vanban.org

Bản án 24/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1 - Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Hà Văn Th và bà Ngô Thị D.

2 - Về con chung: Hiện đã thành niên và có cuộc sống riêng nên không đặt ra xem xét việc nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng. 3 - Về tài sản chung: Ông Th, bà D xác định tự thỏa thuận nên không đặt ra xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ông Th xin ly hôn với bà D"
  • Tòa quyết gì? 1 - Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Hà Văn Th và bà Ngô Thị D.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình tuyên bố; Điều 17 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình tuyên bố
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 – CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 18 – 7 – 2025
V/v “Tranh chấp của nam, nữ
chung sống với nhau như vợ chồng
mà không đăng ký kết hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hứa Minh Hải

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Đỗ Mỹ Lil

2. Bà Lê Trường An

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Tuyết Ngân, là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 – Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

Ngày 18 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 – Cà Mau, tỉnh Cà Mau, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 261/2025/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 6 năm 2025 về việc “Tranh chấp của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Hà Văn Th, sinh năm: 1960 (xin vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp 5, xã K.B, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Bà Ngô Thị D, sinh năm: 1964 (xin vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp 5, xã K.B, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện về việc xin ly hôn của ông Hà Văn Th ngày 06/6/2025; biên bản hòa giải ngày 08/7/2025, các đương sự thống nhất trình bày quan điểm và yêu cầu như sau:

- Về hôn nhân: Ông Hà Văn Th và bà Ngô Thị D chung sống với nhau như vợ, chồng từ năm 1989, có tổ chức lễ cưới theo phong tục, tập quán nhưng không đăng ký kết hôn theo luật định. Trong quá trình chung sống, ông Th và bà D cho rằng vợ, chồng luôn bất đồng quan điểm, thường xuyên cải vả, không thể hòa hợp được với nhau. Trên thực tế ông, bà không còn chung sống vợ, chồng đã 08 năm qua.

Từ nội dung trên, ông Th, bà D nhận thấy tình cảm của ông, bà không còn, không thể hàn gắn để tiếp tục chung sống và duy trì mối quan hệ vợ, chồng được nữa nên ông, bà đều yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông, bà được chấm dứt quan hệ vợ, chồng.

- Về con chung: Ông Th và bà D xác định giữa ông, bà có có 04 người con chung là Hà Kiều D1, sinh năm 1990; Hà Kiều D2, sinh năm 1993; Hà Yến L, sinh năm 2000 và Hà Minh Nh, sinh năm 2003. Hiện các con ông, bà đã có gia đình và sống riêng tư nên không đặt ra trách nhiệm nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Ông Th và bà D xác định tự thỏa thuận.

- Về nợ chung: Ông Th và bà D khai nhận giữa ông, bà không có nợ chung và không ai nợ lại ông, bà.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Về tố tụng dân sự: Về loại việc và thẩm quyền của Toà án: Tranh chấp giữa ông Hà Văn Th và bà Ngô Thị D là “Tranh chấp của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn” nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân được quy định tại khoản 7 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Đối với việc đề nghị vắng mặt của các đương sự: Xét thấy ông Th và bà D có yêu cầu xin được vắng mặt trong phiên tòa xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự tiến hành xét xử vắng mặt ông Th và bà D theo quy định.

Về quan hệ hôn nhân: Trên thực tế, ông Hà Văn Th và bà Ngô Thị D có tổ chức lễ cưới theo phong tục, tập quán, có chung sống với nhau như vợ, chồng từ năm 1989 đến 2017. Theo ông Th và bà D trình bày, giữa ông, bà không đăng ký kết hôn. Do đó, quan hệ hôn nhân của ông Th và bà D đã vi phạm về đăng ký kết hôn được quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình. Cho nên việc kết hôn là không thỏa mãn về mặt hình thức, nay ông Th và bà D có yêu cầu chấm dứt quan hệ hôn nhân do có nhiều mâu thuẫn, về mục đích hôn nhân không đạt. Bởi lẽ, trong thời gian chung sống, ông, bà luôn bất đồng quan điểm trong sinh hoạt gia đình và thường xuyên cải vã, gây bất hòa với nhau mà không bên nào có biện pháp gì để khắc phục tình trạng mâu thuẫn. Bên cạnh đó, ông Th và bà D xác định tình cảm vợ, chồng giữa ông, bà không còn nên ông, bà đã tự sống riêng 08 năm qua.

Theo tinh thần tại điểm b khoản 3 của Nghị quyết 35 của Quốc hội quy định: Kể từ ngày 01/01/2001 trở đi, nam và nữ chung sống với nhau như vợ, chồng mà không đăng ký kết hôn, đều không được pháp luật công nhận là vợ, chồng; nếu có yêu cầu về con và tài sản thì Tòa án áp dụng khoản 2 và khoản 3 Điều 17 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết. Mặt khác, căn cứ khoản 4 Điều 3 của Thông tư liên tịch số: 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp thì trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ, chồng mà không có đăng ký kết hôn (không phân biệt có vi phạm điều kiện kết hôn hay không) và có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý giải quyết và áp dụng Điều 9 và Điều 14 của Luật hôn nhân và gia đình tuyên bố không công nhận quan hệ hôn nhân giữa họ. Nếu có yêu cầu Tòa án giải quyết về quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con ... thì giải quyết theo quy định tại Điều 15 của Luật hôn nhân và gia đình.

Xét mâu thuẫn thực tế của ông, bà đến mức trầm trọng, đời sống chung hiện tại cũng không còn nên mục đích hôn nhân không đạt được, đồng thời hôn nhân có vi phạm về mặt hình thức nên không được công nhận là vợ, chồng.

Về con chung: Xét thấy cháu D1, cháu D2, cháu L, cháu Nh đã thành niên và có cuộc sống riêng nên không đặt ra xem xét việc nuôi con và cấp dưỡng là phù hợp.

Về tài sản chung: Ông Th và bà D xác định giữa ông, bà có tài sản chung nhưng tự thỏa thuận nên không đặt ra xem xét.

Về nợ chung: Ông Th và bà D khai nhận giữa ông, bà không có nợ chung và không ai nợ lại ông, bà nên không đề cập giải quyết.

Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: Ông Th là nguyên đơn nên ông phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật . Tuy nhiên, ông Th là người cao tuổi thuộc đối tượng được miễn án phí, đồng thời ông Th có dơn xin miễn án phí nên xét miễn án phí cho ông Th là phù hợp.

Về quyền kháng cáo: Ông Th và bà D được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ các Điều 9, Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ khoản 4 Điều 3 của Thông tư liên tịch số: 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp;

- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1 - Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Hà Văn Th và bà Ngô Thị D.

2 - Về con chung: Hiện đã thành niên và có cuộc sống riêng nên không đặt ra xem xét việc nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng.

3 - Về tài sản chung: Ông Th, bà D xác định tự thỏa thuận nên không đặt ra xem xét.

4 - Về nợ chung: Ông Th và bà D khai nhận giữa ông, bà không có nợ chung và không ai nợ lại ông, bà nên không đề cập giải quyết.

5 - Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: Ông Hà Văn Th được xét miễn chi ̣u án phí . Ngày 09 tháng 6 năm 2025, ông Th đã được thông báo miễn nộp tiền tạm ứng án phí và án phí nên không đặt ra việc hoàn lại.

6 - Về quyền kháng cáo: Ông Hà Văn Th và bà Ngô Thị D được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được Th hành theo quy định tại Điều 2 Luật Th hành án dân sự thì người được Th hành án dân sự, người phải Th hành án dân sự có quyền thỏa thuận Th hành, quyền yêu cầu Th hành án, tự nguyện Th hành án hoặc bị cưỡng chế Th hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Th hành án dân sự, thời hiệu Th hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Th hành án dân sự.

Cỡ chữ