mỗi vật có gắn dây ngòi màu xanh đựng trong 03 túi nilon đều là pháo nổ, khối lượng 0,974kg.

- Mẫu vật thu giữ của Nguyễn Văn T gồm: 02 khối hộp, vỏ bọc giấy màu, có in hoa văn và chữ nước ngoài, bên trong mỗi khối gồm: 09 vật hình trụ vỏ giấy được liên kết với nhau đều là pháo nổ (pháo hoa nổ), khối lượng 4,186kg. 02 khối hộp, vỏ bọc giấy màu, có in hoa văn và chữ nước ngoài, bên trong mỗi khối gồm: 49 vật hình trụ vỏ giấy được liên kết với nhau đều là pháo nổ (pháo hoa nổ), khối lượng 3,311kg.

- Mẫu vật thu giữ của Nguyễn Qúy T gồm:26 khối hộp, vỏ bọc giấy màu, có in hoa văn và chữ nước ngoài, bên trong mỗi khối gồm: 49 vật hình trụ vỏ giấy được liên kết với nhau đều là pháo nổ (pháo hoa nổ), khối lượng 44,145kg. 12 khối hộp, vỏ bọc giấy màu, có in hoa văn và chữ nước ngoài, bên trong mối khối gồm: 09 vật hình trụ vỏ giấy được liên kết với nhau đều là pháo nổ (pháo hoa nổ), khối lượng 26,318kg. 06 khối hộp, vỏ bọc giấy màu, có in hoa văn và chữ nước ngoài, bên trong mỗi khối gồm: 36 vật hình trụ vỏ giấy được liên kết với nhau đều là pháo nổ (pháo hoa nổ), khối lượng 7,683kg. Các vật hình cầu, vỏ nhựa, mỗi đầu mỗi vật có gắn dây ngòi màu xanh đựng trong 06 túi nilon đều là pháo nổ, khối lượng 2,628kg”.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 79/2021/HS - ST ngày 11/8/2021 của Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La đã Quyết định:

Tuyên bố bị cáo Cầm Văn K phạm tội; Buôn bán hàng cấm.

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Cầm Văn K 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 29/01/2021).

Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Quý T, Hà Văn H, Hà Trọng T, Nguyễn Văn T về vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 13/8/2021 bị cáo Cầm Văn K có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được cải tạo tại địa phương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án và đề nghị: Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được cải tạo tại địa phương của bị cáo là không có căn cứ chấp nhận. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Cầm Văn K, đề nghị giữ nguyên mức hình phạt của bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong giai đoạn xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo Cầm Văn K:

Căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, có đủ cơ sở xác định: Cầm Văn K đã mua 111,339 kg pháo nổ thuộc danh mục là hàng cấm do chính phủ quy định với mục đích bán kiếm lời. Từ ngày 25 đến ngày 28/01/2021 Cầm Văn K đã bán pháo nổ trái phép cho Nguyễn Quý T thu lợi 13.000.000VNĐ và bán cho Nguyễn Văn T thu lợi 4.000.000VNĐ. Hành vi của bị cáo Cầm Văn K đã phạm tội Buôn bán hàng cấm theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 190 Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Cầm Văn K về tội Buôn bán hàng cấm theo điểm g khoản 2 Điều 190 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật không oan sai.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được cải tạo tại địa phương của bị cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định: Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc buôn bán, tàng trữ pháo nổ là vi phạm pháp luật, nhưng vì tư lợi cá nhân bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật để phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo đã gây mất trật tự an toàn xã hội, trị an tại địa phương nơi xảy ra tội phạm. Bị cáo Cầm Văn K là người trực tiếp mua tổng khối lượng 111,339 kg pháo nổ về bán cho các bị cáo Nguyễn Quý T thu lợi 13.000.000VNĐ và Nguyễn Văn T thu lợi 4.000.000VNĐ nên bị cáo giữ vai trò chính trong vụ án. Bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và bị cáo có người thân được Nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tiền án, tiền sự nhưng bị cáo Cầm Văn K đã hai lần bán hàng cấm cho các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Quý T, khối lượng hàng cấm bị cáo bán của mỗi lần đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm độc lập nên bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội nhiều lần theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Trong quá trình điều tra, bị cáo Cầm Văn K đã tích cực hợp tác với cơ quan điều tra khai ra hành vi phạm tội của Nguyễn Văn T nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo là thiếu sót. Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào khối lượng hàng cấm, nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ tuyên phạt bị cáo mức án 06 năm tù là tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tại cấp phúc thẩm bị cáo không xuất trình được thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo giữ vai trò chính trong vụ án, căn cứ Điều 65 Bộ luật Hình sự và khoản 3 Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo xác định bị cáo không đủ điều kiện được hưởng án treo. Do đó không có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo qui định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Khoản 2 Điều 21, điểm b khoản 2 Điều 23 nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp ,quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Khoản 2 Điều 21, điểm b khoản 2 Điều 23 nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp ,quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Cầm Văn K, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 79/2021/HS - ST ngày 11/8/2021 của Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La như sau:

1. Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 190; điểm s, điểm t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Cầm Văn K phạm tội Buôn bán hàng cấm.

Xử phạt bị cáo Cầm Văn K 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 29/01/2021).

2. Án phí: Bị cáo Cầm Văn K phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 29/9/2021).

Cỡ chữ