vanban.org

Bản án 24/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam Tuyên án 30/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo NGUYỄN QUỐC TR và DƢƠNG VĂN N phạm tội “Hủy hoại rừng”.

NGUYỄN QUỐC TR: 3 (ba) năm tù nhƣng cho hƣởng án treo, thời gian thử thách 5 (năm) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (30/9/2022). Tuyên giao bị cáo NGUYỄN QUỐC TR cho Ủy ban nhân dân phƣờng Hòa Thuận Tây, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng nơi bị cáo cƣ trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thác… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Sơ thẩm — đang xem Bản án 24/2022/HS-ST Tuyên án 30/09/2022
Giám đốc thẩm Bản án 15/2023/HS-GĐT Tuyên án 11/07/2023

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Quốc Trưởng cùng đồng phạm - phạm tội hủy hoại rừng (điều 243 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo NGUYỄN QUỐC TR và DƢƠNG VĂN N phạm tội “Hủy hoại rừng”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 243 Bộ luật hình sự xử phạt
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHƢỚC SƠN
TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2022/HS-ST
Ngày: 30/9/2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƢỚC SƠN - TỈNH QUẢNG NAM

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Pơ Loong Đếch

Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Vũ Đình Cuối

+ Ông Ngô Thắng

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thành - Thƣ ký Tòa án nhân dân huyện Phƣớc Sơn, tỉnh Quảng Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Ông Hồ Văn Đờ - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2022, tại Hội trƣờng xét xử Tòa án nhân dân huyện Phƣớc Sơn, tỉnh Quảng Nam đƣa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 20/2022/TLST-HS ngày 6/9/2022 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 23/2022/QĐXXST–HS ngày 15/9/2022 đối với các bị cáo:

NGUYỄN QUỐC TR; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 8/8/1958; tại: Nông Cống, Thanh Hóa; nơi đăng ký nhân khẩu thƣờng trú và nơi cƣ trú: Tổ 19, phƣờng Hòa Thuận Tây, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Giám đốc Công ty TNHH MTV Tuấn Zin; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Vận (chết) và bà Nguyễn Thị Tiềm (chết); vợ Đinh Thị Tuyết (1964), có 02 ngƣời con, nhỏ nhất sinh năm 1993. Tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cƣ trú”; có mặt.

DƢƠNG VĂN N; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 10/11/1973; tại: Đại Lộc,

Quảng Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thƣờng trú và nơi cƣ trú: Thôn Mỹ Tân, xã Đại Phong, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dƣơng Văn Khúc (1942) và bà Nguyễn Thị Ba (1942); vợ Lê Thị Thúy Nga (1977), có 03 ngƣời con, con nhỏ nhất sinh năm 2013. Tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cƣ trú”; có mặt.

* Nguyên đơn dân sự: Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Phƣớc Sơn; địa chỉ trụ sở: Thôn Lao Mƣng, xã Phƣớc Xuân, huyện Phƣớc Sơn, tỉnh Quảng Nam.

Ngƣời đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 29/9/2022): Ông Phan Lựu, Chức vụ: Đội trƣởng đội bảo vệ rừng cơ động Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Phƣớc Sơn; có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

-Ông A Lăng Ng; trú tại: Tổ dân phố số 5, thị trấn Khâm Đức, huyện Phƣớc Sơn, tỉnh Quảng Nam; có mặt.

-Nguyễn Tấn B; trú tại: Thôn 3, xã Phƣớc Chánh, huyện Phƣớc Sơn, tỉnh Quảng Nam; có mặt.

-Bà Trần Thị Tích Đ; trú tại: Khối phố Hƣơng Chánh, phƣờng Hòa Hƣơng, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam; có mặt.

-Ông Trần Trọng V; trú tại: Khối phố Hƣơng Chánh, phƣờng Hòa Hƣơng, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam; vắng mặt.

-Ông Hồ Văn Ng; trú tại: Thôn 2, xã Phƣớc Chánh, huyện Phƣớc Sơn, tỉnh Quảng Nam; vắng mặt.

-Ông Lê D; trú tại: Thôn Mỹ Tân, xã Đại Phong, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam; vắng mặt.

-Bà Hồ Thị K; trú tại: Thôn 5, xã Phƣớc Chánh, huyện Phƣớc Sơn, tỉnh Quảng Nam; vắng mặt.

-Bà Hồ Thị L; trú tại: Thôn 5, xã Phƣớc Chánh, huyện Phƣớc Sơn, tỉnh Quảng Nam; vắng mặt.

-Ông Hồ Văn Đ,; trú tại: Thôn 5, xã Phƣớc Chánh, huyện Phƣớc Sơn, tỉnh

Quảng Nam; vắng mặt.

-Ông Hồ Văn H; trú tại: Thôn 5, xã Phƣớc Chánh, uyện Phƣớc Sơn, tỉnh

Quảng Nam; vắng mặt.

-Bà Hồ Thị V; trú tại: Thôn 5, xã Phƣớc Chánh, huyện Phƣớc Sơn, tỉnh Quảng Nam; vắng mặt.

-Ông Hồ Văn L; trú tại: Thôn 5, xã Phƣớc Chánh, huyện Phƣớc Sơn, tỉnh

Quảng Nam; vắng mặt.

-Bà Hồ Thị Í; trú tại: Thôn 5, xã Phƣớc Chánh, huyện Phƣớc Sơn, tỉnh Quảng Nam; vắng mặt.

-Bà Hồ Thị M; trú tại: Thôn 5, xã Phƣớc Chánh, huyện Phƣớc Sơn, tỉnh Quảng Nam; vắng mặt.

-Bà Hồ Thị D; trú tại: Thôn 5, xã Phƣớc Chánh, huyện Phƣớc Sơn, tỉnh Quảng Nam; vắng mặt.

-Ông Hồ Văn Ch; trú tại: Thôn 2, xã Phƣớc Chánh, huyện Phƣớc Sơn, tỉnh

Quảng Nam; vắng mặt.

-Ông Hồ Văn Ch; trú tại: Thôn 2, xã Phƣớc Chánh, huyện Phƣớc Sơn, tỉnh

Quảng Nam; vắng mặt.

-Ông A Đ; trú tại: Thôn 2, xã Phƣớc Chánh, huyện Phƣớc Sơn, tỉnh Quảng

Nam; vắng mặt.

-Bà Hồ Thị H; trú tại: Thôn 2, xã Phƣớc Chánh, huyện Phƣớc Sơn, tỉnh Quảng Nam; vắng mặt.

-Bà Hồ Thị Ch; trú tại: Thôn 1, xã Phƣớc Kim, huyện Phƣớc Sơn, tỉnh Quảng Nam; có mặt.

-Bà Hồ Thị B; trú tại: Thôn 1, xã Phƣớc Kim, huyện Phƣớc Sơn, tỉnh Quảng

Nam; có mặt.

-Ông Hồ Văn B; trú tại: Thôn 1, xã Phƣớc Kim, huyện Phƣớc Sơn, tỉnh Quảng Nam; có mặt.

-Bà Hồ Thị M; trú tại: Thôn 1 Nƣớc Kiết, xã Phƣớc Kim, huyện Phƣớc Sơn,

tỉnh Quảng Nam; có mặt.

-Bà Hồ Thị H; trú tại: Thôn 1, xã Phƣớc Kim, huyện Phƣớc Sơn, tỉnh Quảng

Nam; có mặt.

-Ông Hồ Văn Th; trú tại: Thôn 1, xã Phƣớc Kim, huyện Phƣớc Sơn, tỉnh

Quảng Nam; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Tại Quyết định số 186/QĐ-UBND, ngày 19/01/2021 của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam phê duyệt báo cáo kinh tế kỹ thuật trồng rừng thay do Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Phƣớc Sơn thực hiện tại khoảnh 3, 4, 5 tiểu khu 689 thuộc xã Phƣớc Kim, huyện Phƣớc Sơn, tỉnh Quảng Nam. Ngày 16/3/2021, Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Phƣớc Sơn (gọi tắt là chủ đầu tƣ) ký hợp đồng số 01/2021/HĐ-XD với Công ty TNHH MTV Tuấn Zin do ông NGUYỄN QUỐC TR làm giám đốc (gọi tắt là đơn vị thi công) nhận thi công trồng rừng thay thế với diện tích 20ha. Ngày 16/3/2021, Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Phƣớc Sơn ký hợp đồng số 02/2021/HĐ-TVGS với Công ty TNHH TM&DV Đức Chính do bà Trần Thị Tích Đ làm giám đốc (gọi tắt là đơn vị tƣ vấn giám sát) thực hiện việc tƣ vấn giám sát trồng rừng thay thế. Ngày 18/3/2021, chủ đầu tƣ, đơn vị thi công và đơn vị tƣ vấn giám sát tiến hành bàn giao mặt bằng diện tích trồng rừng thay thế đã đƣợc phê duyệt là 20h và đơn vị thi công bắt đầu giai đoạn xử lý thực bì (phát dọn) để trồng rừng thay thế.

Theo hồ sơ thiết kế kỹ thuật đã đƣợc phê duyệt trong dự án thì phƣơng pháp xử lý thực bì là phát theo băng, băng chặt 5m, băng chừa 1m; băng chặt đƣợc bố trí song song với đƣờng đồng mức, trên băng chặt phát dọn sạch thực bì, chiều cao gốc chặt dƣới 10cm, chừa lại toàn bộ cây gỗ tái sinh có tiêu chí phòng hộ lâu dài trên lô thiết kế trồng rừng. Quá trình xử lý thực bì ông NGUYỄN QUỐC TR đã giao cho ông DƢƠNG VĂN N làm chỉ huy trƣởng công trình thuê nhân công lao động đồng thời chỉ đạo ông DƢƠNG VĂN N cho nhân công phát thực bì theo phƣơng pháp phát trắng, chỉ chừa lại những cây có mục đích tái sinh. Chỉ đạo phát đến đâu thì làm ranh cản lửa đến đó để khi đốt đảm bảo an toàn phòng cháy rừng. Đến ngày 8 và ngày 9/5/2021, ông DƢƠNG VĂN N cùng nhân công đốt diện tích rừng đã phát thực bì, do quá trình đốt ông DƢƠNG VĂN N không thực hiện đúng các biện pháp bảo đảm an toàn phòng cháy rừng nên đã cháy lan ra ngoài diện tích rừng đƣợc phê duyệt.

Theo biên bản khám nghiệm hiện trƣờng ngày 28/5/2021 xác định: Tổng diện tích rừng phòng hộ bị cháy 164.500m2, trong đó nằm trong thiết kế 133.900m2; nằm ngoài thiết kế 30.600m2 (trong đó 30.000m2 là rừng phòng hộ, 600m2 là rừng ngoài quy hoạch lâm nghiệp). Tổng thiệt hại lâm sản 2.465 cây có khối lƣợng 245,575m3 gỗ tròn các loại (trong đó cây bị chặt hạ 557 cây có khối lƣợng 17,466m3 gỗ tròn các loại; số cây trong khu vực trồng rừng thay thế 419 cây có khối lƣợng 12,646m3 gỗ tròn, nằm ngoài khu vực trồng rừng thay thế 357 cây có khối lƣợng 60,983m3 gỗ tròn; số cây bị cháy chết 1.908 cây có khối lƣợng 228,109m3 gỗ tròn các loại, trong khu vực trồng rừng thay thế 1.551 cây có khối lƣợng 167,126m3, nằm ngoài khu vực trồng rừng thay thế 357 cây có khối lƣợng 60,983m3).

Với hành vi chỉ đạo phát, đốt diện tích 20ha không đúng theo thiết kế đã đƣợc

phê duyệt trong dự án của ông NGUYỄN QUỐC TR đã gây thiệt hại 52.316m2 rừng phòng hộ (trong đó có 9.770m2 bị cháy lan ra ngoài diện tích thiết kế) và thiệt hại về lâm sản 2.465 cây, có khối lƣợng 245,575m3 gỗ tròn các loại. Đối với ông DƢƠNG VĂN N cho nhân công phát trắng diện tích rừng đƣợc giao theo dự án, đốt thực bì là làm theo sự chỉ đạo của ông NGUYỄN QUỐC TR nên ông DƢƠNG VĂN N không phải chịu trách nhiệm hình sự đối với diện tích rừng bị cháy và lâm sản bị thiệt hại nằm trong thiết kế đƣợc phê duyệt. Nhƣng ông DƢƠNG VĂN N phải chịu trách nhiệm đối với diện tích rừng bị cháy lan ngoài thiết kế đƣợc phê duyệt 9.770m2 và 89 cây gỗ bị chết cháy có khối lƣợng 8,815m3 gỗ tròn các loại. Vì quá trình đốt thực bì ông DƢƠNG VĂN N không thực hiện đúng các biện pháp đảm bảo an toàn phòng cháy rừng.

Tại kết luận định giá tài sản số 02/KL-ĐG ngày 01/03/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Phƣớc Sơn, tỉnh Quảng Nam kết luận: Giá trị thiệt hại khối lƣợng 245,575m3 gỗ tròn là 479.026.000 đồng; thiệt hại về môi trƣờng 958.052.000 đồng.

Tại cáo trạng số 18/CT-VKSPS-HS, ngày 5/9/2022 của Viện kiểm sát nhân

dân huyện Phƣớc Sơn, tỉnh Quảng Nam truy tố bị cáo NGUYỄN QUỐC TR về tội “Hủy hoại rừng” theo điểm c khoản 3 Điều 243 Bộ luật hình sự và truy tố bị cáo DƢƠNG VĂN N về tội “Hủy hoại rừng” theo điểm e khoản 2 Điều 243 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo và những ngƣời tham gia tố tụng khai nhận:

Bị cáo NGUYỄN QUỐC TR khai nhận: Ngày 16/3/2021, bị cáo ký hợp đồng số 01/2021/HĐ-XD với Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Phƣớc Sơn để trồng rừng thay thế, địa điểm tại khoảnh 3, 4, 5 tiểu khu 689 thuộc xã Phƣớc Kim, huyện Phƣớc Sơn, tỉnh Quảng Nam. Ngày 18/3/2021, tiến hành nhận bàn giao mặt bằng trồng rừng thay thế với diện tích 20ha và phân công ông DƢƠNG VĂN N làm chỉ huy trƣởng làm nhiệm vụ thuê nhân công, theo dõi, giám sát, đôn đốc nhân công phát dọn thực bì. Chỉ đạo ông DƢƠNG VĂN N cho nhân công phát trắng và đốt để trồng cây và phải làm ranh cản lửa để đảm bảo phòng cháy rừng. Theo phƣơng án phê duyệt thì phát theo băng, băng chặt 5m, băng chừa 1m, không đƣợc phát trắng và đốt; trƣớc khi chỉ đạo ông Năm đốt thì có đi kiểm tra nhƣng không hết diện tích. Ông DƢƠNG VĂN N tiến hành đốt diện tích đã phát thực bì nhƣng quá trình đốt đã cháy lan ra ngoài diện tích đƣợc phê duyệt. Công ty TNHH MTV Tuấn Zin là do bị cáo thành lập và làm giám đốc, khi ký hợp đồng trồng rừng thay thế với Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Phƣớc Sơn là nhằm mục đích phục vụ cho cá nhân. Đơn vị chủ đầu tƣ và đơn vị tƣ vấn giám sát không có chỉ đạo phát trắng và đốt, khi chỉ đạo ông Năm đốt diện tích đã phát thì bị cáo không có báo cáo cho chủ đầu tƣ và đơn vị tƣ vấn giám sát biết mà bị cáo tự chỉ đạo ông Năm. Diện tích đƣợc giao trồng rừng thay thế 20ha chủ yếu là dây leo, bụi rậm, không có cây gỗ lớn, do chủ quan nên dẫn đến hậu quả cháy rừng. Trong quá trình điều tra, truy tố không bị đánh đập, không bị ép cung, bị cáo không nhận tội thay cho ai, hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật.

Bị cáo DƢƠNG VĂN N khai nhận: Bị cáo là nhân viên hợp đồng của Công ty Tuấn Zin do ông NGUYỄN QUỐC TR làm giám đốc. Trong tháng 3/2021, anh Trƣởng chỉ đạo bị cáo vào tiểu khu 689 thuộc xã Phƣớc Kim, huyện Phƣớc Sơn thuê nhân công để phát dọn thực bì diện tích 20ha để trồng rừng thay thế đã đƣợc phê duyệt và chỉ đạo phát trắng diện tích đƣợc giao và phải làm ranh giới để sau này đốt không cháy lan. Sau khi phát xong thực bì thì anh Trƣởng chỉ đạo bị cáo thuê mấy ngƣời dân cùng với bị cáo tiến hành đốt, quá trình đốt thì cháy lan ra ngoài diện tích đã đƣợc phê duyệt. Quá trình phát thì có làm ranh giới cản lửa tuy nhiên không đảm bảo phòng cháy, trƣớc khi đốt bị cáo nhận thức đƣợc là có khả cháy lan nhƣng do chủ quan nên không kiểm tra kỹ ranh giới cản lửa có đảm bảo an toàn không nên dẫn đến hậu quả là cháy lan ngoài diện tích đã đƣợc phê duyệt. Trong quá trình điều tra, truy tố không bị đánh đập, không bị ép cung, bị cáo không nhận tội thay cho ai, hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luât.

Ông A Lăng Ng khai nhận: Đơn vị có ký hợp đồng trồng rừng thay thế theo phƣơng án đã đƣợc phê duyệt với diện tích 20ha với ông NGUYỄN QUỐC TR là giám đốc Công ty Tuấn Zin và ký hợp đồng với đơn vị tƣ vấn giám sát là Công ty TNHH TM&DV Đức Chính do bà Trần Thị Tích Đ làm giám đốc và các bên tiến hành bàn giao mặt bằng cho đơn vị thi công. Ban có thành lập tổ theo dõi nhƣng chƣa phân công nhiệm vụ cụ thể mà chỉ phân công nhiệm vụ cho các thành viên trong các cuộc họp Chi bộ, đơn vị cùng với đơn vị tƣ vấn giám sát theo dõi đơn vị thi công. Theo quy định thì phát băng, băng chặt 5m, băng chừa 1m; không đƣợc phát trắng và đốt; việc ông Trƣởng chỉ đạo ông Năm cho nhân công phát trắng và đốt diện tích đã phát thì chủ đầu tƣ hoàn toàn không biết, trƣớc khi đốt ông Trƣởng cũng không báo cáo.

Bà Trần Thị Tích Đ khai nhận: Tôi có ký hợp đồng với Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Phƣớc Sơn về tƣ vấn giám sát trồng rừng thay thế với diện tích 20ha và phân công ông Trần Trọng V giám sát đơn vị thi công trồng rừng. Việc ông Trƣởng cho phát trắng và đốt diện tích đƣợc phê duyệt thì đơn vị tƣ vấn giám sát hoàn toàn không biết, sau khi sự việc xảy ra thì tôi mới biết.

Ông Nguyễn Tấn B khai: Sau khi Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Phƣớc Sơn ký hợp đồng với Công ty Tuấn Zin do ông NGUYỄN QUỐC TR làm giám đốc là đơn vị thi công trồng rừng thay thế và Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Phƣớc Sơn tiếp tục ký hợp đồng với đơn vị tƣ vấn giám sát là Công ty Đức Chính do bà Trần Thị Tích Đ làm giám đốc để giám sát đơn vị thi công và tiến hành bàn giao mặt bằng. Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Phƣớc Sơn có thành lập tổ nhƣng chƣa phân công nhiệm vụ cho từng ngƣời, nhƣng trong các cuộc họp chi bộ, đơn vị thì lãnh đạo Ban quản lý rừng có phân công, đôn đốc cán bộ theo dõi cùng với đơn vị tƣ vấn giám sát.

Những ngƣời phát thuê gồm: Bà Hồ Thị H, Hồ Thị Ch, Hồ Thị B, Hồ Văn B, Hồ Thị M, Hồ Văn Th đều khai nhận là trong tháng 3/2021 có tham gia phát dây leo, bụi rậm tại khu vực rừng xã Phƣớc Kim, huyện Phƣớc Sơn do bị cáo DƢƠNG VĂN N thuê, mỗi ngày trả tiền công 230.000 đồng. Chỉ biết đi làm thuê lấy tiền công và biết khu vực phát thuê là để trồng cây đƣợc Nhà nƣớc cho phép, ngoài ra không biết gì.

Đại diện Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Phƣớc Sơn ông Phan Lựu khai: Diện tích rừng các bị cáo phát, đốt tại khoảnh 3, 4, 5 tiểu khu 689 thuộc xã Phƣớc Kim huyện Phƣớc Sơn, tỉnh Quảng Nam đƣợc quy hoạch là rừng phòng hộ do Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Phƣớc Sơn quản lý, bảo vệ. Tổng diện tích theo thiết kế đƣợc phê duyệt trồng rừng thay thế là 20ha và cháy lan ngoài diện tích đƣợc phê duyệt 9.770m2; tổng diện tích rừng phòng hộ bị cháy 164.500m2. Trong đó có 133.900m2 nằm trong thiết kế thì đơn vị thi công đƣợc phát để trồng cây 111.584m2 và không đƣợc phát 22.316m2. Theo thiết kế đƣợc phê duyệt trồng rừng thay thế là phát theo băng, băng chặt 5m, băng chừa 1m và không đƣợc phát trắng toàn bộ diện tích đƣợc giao và không đƣợc đốt. Tổng diện tích rừng phòng hộ bị thiệt hại do không thực hiện đúng thiết kế đã phê duyệt theo dự án 42.546m2 và 9.770m2 nằm ngoài thế kế; thiệt hại về lâm sản 2.465 cây (trong đó có 89 cây nằm ngoài thiết kế) có khối lƣợng 245,575m3 (trong đó có 8,815m3 nằm ngoài thiết kế) gỗ tròn các loại. Yêu cầu các bị cáo NGUYỄN QUỐC TR và Dƣơng Văn Nam phải bồi thƣờng thiệt hại về lâm sản cho Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Phƣớc Sơn theo quy định của pháp luật. Không yêu cầu các bị cáo bồi thƣờng thiệt hại về môi trƣờng, vì các bị cáo đốt thực bì và cháy lan ra ngoài diện tích đƣợc phê duyệt xảy ra trong tháng 5/2021; còn quyết định số 02 ngày 12/01/2022 của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam quy định về khung giá rừng có hiệu lực từ ngày 25/01/2022.

Luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, biên bản khám nghiệm hiện trƣờng, xác định loại rừng, xác định thiệt hại về gỗ; lời khai nhận tội của các bị cáo NGUYỄN QUỐC TR và DƢƠNG VĂN N tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa thì thấy: Theo Quyết định số 186/QĐ-UBND ngày 19/01/2021 của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam phê duyệt trồng rừng thay thế do Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Phƣớc Sơn thực hiện tại khoảnh 3, 4, 5 tiểu khu 689 thuộc xã Phƣớc Kim, huyện Phƣớc Sơn, tỉnh Quảng Nam quy định phƣơng pháp xử lý thực bì là phát theo băng, băng chặt 5m, băng chừa 1m, chừa lại toàn bộ cây gỗ tái sinh, không đƣợc phát trắng và đốt. Nhƣng bị cáo NGUYỄN QUỐC TR đã chỉ đạo bị cáo DƢƠNG VĂN N thuê nhân công cho phát trắng diện tích rừng đƣợc giao, phải làm ranh cản lửa để khi đốt đảm bảo an toàn không cháy lan và chỉ đạo bị cáo DƢƠNG VĂN N đốt thực bì diện tích đã phát. Quá trình đốt đã cháy toàn bộ diện tích rừng đƣợc giao và cháy lan ra ngoài diện tích đƣợc phê duyệt là 9.770m2 rừng phòng hộ. Xét thấy bị cáo NGUYỄN QUỐC TR không thực hiện đúng theo phƣơng án phê duyệt trồng rừng thay thế nên dẫn đến cháy diện tích rừng phòng hộ 164.500m2 và thiệt hại về lâm sản 245,575m3 gỗ tròn các loại theo định giá 479.026.000 đồng. Trong diện tích rừng phòng hộ bị cháy 164.500m2, trong đó nằm trong thiết kế 133.900m2 thì đơn vị thi công đƣợc phát để trồng rừng 111.584m2 và không đƣợc phát 22.316m2. Nhƣ vậy, bị cáo NGUYỄN QUỐC TR phải chịu trách nhiệm hình sự đối với diện tích 52.316m2 rừng phòng hộ bị cháy (trong đó 42.536m2 nằm trong thiết kế và 9.770m2 cháy lan ngoài thiết kế) và 245,5753 gỗ tròn các loại (trong đó nằm trong thiết kế 236,760m3 và 8,815m3 nằm ngoài thiết kế). Đối với bị cáo DƢƠNG VĂN N không phải chịu trách nhiệm hình sự cùng với bị cáo NGUYỄN QUỐC TR đối với diện tích 42.536m2 rừng phòng hộ bị cháy nằm trong thiết kế và 236,760m2 gỗ tròn nằm trong thiết kế. Nhƣng bị cáo DƢƠNG VĂN N cùng phải chịu trách nhiệm hình sự với bị cáo NGUYỄN QUỐC TR đối với diện tích rừng phòng hộ bị cháy lan ngoài thiết kế 9.770m2 và 8,815m3 gỗ tròn các loại. Xét thấy hành vi phát, đốt diện tích rừng đƣợc giao trồng rừng thay thế không đúng phƣơng án đã phê duyệt dẫn đến thiệt hại diện tích rừng và lâm sản của bị cáo NGUYỄN QUỐC TR đã phạm vào tội “Hủy hoại rừng” theo điểm c khoản 3 Điều 243 Bộ luật hình sự và bị cáo DƢƠNG VĂN N đã phạm vào tội “Hủy hoại rừng” theo điểm e khoản 2 Điều 243 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét nhân thân: Bị cáo NGUYỄN QUỐC TR chƣa có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải; gia đình và bị cáo là ngƣời có công với cách mạng, nhân thân tốt; bị cáo đã nộp bồi thƣờng xong thiệt hại về lâm sản nên đƣợc xem là tình tiết giảm nhẹ; không có tình tiết tăng nặng. Đối với bị cáo DƢƠNG VĂN N chƣa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu; tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa đã khai báo thành khẩn, biết ăn năn hối cải, gia đình có công với cách mạng, nhân thân tốt; bị cáo đã nộp bồi thƣờng xong thiệt hại về lâm sản nên đƣợc xem là tình tiết giảm nhẹ; không có tình tiết tăng nặng.

Từ phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 243; điểm b, s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo NGUYỄN QUỐC TR: 3 (ba) năm tù nhƣng cho hƣởng án treo và ấn định thời gian thử thách.

Căn cứ điểm e khoản 2 Điều 243; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều

54; Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo DƢƠNG VĂN N từ: 12 - 18 tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo và ấn định thời gian thử thách.

Trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, 587, 589 Bộ luật dân sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên buộc các bị cáo NGUYỄN QUỐC TR và DƢƠNG VĂN N phải bồi thƣờng thiệt hại về lâm sản cho Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Phƣớc Sơn với số tiền 479.026.000 đồng nhƣng đƣợc trừ vào số tiền các bị cáo đã nộp bồi thƣờng 479.026.000 đồng (đã nộp bồi thƣờng xong).

Đối với thiệt hại về môi trƣờng thì hành vi phạm tội của các bị cáo NGUYỄN QUỐC TR và DƢƠNG VĂN N thực hiện trƣớc khi có quyết định số 02 ngày 12/01/2022 của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam quy định về khung giá rừng có hiệu lực ngày 25/01/2022, theo hƣớng có lợi nên các bị cáo không phải bồi thƣờng thiệt hại về môi trƣờng nên không đề cập.

Xử lý vật chứng: Đối với 245,575m3 gỗ tròn các loại từ nhóm I-VIII do bị cháy, mục không tận thu đƣợc nên không đề cập.

Đối với bà Trần Thị Tích Đ là giám đốc công ty TNHH TM&DV Đức Chính đơn vị tƣ vấn giám sát đơn vị thi công trồng rừng thay thế đƣợc tách thành hành vi khác nên không đề cập trong vụ án này. Đối với những ngƣời phát, đốt thuê là ngƣời dân tộc thiểu số, nhận thức pháp luật hạn chế, mục đích làm thuê lấy tiền công nên không đề cập đến việc xử lý.

Các bị cáo NGUYỄN QUỐC TR và DƢƠNG VĂN N không tranh luận, nhận tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Những ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tranh luận gì.

Đại diện của nguyên đơn dân sự Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Phƣớc Sơn không tranh luận, yêu cầu bị cáo NGUYỄN QUỐC TR và DƢƠNG VĂN N bồi thƣờng thiệt hại về lâm sản theo định, không yêu cầu các bị cáo bồi thƣờng thiệt hại về môi trƣờng và xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, của điều tra viên; của Viện kiểm sát, của kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo NGUYỄN QUỐC TR và DƢƠNG VĂN N không có ý kiến hoặc khiếu nại. Nên các hành vi và quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng thực hiện hợp pháp.

Xét hành vi phạm tội của các bị cáo: Bị cáo NGUYỄN QUỐC TR biết và nhận thức đƣợc hành vi của mình là khi nhận thực hiện diện tích 20ha để trồng rừng thay thế đƣợc phê duyệt thì theo quy định là phát băng, băng chặt 5m, băng chừa 1m và không đƣợc chặt hạ các cây tái sinh trên diện tích đƣợc giao và không đƣợc phát trắng, không đốt thực bì. Nhƣng trong quá trình thực hiện dự án trồng rừng thay thế đã đƣợc phê duyệt thì bị cáo NGUYỄN QUỐC TR đã phân công bị cáo DƢƠNG VĂN N làm chỉ huy trƣởng công trình, chỉ đạo thuê nhân công cho phát trắng, chặt cây và đốt toàn bộ diện tích rừng đƣợc giao là không đúng quy định và quá trình đốt có thể cháy lan nhƣng vẫn thực hiện. Quá trình đốt đã cháy diện tích rừng đƣợc giao và cháy lan ra ngoài diện tích đƣợc phê duyệt; cụ thể tổng diện tích rừng bị cháy 164.500m2, trong đó có 163.900m2 là rừng phòng hộ và 600m2 rừng ngoài quy hoạch đất lâm nghiệp; trong 163.900m2 có 133.900m2 nằm trong thiết kế thì đơn vị thi công đƣợc phát để trồng cây 111.584m2, còn 22.316m2 không đƣợc phát và trồng cây. Nhƣ vậy, bị cáo NGUYỄN QUỐC TR phải chịu trách nhiệm hình sự đối với diện tích rừng phòng hộ bị cháy 52.316m2 (trong đó 42.546m2 nằm trong thiết kế và 9.770m2 phần cháy lan ra ngoài thiết kế) và gây thiệt hại về lâm sản 245,575m3 (trong đó 236,760m3 nằm trong diện tích thiết kế và 8,815m3 nằm ngoài diện tích thiết kế) gỗ tròn các loại. Bị cáo DƢƠNG VĂN N không phải chịu trách nhiệm hình sự với bị cáo NGUYỄN QUỐC TR về thiệt hại 42.546m2 rừng phòng hộ và 236,760m3 gỗ tròn các loại. Nhƣng bị cáo DƢƠNG VĂN N phải chịu trách nhiệm hình sự về diện tích rừng phòng hộ bị cháy lan ngoài thiết kế 9.770m2 và 8,815m3 gỗ tròn các loại.

Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; biên bản khám nghiệm hiện

trƣờng; xác định diện tích rừng, xác định loại rừng; kết luận định giá tài sản; luận tội của Kiểm sát viên; lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với tài liệu, chứng cứ đƣợc chứng minh có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ căn cứ kết luận: Hành vi phát, đốt diện tích rừng đƣợc giao không đúng với phƣơng án đã đƣợc phê duyệt gây thiệt hại về rừng và lâm sản tại khoảnh 3, 4, 5 tiểu khu 689 thuộc xã Phƣớc Kim, huyện Phƣớc Sơn, tỉnh Quảng Nam của bị cáo NGUYỄN QUỐC TR đã cấu thành tội “Hủy hoại rừng” theo điểm c khoản 3 Điều 243 Bộ luật hình sự và hành vi của bị cáo DƢƠNG VĂN N đã cấu thành tội “Hủy hoại rừng” theo điểm e khoản 2 Điều 243 Bộ luật hình sự nhƣ Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phƣớc Sơn, tỉnh Quảng Nam đã truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội; tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: Các bị cáo NGUYỄN QUỐC TR và DƢƠNG VĂN N là khi thực hiện dự án trồng rừng thay thế đƣợc phê duyệt không tuân thủ đúng quy định theo thiết kế; cụ thể là khi thực hiện dự án trồng rừng thay thế theo phƣơng án đã đƣợc phê duyệt quy định phát băng, băng chặt 5m, băng chừa 1m, không đƣợc chặt các loại cây có mục đích tái sinh, không đƣợc phát trắng (phát sạch) và không đƣợc đốt. Thế nhƣng các bị cáo không thực hiện đúng phƣơng án thiết kế đã phê duyệt dẫn đến gây hậu quả cháy rừng phòng hộ và thiệt hại về lâm sản. Do đó các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình.

Xét nhân thân: Bị cáo NGUYỄN QUỐC TR phạm tội lần đầu, chƣa có tiền án, tiền sự; tại phiên tòa đã khai báo thành khẩn, biết ăn năn hối cải; gia đình và bị cáo là ngƣời có công với cách mạng, bị cáo đã nộp bồi thƣờng xong thiệt hại về lâm sản với số tiền 479.026.000 đồng nên đƣợc xem là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; không có tình tiết tăng nặng. Bị cáo DƢƠNG VĂN N phạm tội lần đầu, chƣa có tiền án tiền án, tiền sự; tại phiên tòa đã khai báo thành khẩn, biết ăn năn hối cải; hoàn cảnh gia đình khó khăn; gia đình có công với cách mạng, bị cáo đã nộp bồi thƣờng xong thiệt hại về lâm sản nên đƣợc xem là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; không có tình tiết tăng nặng.

Xét thấy các bị cáo NGUYỄN QUỐC TR và DƢƠNG VĂN N có nhân thân

tốt, nơi cƣ trú ổn định, rõ ràng nên không nhất thiết phải cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội mà cho các bị cáo đƣợc cải tạo, giáo dục tại địa phƣơng nhằm thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nƣớc và xét thấy đủ điều kiện căn cứ khoản 1 Điều 54 và Điều 65 Bộ luật hình sự để xem xét khi quyết định hình phạt.

Đối với bà Trần Thị Tích Đ là giám đốc Công ty Đức Chính là đơn vị tƣ vấn giám sát, Cơ quan điều tra tách thành hành vi khác nên không đề cập trong vụ án này. Đối với những ngƣời phát thuê là ngƣời dân tộc thiểu số, nhận thức pháp luật hạn chế, mục đích phát thuê lấy tiền công nên không đề cập.

Trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584,

587, 589 Bộ luật dân sự, tuyên buộc các bị cáo NGUYỄN QUỐC TR và DƢƠNG VĂN N phải bồi thƣờng thiệt hại về lâm sản cho Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Phƣớc Sơn với số tiền 479.026.000 đồng nhƣng đƣợc trừ vào số tiền các bị cáo đã nộp bồi thƣờng với số tiền 479.026.000 đồng (đã bồi thƣờng xong).

Tuyên giao cho Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Phƣớc Sơn với số tiền 479.026.000 đồng là số tiền các bị cáo bồi thƣờng thiệt hại về lâm sản.

Đối với thiệt hại về môi trƣờng, tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Phƣớc Sơn không yêu cầu các bị cáo bồi thƣờng nên không xem xét.

Xử lý vật chứng: Đối với 245,575m3 gỗ tròn các loại từ nhóm I-VIII do bị cháy, mục không tận thu đƣợc nên không đề cập.

Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự; điểm a

khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án buộc mỗi bị cáo NGUYỄN QUỐC TR và DƢƠNG VĂN N phải chịu 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo NGUYỄN QUỐC TR và DƢƠNG VĂN N phạm tội “Hủy hoại rừng”.

Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 243; điểm b, s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo:

NGUYỄN QUỐC TR: 3 (ba) năm tù nhƣng cho hƣởng án treo, thời gian thử thách 5 (năm) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (30/9/2022).

Tuyên giao bị cáo NGUYỄN QUỐC TR cho Ủy ban nhân dân phƣờng Hòa Thuận Tây, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng nơi bị cáo cƣ trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Nếu trƣờng hợp bị cáo NGUYỄN QUỐC TR đi khỏi nơi cƣ trú hoặc thay đổi nơi cƣ trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Căn cứ điểm e khoản 2 Điều 243; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo:

DƢƠNG VĂN N: 1 (một) năm tù nhƣng cho hƣởng án treo, thời gian thử

thách 2 (hai) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (30/9/2022).

Tuyên giao bị cáo DƢƠNG VĂN N cho Ủy ban nhân dân xã Đại Phong,

huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam nơi bị cáo cƣ trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Nếu trƣờng hợp bị cáo DƢƠNG VĂN N đi khỏi nơi cƣ trú hoặc thay đổi nơi cƣ trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, ngƣời đƣợc hƣởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc ngƣời đƣợc hƣởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hƣởng án treo.

Trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, 587, 589 Bộ luật dân sự, tuyên buộc các bị cáo NGUYỄN QUỐC TR và DƢƠNG VĂN N phải bồi thƣờng thiệt hại về lâm sản cho Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Phƣớc Sơn, tỉnh Quảng Nam với số tiền 479.026.000 đồng (bốn trăm bảy mƣơi chín triệu, không trăm hai mƣơi sáu ngàn đồng) nhƣng đƣợc trừ vào số tiền các bị cáo đã nộp bồi thƣờng 479.026.000 đồng (bốn trăm bảy mƣơi chín triệu, không trăm hai mƣơi sáu ngàn đồng) (đã nộp bồi thƣờng xong).

Tuyên giao cho Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Phƣớc Sơn, tỉnh Quảng Nam với số tiền 479.026.000 đồng (bốn trăm bảy mƣơi chín triệu, không trăm hai mƣơi sáu ngàn đồng). Trong đó 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) đang tạm gửi tại tài khoản số 4213203000010 của Công an huyện Phƣớc Sơn tại Kho bạc Nhà nƣớc huyện Phƣớc Sơn, tỉnh Quảng Nam và 377.026.000 đồng (ba trăm bảy mƣơi bảy triệu, không trăm hai mƣơi sáu ngàn đồng) nộp tại biên lai thu tiền số 0006793 lập ngày 15/9/2022 và 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) nộp tại biên lai thu tiền số 0006787 lập ngày 9/9/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phƣớc Sơn, tỉnh Quảng Nam.

Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự;

điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án tuyên buộc mỗi bị cáo NGUYỄN QUỐC TR và DƢƠNG VĂN N phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng).

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm các bị cáo; nguyên đơn dân sự; ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền làm đơn kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm. Riêng những ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án.

Cỡ chữ