- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? * Căn cứ: điểm b, điểm c khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51( đối với tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy), điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51( đối với tội Tàng trữ trái phép chất ma túy), Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 55, Điều 58 Bộ luật hình sự( Đối vớ…
- Căn cứ chính? Điều 255 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BỈM SƠN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:24/2023/HS- ST Ngày 07- 7- 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BỈM SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Tống Thị Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quốc Sáu- Cán bộ hưu trí
Bà Dương Thị Ngọc Trang- Giáo viên
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Dung, là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Lê Huyền Diệu - Kiểm sát viên
Ngày 07 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số:19/2023/TLST- HS ngày 13 tháng 6 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số:18/2023/QĐXXST-HS ngày 26/6/2023 đối với các bị cáo:
1. Phạm Quốc T; sinh ngày 10/6/2003; Nơi sinh: phường Đ, thị xã B, tỉnh T, Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Khu phố Đ, phường Đ, thị xã B, tỉnh T; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phạm Văn Ú; Con bà: Vũ Thị C; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 22/12/2020 Xâm hại sức khỏe người khác tại Khu phố T, phường Đ, thị xã B, T bị Công an thị xã Bỉm Sơn xử phạt 1.500.000 đồng (đã thi hành xong); Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/02/2023; Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ, tạm giam Công an huyện H, tỉnh T (có mặt).
2. Mai Văn H; sinh ngày 01/12/2004; Nơi sinh: phường Đ, thị xã B, tỉnh T; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Khu phố Đ, phường Đ, thị xã B, tỉnh T; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Mai Văn T (đã chết); Con bà: Hoàng Thị T; Vợ, con: chưa; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/02/2023; Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ, tạm giam Công an huyện H, tỉnh T (có mặt).
3. Vũ Thị L; sinh ngày 16/01/2006; Nơi sinh: thị trấn V, huyện V, tỉnh T; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Khu phố T, thị trấn V, huyện V, tỉnh T; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Vũ Văn D (Đã chết); Con bà: Phạm Thị T; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/02/2023; Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ, tạm giam Công an huyện Hà T, tỉnh T ( có mặt).
Người đại diện hợp pháp của bị cáo Ly: Bà Phạm Thị T( mẹ đẻ)- sinh năm 1976
Trú quán: Khu phố Th, thị trấn V, huyện V, tỉnh T
(có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo Vũ Thị L:
Bà Lê Thị P - Trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Thanh Hóa.
Địa chỉ: Số 32 Đại Lộ L, phường Đ, TP T, tỉnh T (có mặt).
4. Mai Văn K; sinh ngày 14/7/1995; Nơi sinh: phường Đ, thị xã B, tỉnh T; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: khu phố Đ, phường Đ, thị xã B, tỉnh T; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: kinh; giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Mai Văn Lý; Con bà: Phạm Thị T; Vợ: Lê Thị H; Con: có 02 người con. Con lớn sinh năm 2019, nhỏ sinh năm 2021; Tiền án, Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/3/2023. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ, tạm giam Công an huyện Hà T, tỉnh T (có mặt).
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Chị Lê Thị Bảo N, sinh ngày 25/9/2008
Trú quán: Thôn N, xã Đ, huyện H, tỉnh T (vắng mặt)
Người đại diện theo pháp luật của Lê Thị Bảo N: Ông Lê Văn M( bố đẻ)
Trú quán: Thôn N, xã Đ, huyện H, tỉnh T (vắng mặt)
* Người làm chứng: Anh Hoàng Văn C, sinh năm 1972
Trú quán: Khu phố 4, phường L, thị xã B, tỉnh T( vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 16 tháng 02 năm 2023, Tổ công tác Đội Cảnh sát ĐTTP về Kinh tế - Ma túy Công an thị xã B đang làm nhiệm vụ phường L, thị xã B nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về việc tại Khách sạn Bình Minh tại khu phố 4, phường Lam Sơn do Nguyễn Văn T, sinh năm 1981 làm chủ có nhiều đối tượng đang có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy. Tiến hành kiểm tra, phát hiện trong phòng 402 có 04 đối tượng gồm: Mai Văn H; Phạm Quốc T, Lê Thị Bảo N và Vũ Thị L có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Tổ công tác tiếp tục tiến hành kiểm tra bên trong phòng 402 đã thu giữ toàn bộ tang vật liên quan đến hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Tại đây, T và H khai nhận số ma túy bị thu giữ trên là của T và H mua của Mai Văn K mục đích để sử dụng.Tổ công tác mời người làm chứng tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong tang vật theo quy định.
* Tài sản và vật chứng thu giữ:
+ Thu giữ tại phòng 402, khách sạn B gồm:
- 01 đĩa sữ màu trắng, hình tròn đường kính khoảng 20cm, dưới đáy có chữ “Minh Châu Made in Việt Nam” màu xanh và có bám dính khói màu đen, bên trên bề mặt đĩa có chứa chất bột màu trắng; 01 tờ tiền mệnh giá 10.000đ (Mười nghìn đồng), được cuộn tròn, ở hai đầu là đầu điếu thuốc lá Thăng Long màu vàng, trắng bên trong có bám dính chất bột màu trắng; 01 thẻ ATM ngân hàng MBBank màu xanh mang tên Mai Văn D, trên bề mặt thẻ có bám dính chất bột màu trắng (ký hiệu M1);
- 01 túi nilon màu trắng, viền màu xanh, kích thước khoảng (1,5x1,5) cm, bên trong có chứa chất bột màu trắng, dạng cục; 01 gói giấy màu trắng bên trong có chứa 02 viên nén có ba góc màu da cam một mặt được in chìm ký hiệu TESLA thu giữ dưới gối của Mai Văn Hùng (ký hiệu M2);
- 01 túi nilon màu trắng, viền màu xanh, kích thước khoảng (1,5x1,5) cm, bên trong có chứa chất bột màu trắng được thu gom trên chiếc đĩa sứ màu trắng ( ký hiệu M3);
- 01 bật lửa gas màu hồng, có dán tem nhãn màu trắng (đã qua sử dụng);
- 01 túi nilon màu trắng, viền màu xanh, kích thước khoảng (1,5x1,5) cm, bên trong có bám dính chất bột màu trắng thu dưới gầm giường;
- 01 loa bluetooth màu đen, nhãn hiệu KIMISO, đã qua sử dụng;
- 01 loa bluetooth hình trụ tròn, màu nâu xám đen, đã qua sử dụng;
- 01 đèn led hình robot màu trắng, đã qua sử dụng;
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme, màu xanh dương, bên trong có gắn sim 0567.399.383, đã qua sử dụng, thu của Phạm Quốc Tuấn;
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu nhãn hiệu Iphone 6S Plus màu trắng, bên trong có gắn sim 0856.311.998, đã qua sử dụng, thu của Vũ Thị Ly;
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu đen, bên trong có gắn sim 0899.634.762, đã qua sử dụng, thu của Lê Thị Bảo Ng;
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu trắng sữa, bên trong gắn thẻ sim 0762.325.555, đã qua sử dụng, thu của Mai Văn H.
+ Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở, đồ vật và tài sản của Mai Văn Ký tại khu phố Đông Thôn, phường Đ, thị xã B, tỉnh T thu giữ gồm:
- 01 xe ô tô nhãn hiệu Hyundai I10, màu bạc, BKS: 36A-194.48, đã qua sử dụng;
- 01 Căn cước công dân mang tên Mai Văn Ký số: 0380.9500.1785 (bản gốc);
- 01 Giấy phép lái xe hạng C, mang tên Mai Văn Ký (bản gốc);
- 01Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô BKS: 36A 194.48 mang tên Lê Thị T (bản gốc);
- 01điện thoại di động Samsung màu xám đen, bên ngoài có nhiều vết xước, đã cũ;
- 01 điện thoại OPPO màu đỏ, đã qua sử dụng;
- 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Mai Văn Ký (bản gốc);
- Số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng);
+ Khám xét chỗ ở , đồ vật và tài sản của Mai Văn Hùng và Phạm Quốc T tại khu phố Đ, phường Đ, thị xã B, tỉnh T không thu giữ đồ vật, tài sản gì.
Ngày 17/02/2023, Cơ quan CSĐT Công an thị xã B ra Quyết định trưng cầu giám định số 15/QĐ-CSĐT giám định chất ma túy đối với mẫu vật cần giám định ký hiệu M1, M2, M3 và Quyết định trưng cầu giám định số 16/QĐ-CSĐT giám định chất ma túy trong nước tiểu của Mai Văn Hùng (ký hiệu M1), Phạm Quốc Tuấn ( ký hiệu M2), Lê Thị Bảo N (ký hiệu M3) và Vũ Thị L (ký hiệu M4).
* Tại bản Kết luận giám định số 811/KL-KTHS ngày 21/02/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T kết luận:
1. Phong bì do Công an thị xã B phát hành, ký hiệu M1.
- Chất bột màu trắng bám dính trên đĩa sứ màu trắng, hình tròn, đường kính khoảng 20cm, dưới đáy có chữ “Minh Châu Made in Việt Nam” màu xanh niêm phong gửi giám định là ma túy, loại: Ketamine. Không xác định được khối lượng chất ma túy bám dính.
- Chất bột màu trắng bám dính bên trong tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng, được cuộn tròn niêm phong gửi giám định là ma túy, loại: ketamine không xác định được khối lượng chất ma túy bám dính.
- Chất bột màu trắng bám dính trên bề mặt thẻ ATM ngân hàng MBBank màu xanh mang tên Mai Văn Dũng niêm phong gửi giám định là ma túy, loại: ketamine không xác định được khối lượng chất ma túy bám dính.
- Chất bột bám dính bên trong túi nilon màu trắng, viền màu xanh kích thước khoảng (1,5 x 1,5) cm niêm phong gửi giám định là ma túy, loại: ketamine không xác định được trọng lượng (khối lượng) chất ma túy bám dính.
2. Phong bì do Công an thị xã Bỉm Sơn phát hành kí hiệu M2.
- Chất bột màu trắng dạng cục niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,506g (không phẩy năm không sáu gam), loại Ketamine.
- 02 viên nén có ba góc màu da cam, một mặt được in chìm kí hiệu “TESLA” niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,894g (không phẩy tám chín bốn gam) loại MDMA.
3. Phong bì do Công an thị xã Bỉm Sơn phát hành kí hiệu M3.
- Chất bột màu trắng niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,174g (không phẩy một bảy bốn gam) loại Ketamine.
* Tại Bản kết luận giám định số 855/KL-KTHS ngày 23/02/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa, kết luận:
Tìm thấy chất ma túy loại: MDMA, Ketamine trong mẫu nước tiểu ghi thu của Mai Văn H, Phạm Quốc T, Lê Thị Bảo N, Vũ Thị L gửi đến giám định.
Ngày 09/3/2023, biết hành vi của mình đã bị phát hiện và không thể trốn tránh được nên Mai Văn Ký đến Cơ quan CSĐT Công an thị xã B đầu thú khai nhận về hành vi phạm tội của mình.
* Kết quả kiểm tra, xác minh tại địa phương các đối tượng xác định:
Mai Văn Hùng, Phạm Quốc T, Lê Thị Bảo N và Vũ Thị L không phải là người nghiện ma túy, không nằm trong danh sách người nghiện đang được quản lý tại địa phương.
Tại Cơ quan điều tra, Mai Văn H, Phạm Quốc T, Lê Thị Bảo N, Vũ Thị L và Mai Văn K khai nhận hành vi phạm tội như sau:
Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 16/02/2023, Mai Văn H; Phạm Quốc T và Lê Thị Bảo N, là bạn gái của Hùng cùng nhau ăn cơm tại nhà H. Sau khi ăn cơm xong, T nói chuyện riêng với H hôm nay T buồn và rủ Hùng đến Khách sạn B để sử dụng ma túy. T nói sẽ bao buổi hôm nay. Vì T chưa có tiền nên hỏi vay H 4.000.000đ, H đi ra ngoài một lúc quay về nói lại với T đã vay được tiền rồi, T nói với Hùng gọi cho Mai Văn K (hay gọi là K “Lợn”) để mua một chỉ ma túy Ketamine và hai viên ma túy kẹo giá khoảng 2.600.000đ, số tiền còn lại 1.400.000đ, T bảo Hùng chuyển cho T đến số tài khoản 0337.406.669 tại ngân hàng MBBank mang tên Phạm Quốc T. Sau đó, Mai Văn H gọi điện thoại cho K để hỏi mua 01 chỉ ma túy Ketamine và 02 viên ma túy dạng kẹo thì K đồng ý và báo giá là 2.300.000đ H chuyển số tiền Ký báo từ số tài khoản 8386.1221.8888 của H tại ngân hàng MBBank đến số tài khoản 3883.2323.99999 của Mai Văn K tại ngân hàng MBBank và nói “khi nào cần thì em gọi”, số tiền còn thừa là 300.000đ H chuyển khoản trả lại cho T.
Sau khi T trao đổi với H về việc sử dụng ma túy và mua ma túy xong T mang 01 loa bluetooth màu đen, nhãn hiệu KIMISO, 01 đĩa sữ màu trắng, hình tròn đường kính khoảng 20cm, dưới đáy có chữ “Minh Châu Made in Việt Nam” lấy ở dưới bếp nhà Hùng, 01 tờ tiền polyme mệnh giá 10.000đ (mười nghìn đồng) cuộn tròn thành dạng ống hút và lấy vỏ đầu lọc điều thuốc lá Thăng Long bịt 02 đầu ống hút đi đến Khách sạn Bình M để thuê phòng. T thuê phòng 402 và lên phòng nằm chờ, nhắn tin cho H biết số phòng, khoảng 30 phút sau thì H và N đến.
Trước khi đi đến phòng 402, khách sạn Bình M, H nhớ ra trước Tết Nguyên đán 2023 khi chở khách đi Ninh Bình, H được một người khách nam không quen biết cho một viên ma túy dạng kẹo màu da cam chưa sử dụng đang để ở nhà nên H đã bỏ viên ma túy vào túi áo rồi cầm theo 01 đèn Led hình robot màu trắng, 01 chiếc loa Bluetooth hình trụ tròn, màu nâu xám đen và rủ N đi cùng đến khách sạn B. Khi H và N vào phòng 402 thì H lấy viên ma túy đang cất trong túi áo ra đưa cho T, T dùng tay chia viên ma túy thành 03 phần, T sử dụng trước một phần rồi đưa cho H 02 phần, H trực tiếp sử dụng 01phần, phần còn lại H đưa cho N sử dụng. Sau khi sử dụng viên kẹo ma túy, H, T và N nằm nghe nhạc đến khoảng 16 giờ cùng ngày H chủ động gọi cho K bảo mang ma túy đến Khách sạn Bình M cho H, K đồng ý.
Lúc này, T bảo N gọi cho T một nhân viên nữ thì N đồng ý. N gọi điện thoại cho Trương Thị H, sinh năm 1991, trú tại: khu phố Đ, phường Đ, thị xã B để thuê một nhân viên đến khách sạn, Hằng đồng ý và gọi cho Vũ Thị L (là nhân viên gái hát) đi đến khách sạn Bình M, Ly đồng ý. khoảng 30 phút sau, thì L đến khách sạn Bình M đi vào phòng 402 đến nằm cạnh T.
Khoảng 16 giờ 30 phút, Mai Văn K một mình điều khiển chiếc xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Grand I10 màu ghi bạc, BKS 36A-194.48 đi đến cổng khách sạn Bình M gọi điện thoại cho H xuống nhận ma túy. Khi gặp H, K mở cửa kính và đưa cho H 01 gói giấy nhỏ được gói bằng giấy vệ sinh màu trắng bên trong đựng 02 túi ketmine ( 01 chỉ) và 02 viên ma túy dạng kẹo rồi lái xe quay về nhà.
Hùng cầm gói ma túy Ký mang đến đi lên phòng 402 mở ra đưa cho T, T kiểm tra thấy bên trong có 02 túi nilon màu trắng bên trong có chứa ma túy dạng ketamine và 02 viên ma túy dạng kẹo màu da cam, rồi đưa lại cho H. H bảo Vũ Thị L đi nướng đĩa, L cầm đĩa sứ vào nhà vệ sinh dùng bật lửa để đốt giấy vệ sinh nướng đĩa sứ, sau khi nướng đĩa L dùng giấy vệ sinh để lau sạch đáy đĩa rồi mang ra ngoài để ở giường phía ngoài cạnh cửa ra vào. H cầm 01 túi nilon đựng ma túy ketamine đổ ra đĩa sứ, lấy chiếc thẻ ATM màu xanh để lên trên đĩa rồi đưa cho N. Ngân dùng thẻ ATM để nghiền nát ma túy và đảo qua, đảo lại (tức là “xào ke”). Khi N “xào ke” xong, thì N cầm đĩa sứ, tẩu hút bằng tờ tiền polyme mệnh giá 10.000đ do T cuốn từ trước đang để ở giường đưa cho H sử dụng trước, H sử dụng xong thì cầm đĩa sứ đưa cho T sử dụng, Tuấn sử dụng xong thì đưa cho N sử dụng, N sử dụng xong thì đặt đĩa chứa ma túy và dụng cụ xuống giường cho L sử dụng. Sau khi L sử dụng ma túy xong thì tất cả nẳm xuống giường nghe nhạc, nghỉ ngơi được một lát thì Lực lượng Công an thị xã B kiểm tra phát hiện bắt quả tang. Thu giữ tang vật như đã nêu trên.
* Về nguồn gốc ma túy:
Đối với 01 viên ma túy dạng kẹo màu da cam của H mang đi đã sử dụng hết, Hùng khai được một người nam giới không quen biết cho khi chở khách. H không biết và không nhớ đặc điểm của người này nên không có căn cứ để xác minh, làm rõ.
Đối với 01chỉ ketmine và 02 viên ma túy dạng kẹo Mai Văn K bán cho Mai Văn H, Phạm Quốc T ngày 16/02/2023 Ký khai nhận là của K mua của một người nam giới không quen biết với giá 4.000.000đ khoảng 07 tháng trước gần bến xe Giáp Bát, Thành phố Hà Nội. Số ma túy mua được, K đã sử dụng một ít ketamine, phần còn lại do không có nhu cầu sử dụng nên cất ở nhà. Khi H hỏi mua thì K bán cho H vì sợ để lâu bị hỏng. Qua xác minh tại Công an Phường Giáp Bát, Quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội không xác định được đối tượng mua bán trái phép chất ma túy tại khu vực gần Cổng Bến xe Giáp Bát nên không xác định được nguồn gốc của số ma túy trên. Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xác minh, nếu có căn cứ sẽ xử lý sau.
Đối với Lê Thị Bảo N có hành vi gọi Vũ Thị L đến phòng 402 của Khách sạn Bình Minh và “xào ke” để H, T, N, L cùng nhau sử dụng ma túy. Tuy nhiên khi thực hiện hành vi phạm tội N chưa đủ 16 tuổi nên hành vi không cấu thành tội phạm về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 255 BLHS. Cơ quan CSĐT Công an thị xã Bỉm Sơn đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Lê Thị Bảo Ngân về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, hình thức xử phạt: Cảnh cáo.
Đối với vụ việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy bị bắt quả tang tại phòng 402 Khách sạn Bình M ngày 16/02/2023 xảy ra trong ca trực lễ tân của chị Hoàng Thị K (tên gọi khác Hoàng Thị M) nhưng chị K không biết T đến thuê phòng với mục đích để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên không có cơ sở để xử lý trách nhiệm hình sự đối với K. Tuy nhiên, để xảy ra vụ tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong phòng của khách sạn Khách sạn Bình M nên ông Nguyễn Văn T, chủ khách sạn vẫn phải chịu trách nhiệm và bị xử phạt vi phạm hành chính về việc “để xảy ra hoạt động tàng trữ, mua bán, sử dụng trái phép chất ma túy trong khu vực, phương tiện do mình quản lý”. Vì vậy, căn cứ điểm a khoản 4 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ - CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ, Công an thị xã Bỉm Sơn đã đề nghị Chủ tịch UBND thị xã Bỉm Sơn ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với chủ khách Sạn Bình Minh thuộc Công ty Cổ phần thương mại Lam Sơn số tiền 30.000.000 đồng.
Đối với Trương Thị H, sinh năm 1991, trú tại: khu phố Đ, phường Đ, thị xã B, tỉnh T: ngày 16/02/2023, Lê Thị Bảo Ngân liên hệ thuê nhân viên đi phục vụ tại phòng 402, Khách sạn B. H không biết việc trong quá trình đi phục vụ cho khách Ly có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên không có căn cứ để xử lý đối với Trương Thị H.
* Xử lý vật chứng, tài sản thu giữ:
+ Đối với tài sản thu giữ của Mai Văn K gồm:
- 01 xe ô tô nhãn hiệu Hyundai I10, màu bạc, BKS: 36A-194.48, số máy: G3LAFM448481, số khung: MALA851AAGM360657, đã cũ và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô BKS: 36A - 194.48 mang tên Lê Thị T (bản gốc). Quá trình điều tra xác định: đó là tài sản của ông Mai Văn L (bố đẻ của Mai Văn K) mua từ đầu năm 2021với giá 250.000.000 đồng (hai trăm năm mươi triệu đồng) và cho K mượn để làm phương tiện đi lại, lái taxi kiếm sống. Khi mua xe có giấy tờ đăng ký hợp lệ và mang tên bà Lê Thị T ở xã Hoằng T, huyện H, tỉnh T, do điều kiện gia đình khó khăn nên ông chưa làm thủ tục sang tên đổi chủ; Số tiền 20.000.000 đ (Hai mươi triệu VNĐ) thu giữ trong quá trình khám xét nhà Mai Văn K. Quá trình điều tra xác định số tiền trên là tiền của bố mẹ đẻ Mai Văn K được ông Mai Văn L, bà Phạm Thị Th nhờ K mua vật liệu xây dựng để xây nhà. Xét thấy nguồn gốc của xe ô tô và số tiền 20.000.000đ (Hai mươi triệu VNĐ) là tài sản hợp pháp của Mai Văn L, vì vậy Cơ quan điều tra đã trả lại cho gia đình Mai Văn K.
- 01 Căn cước công dân mang tên Mai Văn K số: 038095001785 (bản gốc); 01 Giấy phép lái xe hạng C, mang tên Mai Văn K (bản gốc) và Giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Mai Văn K (bản gốc). Các giấy tờ trên là giấy tờ hợp pháp của K, không liên quan đến hành vi phạm tội. Ký đã có đơn xin nhận lại giấy tờ và ủy quyền cho vợ là Lê Thị H nhận lại giấy tờ trên. Cơ quan điều tra đã trả lại số giấy tờ trên cho chị Lê Thị H là phù hợp.
+ Toàn bộ các tang vật sau được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thị xã Bỉm Sơn để bảo quản, chờ xử lý theo quy định của pháp luật gồm:
- 01 Phong bì niêm phong tang vật do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành, được dán kín niêm phong bởi các hình dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa bên trong có: 01 đĩa sữ màu trắng, hình tròn đường kính khoảng 20cm, dưới đáy có chữ “Minh Châu Made in Việt Nam” màu xanh; 01 tờ tiền mệnh giá 10.000đ được cuộn tròn, ở hai đầu là đầu điếu thuốc lá Thăng Long màu vàng; 01 thẻ ATM ngân hàng MBBank màu xanh mang tên Mai Văn D và toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định.
- 01 bật lửa gas màu hồng, có dán tem nhãn màu trắng; 01 loa bluetooth màu đen, nhãn hiệu KIMISO; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme, màu xanh dương, bên trong có gắn sim 0567.399.383, tất cả đều đã qua sử dụng, thu của Phạm Quốc T.
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12Promax, màu trắng sữa, bên trong gắn thẻ sim 0762.325.555; 01 loa bluetooth hình trụ tròn, màu nâu xám đen; 01 đèn led hình robot màu trắng, đều đã qua sử dụng thu của Mai Văn H.
- 01chiếc điện thoại di động Samsung màu xám đen, bên ngoài có nhiều vết xước; 01chiếc điện thoại OPPO màu đỏ đều đã qua sử dụng thu của Mai Văn K;
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu nhãn hiệu Iphone 6S Plus màu trắng, bên trong có gắn sim 0856.311.998, đã qua sử dụng, thu của Vũ Thị L.
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu đen, bên trong có gắn sim 0899.634.762, đã qua sử dụng, thu của Lê Thị Bảo N
* Tại bản cáo trạng số:25/CT-VKSBS ngày 12 tháng 6 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bỉm Sơn truy tố các bị cáo Phạm Quốc T, Mai Văn H, Vũ Thị L về tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, điểm c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự; Các bị cáo Phạm Quốc T và Mai Văn H về tội
" Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS; Bị cáo Mai Văn Ký về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát duy trì công tố giữ nguyên quan điểm như nội dung bản cáo trạng đã truy tố.
+ Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51( đối với tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy), điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51( đối với tội Tàng trữ trái phép chất ma túy), Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 55, Điều 58 Bộ luật hình sự( Đối với T, H);
- Đề nghị xử phạt Phạm Quốc T từ 07( bảy) năm đến 07 (bảy) năm 3 (ba) tháng tù về tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 13( mười ba) đến 15 (mười lăm) tháng về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Đề nghị xử phạt Mai Văn H từ từ 07( bảy) năm đến 07 (bảy) năm 3 (ba) tháng tù về tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 12( mười hai) đến 14( mười bốn) tháng tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”
+ Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 12, Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58, khoản 4 Điều 98, Điều 101/BLHS;
- Đề nghị xử phạt Vũ Thị Ly từ 05 (năm) năm 03( ba) tháng đến 05 (năm) năm 05( năm) tháng tù về tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
+ Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật hình sự;
- Đề nghị xử phạt Mai Văn K từ 24 (hai mươi bốn) đến 26 ( hai mươi sáu) tháng tù về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”.
* Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có công ăn việc làm, điều kiện gia đình khó khăn. Bị cáo L là người dưới 18 tuổi nên đề nghị không áp dụng khoản 5 Điều 249, khoản 5 Điều 251 và khoản 5 Điều 255 Bộ luật hình sự để phạt tiền đối với các bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật hình sự đề nghị:
+ Đối với tài sản thu giữ của Mai Văn K gồm:
- 01 xe ô tô nhãn hiệu Hyundai I10, màu bạc, BKS: 36A-194.48, số máy: G3LAFM448481, số khung: MALA851AAGM360657, đã cũ và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô BKS: 36A - 194.48 mang tên Lê Thị Trang (bản gốc). Quá trình điều tra xác định: đó là tài sản của ông Mai Văn L (bố đẻ của Mai Văn K) mua từ đầu năm 2021với giá 250.000.000 đồng và cho K mượn để làm phương tiện đi lại, lái taxi kiếm sống. Khi mua xe có giấy tờ đăng ký hợp lệ và mang tên bà Lê Thị T ở xã Hoằng Thành, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa, do điều kiện gia đình khó khăn nên ông chưa làm thủ tục sang tên đổi chủ. Số tiền 20.000.000 đ (Hai mươi triệu VNĐ) thu giữ trong quá trình khám xét nhà Mai Văn Ký. Quá trình điều tra xác định số tiền trên là tiền của bố mẹ đẻ Mai Văn K được ông Mai Văn L, bà Phạm Thị T nhờ K mua vật liệu xây dựng để xây nhà. Xét thấy nguồn gốc của xe ô tô và số tiền 20.000.000đ (Hai mươi triệu VNĐ) là tài sản hợp pháp của Mai Văn L, vì vậy Cơ quan điều tra đã trả lại cho gia đình Mai Văn K nên đề nghị miễn xét.
- 01 Căn cước công dân mang tên Mai Văn K số: 038095001785 (bản gốc); 01 Giấy phép lái xe hạng C, mang tên Mai Văn Ký(bản gốc) và Giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Mai Văn K(bản gốc). Các giấy tờ trên là giấy tờ hợp pháp của K, không liên quan đến hành vi phạm tội. K đã có đơn xin nhận lại giấy tờ và ủy quyền cho vợ là Lê Thị H nhận lại giấy tờ trên. Cơ quan điều tra đã trả lại số giấy tờ trên cho chị Lê Thị H là phù hợp nên đề nghị miễn xét.
+ Toàn bộ các tang vật sau được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thị xã Bỉm Sơn để bảo quản, chờ xử lý theo quy định của pháp luật gồm:
+ Đề nghị tịch thu tiêu hủy:
- 01 Phong bì niêm phong tang vật do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành, được dán kín niêm phong bên trong có: 01 đĩa sữ màu trắng, hình tròn đường kính khoảng 20cm, dưới đáy có chữ “Minh Châu Made in Việt Nam” màu xanh, được cuộn tròn, ở hai đầu là đầu điếu thuốc lá Thăng Long màu vàng; 01 thẻ ATM ngân hàng MBBank màu xanh mang tên Mai Văn D và toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định.
+ Đề nghị tịch thu sung ngân sách Nhà nước:
- 01 bật lửa gas màu hồng, có dán tem nhãn màu trắng; 01 tờ tiền mệnh giá 10.000đ (Mười nghìn đồng); 01 loa bluetooth màu đen, nhãn hiệu KIMISO; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme, màu xanh dương, bên trong có gắn sim 0567.399.383, tất cả đều đã qua sử dụng, thu của Phạm Quốc T
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12Promax, màu trắng sữa, bên trong gắn thẻ sim 0762.325.555; 01 loa bluetooth hình trụ tròn, màu nâu xám đen; 01 đèn led hình robot màu trắng, đều đã qua sử dụng thu của Mai Văn H.
- 01chiếc điện thoại di động Samsung màu xám đen, bên ngoài có nhiều vết xước; 01chiếc điện thoại OPPO màu đỏ đều đã qua sử dụng thu của Mai Văn K;
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu nhãn hiệu Iphone 6S Plus màu trắng, bên trong có gắn sim 0856.311.998, đã qua sử dụng, thu của Vũ Thị L.
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu đen, bên trong có gắn sim 0899.634.762, đã qua sử dụng, thu của Lê Thị Bảo N.
- Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
* Trợ giúp viên pháp lý bà Lê Thị P bào chữa cho bị cáo Ly thống nhất với tội danh và hành vi phạm tội mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo Ly.
+ Xét về nhân thân, hoàn cảnh của bị cáo L: Bản thân Ly sinh ra trong một gia đình không có sự hoàn chỉnh khi bố mất sớm, mẹ thường xuyên đi làm ăn xa, không có thời gian quan tâm, chăm sóc cũng như dạy bảo con. Sự thiệt thòi về mặt tình cảm, cũng như thiếu thốn về kinh tế đã dẫn đến việc cháu L phải nghỉ học từ rất sớm, tự bươn chải nuôi chính bản thân mình. Với tuổi đời còn quá trẻ, lại thêm việc không có người định hướng, chỉ dẫn, quan tâm giáo dục, nên việc L thiếu đi nhận thức pháp luật cũng như nhận thức xã hội là điều dễ hiểu. Mặc dù vậy, tính đến thời điểm phạm tội, bị cáo L vẫn có nhân thân tốt, chưa từng có tiền án, tiền sự.
+ Xét về nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội, tính chất mức độ nguy hiểm, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo L gây ra: Bản thân L là người phục vụ tại quán hát, thời gian quán hát tạm ngừng đóng cửa thì vẫn phải chịu sự chi phối của người khác để có thể trang trải cuộc sống. Trong vụ án này, L là người được gọi đến sau, chỉ phục vụ theo sự chỉ đạo của bị cáo Hùng đi làm nóng đĩa. Như vậy, vai trò của L là thứ yếu. Hành vi của L là hành vi là nguy hiểm cho xã hội nhưng so với các bị cáo khác trong vụ án, tính chất, mức độ hành vi của bị cáo L gây ra không lớn bằng.
+ Xét về các tình tiết giảm nhẹ TNHS: Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, L đã nhận thức được hành vi của mình là sai trái, vi phạm quy định của pháp luật do đó bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình nên bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, Khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự; Bản thân Ly là người chưa thành niên, lại vì hoàn cảnh gia đình phải nghỉ học từ sớm nên nhận thức pháp luật của em có nhiều hạn chế. Vì mưu sinh, L đi làm tại quán karaoke, với hiểu biết hạn chế về pháp luật nên L phải nhận sự trừng phạt của pháp luật. Do vậy, trợ giúp viên pháp lý đề nghị HĐXX cân nhắc đến hoàn cảnh, nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo L trước khi lượng hình để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo phấn đấu cải tạo tốt sớm trở về địa phương lao động sản xuất, trở thành công dân có ích cho xã hội.
Từ những phân tích trên, Trợ giúp viên pháp lý đề nghị HĐXX: Áp dụng điểm c, Khoản 2, Điều 55, điểm s khoản 1, Khoản 2 Điều 51 BLHS, Điều 91, Điều 101 cho bị cáo được hưởng mức án dưới mức thấp nhất do Viện kiểm sát đề nghị là 5 năm 03 tháng. Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng vì bị cáo không được thu lợi từ hành vi phạm tội của mình.
Căn cứ vào chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét khách quan toàn diện chứng cứ, ý kiến phát biểu của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo T, H, L, K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát. Lời khai nhận tội của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ. Vì vậy, HĐXX có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 16 tháng 02 năm 2023, Tổ công tác Đội Cảnh sát ĐTTP về Kinh tế - Ma túy Công an thị xã Bỉm Sơn phối hợp với Công an phường Lam Sơn phát hiện bắt quả tang tại Phòng 402 khách sạn Bình M, thuộc khu phố 4, phường L, thị xã B, tỉnh T có 04 đối tượng Mai Văn H, Phạm Quốc T, Vũ Thị L và Lê Thị Bảo N có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Mai Văn H và Phạm Quốc T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy có tổng khối lượng là 0,894g loại MDMA và 0,680g loại Ketamine nhằm mục đích sử dụng. Mai Văn K có hành vi bán trái phép chất ma túy (01chỉ ketamine và 02 viên ma túy dạng kẹo) cho Mai Văn H, Phạm Quốc T để nhận số tiền 2.300.000 đồng.
Hành vi của các bị cáo Phạm Quốc T, Mai Văn H, Vũ Thị L đã đủ yếu tố cấu thành tội " Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm b, điểm c khoản 2 Điều 255 BLHS, hành vi phạm tội của Tuấn, Hùng đã đủ yêu tố cấu thành “ Tàng trữ trái phép chấp ma túy” điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS, hành vi của Mai Văn K đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định và xử lý theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Xét tính chất vụ án: Đây là vụ án có tính chất rất nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của các bị báo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác, gây ảnh hưởng xấu trật tự công cộng và an toàn xã hội. Bị cáo T, H và L có hành vi tổ chức trái phép chất ma túy, trong đó có L và N là người dưới 18 tuổi nên đã định khung hình phạt tại điểm b, điểm c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự, đồng thời bị cáo T và H còn tàng trữ trái phép chất ma túy có tổng khối lượng là 0,894g loại MDMA và 0,680g loại Ketamine nhằm mục đích sử dụng, bị cáo K trực tiếp nhận tiền từ H và giao ma túy cho H để sử dụng nên Ký phải chịu trách nhiệm độc lập về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”.
* Xét vai trò đồng phạm của các bị cáo HĐXX thấy:
+ Đối với tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đây là vụ án đồng phạm giản đơn vì hành vi của các bị cáo mang tính bột phát, giữa các bị cáo T, H, L không có sự bàn bạc, phân công nhiệm vụ rõ ràng, cụ thể. Phạm Quốc T là người khởi xướng, rủ rê, người chịu trách nhiệm chi tiền mua ma túy, tìm địa điểm để tổ chức sử dụng ma túy và bảo N gọi thêm L đến để phục vụ nên T có vai trò đầu vụ. Mai Văn H là người thực hành tích cực, cho T vay tiền mua ma túy, trực tiếp liên hệ hỏi mua và nhận ma túy từ Mai Văn K, là người rủ N (dưới 18 tuổi) đến Phòng 402 Khách sạn Bình M để cùng nhau sử dụng ma tuý, là người bảo Vũ Thị L đi đốt đĩa sứ nóng lên và là người đổ ketamine ra đĩa sứ bảo N “xào ke” nên H có vai trò thứ hai sau T. Vũ Thị L là người thực hành với vai trò giúp sức dùng bật lửa hơ nóng đĩa để làm dụng cụ “xào ke” và cùng sử dụng ma túy nên L có vai trò sau cùng.
Trong vụ án này còn có Lê Thị Bảo N là người thực hành và có vai trò giúp sức tích cực, là người gọi điện cho L đến phục vụ cho T và là người trực tiếp “xào ke”, lấy ống hút do T chuẩn bị trước để H, T, N và L cùng nhau sử dụng ma túy. Nhưng, khi thực hiện hành vi phạm tội, N chưa đủ 16 tuổi nên hành vi không cấu thành tội phạm.
+ Đối với tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” N và L không biết, không tham gia cất, giấu ma túy nên không đồng phạm với T và H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Vì vậy, HĐXX xét thấy cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi của các bị cáo đã thực hiện mới đủ tác dụng trừng trị, răn đe, giáo dục các bị cáo và đấu tranh, phòng ngừa chung cho toàn xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt HĐXX cần xem xét đến vai trò nhân thân, những tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo để có mức hình phạt phù hợp.
Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS:
- Tình tiết tăng nặng TNHS: Các bị cáo T, H, L, K đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ TNHS: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo khai báo thành khẩn nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Riêng đối với bị cáo Ký còn được hưởng 2 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đó là phạm tội đầu thú và tự nguyện nộp lại số tiền thu lời bất chính.
Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có công ăn việc làm, điều kiện gia đình khó khăn. Riêng bị cáo L là người dưới 18 tuổi nên không áp dụng khoản 5 Điều 249, khoản 5 Điều 251 và khoản 5 Điều 255 Bộ luật hình sự để phạt tiền đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật hình sự:
+ Đối với tài sản thu giữ của Mai Văn K gồm:
- 01 xe ô tô nhãn hiệu Hyundai I10, màu bạc, BKS: 36A-194.48, số máy: G3LAFM448481, số khung: MALA851AAGM360657, đã cũ và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô BKS: 36A - 194.48 mang tên Lê Thị Trang (bản gốc) và số tiền 20.000.000đ. Xét thấy nguồn gốc của xe ô tô và số tiền 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) là tài sản hợp pháp của Mai Văn L, vì vậy Cơ quan điều tra đã trả lại cho gia đình Mai Văn K là phù hợp nên miễn xét.
- 01 Căn cước công dân mang tên Mai Văn K số: 038095001785 (bản gốc); 01 Giấy phép lái xe hạng C, mang tên Mai Văn K (bản gốc) và Giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Mai Văn Ký (bản gốc). Các giấy tờ trên là giấy tờ hợp pháp của K, không liên quan đến hành vi phạm tội. Cơ quan điều tra đã trả lại số giấy tờ trên cho chị Lê Thị H (vợ bị cáo) là phù hợp nên miễn xét.
+ Tịch thu tiêu hủy:
- 01 Phong bì niêm phong tang vật do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành, bên trong có: 01 đĩa sữ màu trắng, hình tròn đường kính khoảng 20cm, dưới đáy có chữ “Minh Châu Made in Việt Nam” màu xanh, được cuộn tròn, ở hai đầu là đầu điếu thuốc lá Thăng Long màu vàng; 01 thẻ ATM ngân hàng MBBank màu xanh mang tên Mai Văn D và 01 túi ni long màu trắng viền màu xanh, kích thước (1,5x1,5) cm của phong bì ký hiệu M1 và 0,470 gam chất bột màu trắng dạng cục; 01 viên nén có ba góc, màu da cam, một mặt được hin chìm ký hiệu “TESLE” có tổng khối lượng là 0,449gam của phong bì ký hiệu M2; 0,155 gam chất bột màu trắng của phong bì ký hiệu M3( là những mẫu vật còn lại sau giám định)
+ Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước:
- 01 bật lửa gas màu hồng, có dán tem nhãn màu trắng đã qua sử dụng;
- 01 chiếc điện thoại di động Realme, màu xanh dương, bên trong có gắn sim đã qua sử dụng
- 01 chiếc điện thoại di động màu trắng sữa, bên trong có 01 sim, không kiểm tra chất lượng;
- 01 chiếc điện thoại di động Iphone màu trắng, bên trong có 01 sim, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng.
- 01chiếc điện thoại di động Samsung màu xám đen, bên ngoài có nhiều vết xước, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng.
- 01chiếc điện thoại OPPO màu đỏ, pin đã bị phồng rộp, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng.
- 01 chiếc điện thoại di động Iphone màu đen, bên trong có 01 sim, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng.
- 01 loa bluetooth màu đen ghi chữ KIMISO;
- 01 loa bluetooth màu xám đen, hình trụ tròn, đã qua sử dụng;
- 01 đèn led hình robot màu trắng, đã qua sử dụng
- 01 tờ tiền mệnh giá 10.000đ (Mười nghìn đồng) ( đựng trong phong bì niêm phong tang vật do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành).
Đối với 01 viên ma túy dạng kẹo của Hùng mang đi đã sử dụng hết, Hùng khai được một người nam giới không quen biết cho. Hùng không biết và không nhớ đặc điểm của người này nên không có căn cứ để xác minh, làm rõ.
Đối với số ma túy Mai Văn K mua của một người nam giới không quen biết tại gần bến xe Giáp Bát, TP. Hà Nội. Quá trình điều tra không xác định được đối tượng mua bán trái phép chất ma túy tại khu vực gần Cổng Bến xe Giáp Bát nên không xác định được nguồn gốc của số ma túy trên. Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xác minh, nếu có căn cứ sẽ xử lý sau.
Án phí HSST các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ: điểm b, điểm c khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51( đối với tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy), điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51( đối với tội Tàng trữ trái phép chất ma túy), Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 55, Điều 58 Bộ luật hình sự( Đối với T, H);
* Căn cứ: điểm b, điểm c khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 12, Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58, Điều 90, Điều 91, khoản 4 Điều 98, Điều 101 Bộ luật hình sự (đối với Ly);
* Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật hình sự (đối với K) .
* Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Quốc T, Mai Văn H, Vũ Thị L phạm tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, Phạm Quốc T, Mai Văn H phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” và Mai Văn K phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”
- Xử phạt: Phạm Quốc T 07 (bảy) năm về tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01(một) năm 01(một) tháng về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Phạm Quốc T chấp hành hình phạt của cả hai tội 08 (tám) năm, 01 (một) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 16/02/2023.
- Xử phạt Mai Văn H 07 (bảy) năm về tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01( một) năm về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Mai Văn H chấp hành hình phạt của cả hai tội 08 (tám) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 16/02/2023.
- Xử phạt Vũ Thị L 05 (năm) năm, 03 (ba) tháng tù về tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 16/02/2023.
- Xử phạt Mai Văn K 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 09/03/2023.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự:
+ Tịch thu tiêu hủy:
- 01 Phong bì niêm phong tang vật do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành, bên trong có: 01 đĩa sữ màu trắng, hình tròn đường kính khoảng 20cm, dưới đáy có chữ “Minh Châu Made in Việt Nam” màu xanh, được cuộn tròn, ở hai đầu là đầu điếu thuốc lá Thăng Long màu vàng; 01 thẻ ATM ngân hàng MBBank màu xanh mang tên Mai Văn Dũng và 01 túi ni long màu trắng viền màu xanh, kích thước (1,5x1,5) cm của phong bì ký hiệu M1 và 0,470 gam chất bột màu trắng dạng cục; 01 viên nén có ba góc, màu da cam, một mặt được hin chìm ký hiệu “TESLE” có tổng khối lượng là 0,449gam của phong bì ký hiệu M2; 0,155 gam chất bột màu trắng của phong bì ký hiệu M3( là những mẫu vật còn lại sau giám định).
+ Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước:
- 01 bật lửa gas màu hồng, có dán tem nhãn màu trắng đã qua sử dụng;
- 01 chiếc điện thoại di động Realme, màu xanh dương, bên trong có gắn sim đã qua sử dụng
- 01 chiếc điện thoại di động màu trắng sữa, bên trong có 01 sim, không kiểm tra chất lượng;
- 01 chiếc điện thoại di động Iphone màu trắng, bên trong có 01 sim, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng.
- 01chiếc điện thoại di động Samsung màu xám đen, bên ngoài có nhiều vết xước, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng.
- 01chiếc điện thoại OPPO màu đỏ, pin đã bị phồng rộp, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng.
- 01 chiếc điện thoại di động Iphone màu đen, bên trong có 01 sim, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng.
- 01 loa bluetooth màu đen ghi chữ KIMISO;
- 01 loa bluetooth màu xám đen, hình trụ tròn, đã qua sử dụng;
- 01 đèn led hình robot màu trắng, đã qua sử dụng
- 01 tờ tiền mệnh giá 10.000đ (Mười nghìn đồng) ( đựng trong phong bì niêm phong tang vật do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành).
( Theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 13/6/2023 giữa Cơ quan Công an và Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Bỉm Sơn).
* Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, Điều 23 NQ 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 và danh mục án phí lệ phí ban hành kèm theo buộc các bị cáo T, H, L, K mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo, trợ giúp viên pháp lý và người đại diện theo pháp luật của bị cáo Vũ Thị L, vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Lê Thị Bảo N và người đại diện theo pháp luật của chị Lê Thị Bảo N.
Các bị cáo, người bào chữa và người đại diện theo pháp luật của bị cáo Vũ Thị L được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (07/7/2023). Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Ngân và người đại diện theo pháp luật của chị Ngân vắng mặt được quyền kháng cáo bản án về phần liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc Tòa án niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - VKSND Thị xã Bỉm sơn; - VKS nhân dân tỉnh Thanh Hóa; - Sở tư pháp tỉnh Thanh Hóa; - Nhà tạm giữ, tạm giam; CA huyện Hà Trung; - CQĐT Công an thị xã Bỉm Sơn; - CQ Thi hành án hình sự; - Bị cáo; - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; - Người đại diện theo pháp luật; - Trợ giúp viên pháp lý; - Phòng giám đốc án; - THA Dân sự TX Bỉm sơn; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA TỐNG THỊ HÀ |