vanban.org

Bản án 24/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn Tuyên án 29/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lưu Văn Ch phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Về hình phạt: Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Lưu Văn Ch 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án được trừ đi số ngày bị cáo bị tạm giữ (từ ngày 16/5/2022 đến ngày 24/5/2022). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lưu Văn C - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lưu Văn Ch phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BA BỂ
TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2022/HS-ST
Ngày: 29-9-2022.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Anh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà: Nguyễn Thị Nga.

Ông: Lục Minh Đường.

- Thư ký phiên toà: Bà Hứa Huyền Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên toà: Ông Ma Thế Thiện - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 19/2022/TLST-HS, ngày 09 tháng 9 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2022/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2022 đối với bị cáo:

Lưu Văn Ch, (Tên gọi khác: không) sinh ngày 15/9/1973, tại huyện B, tỉnh Bắc Kạn; Nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện nay: Thôn T, xã Th, huyện B, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lưu Văn D (đã chết) và bà Nguyễn Thị Vh; Vợ Hoàng Thị Ch và có 02 con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/5/2022 đến ngày 24/5/2022 thì được tại ngoại cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Hoàng Thị Ch, sinh năm 1973. Nơi cư trú: Thôn T, xã Th, huyện B, tỉnh Bắc Kạn; Vắng mặt.

* Người chứng kiến:

- Bà Chu Thị B, sinh năm 1965. Vắng mặt.

- Bà Lý Thị H, sinh năm 1956. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 16/5/2022, bị cáo Lưu Văn Ch điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 97F4-1699 từ thôn T, xã Th, huyện B đến thị trấn Ch, huyện B với mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Khi đến T2, thị trấn Ch, huyện B, bị cáo Ch nhìn thấy một người đàn ông không quen biết có biểu hiện là người nghiện chất ma túy đứng ở cạnh đường nên dừng xe vào hỏi mua ma túy, bị cáo Ch đưa cho người đàn ông số tiền 100.000 đồng được 01 gói ma túy, loại Heroine. Mua được ma túy, bị cáo Ch cho gói ma túy vào vỏ bao thuốc lá rồi cất vào túi áo ngực đang mặc, sau đó đi lên bãi đất trống gần đó để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị tổ công tác Công an huyện B cùng với công an thị trấn Ch, huyện B phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ 01 gói ma túy dạng cục, bột màu trắng và niêm phong vào phong bì ký hiệu A1. Ngoài ra, còn tạm giữ của bị cáo Lưu Văn Ch 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Vinataba, 02 điện thoại di động (01 chiếc nhãn hiệu SAMSUNG, 02 chiếc nhãn hiệu OPPO), 01 áo sơ mi dài tay, 01 xe mô tô biển kiểm soát 97F4-1699. Đồng thời tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở và các công trình phụ cận liên quan của bị cáo Lưu Văn Ch (tại thôn T, xã Th, huyện B), kết quả khám xét không phát hiện, thu giữ thêm đồ vật, tài liệu gì có liên quan đến hành vi vi phạm của bị cáo Ch.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ba Bể đã tiến hành mở niêm phong phong bì ký hiệu A1 để cân xác định khối lượng 01 gói chứa chất dạng cục, bột màu trắng thu giữ của bị cáo Lưu Văn Ch được 0,16 gam (niêm phong trong phong bì ký hiệu B1). Sau đó tiến hành bàn giao cho Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn để trưng cầu giám định.

Tại Kết luận giám định số: 73/KL-KTHS ngày 20/5/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Bắc Kạn kết luận: Mẫu chất bột màu trắng dạng cục và bột trong phong bì ký hiệu B1 gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 0,16 g (không phẩy một sáu gam). Sau giám định, mẫu chất trong phong bì ký hiệu B1 còn lại là 0,13 g (không phẩy một ba gam) cùng phong bì, bao gói cũ được niêm phong vào phong bì mới ký hiệu T95 và hoàn trả lại cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ba Bể quản lý theo quy định.

Bản Cáo trạng số: 21/CT-VKSBB ngày 08/9/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố bị cáo Lưu Văn Ch về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Điều luật có nội dung:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”

Trước cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lưu Văn Ch đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể duy trì quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh, điều luật áp dụng đối với bị cáo Lưu Văn Ch phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Lưu Văn Ch từ 12 tháng đến 15 tháng tù. Thời hạn tù kể từ ngày bị cáo đi chấp hành án được trừ đi số ngày bị cáo bị tạm giữ.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không thuộc hộ nghèo, cận nghèo nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự phạt tiền đối với bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng.

Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 29, Điều 33, Điều 37 của Luật hôn nhân và Gia đình; Điều 244 của Bộ luật Dân sự để xử lý vật chứng:

- Tịch thu, tiêu hủy toàn bộ số vật chứng không có giá trị sử dụng gồm: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu B2 bên trong có chứa phong bì, bao gói cũ vụ Lưu Văn Ch; 01 phong bì mẫu hoàn trả đã niêm phong ký hiệu T95, bên trong phong bì có chứa: Mẫu vật còn lại sau giám định và phong bì, giấy gói cũ. Tình trạng phong bì niêm phong còn nguyên vẹn. Mặt trước phong bì có ghi “Vụ Lưu Văn Ch (1973) tàng trữ trái phép chất ma túy”, ký hiệu “T95”, mặt sau có 04 chữ ký không đọc được, cùng 02 dấu tròn của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn.

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bao thuốc lá nhãn hiệu Vinataba, màu vàng; 01 (một) áo sơ mi, dài tay màu ghi, kẻ sọc của bị cáo Lưu Văn Ch do có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo Ch.

- Trả lại 02 (hai) điện thoại di động gồm: 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu SAMSUNG, màu xanh đen, có ốp nhựa màu xanh, điện thoại cũ đã qua sử dụng và 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO, màu trắng hồng, có ốp nhựa màu nâu đen, điện thoại cũ đã qua sử dụng cho bị cáo Lưu Văn Ch do không liên quan đến hành vi phạm tội. Tuy nhiên, cần tạm giữ để thi hành án cho bị cáo.

* Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE, BKS: 97F4 - 1699, màu xanh, xe đã qua sử dụng, đây là chiếc xe bị cáo sử dụng để đi mua ma túy. Chiếc xe này hình thành trong thời kỳ hôn nhân, là tài sản chung của vợ chồng bị cáo Lưu Văn Ch và bà Hoàng Thị Ch. Việc bị cáo Ch sử dụng chiếc xe trên để đi mua ma túy bà Ch không biết. Chiếc xe mô tô trên là tài sản liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần tịch thu hóa giá, một phần hai giá trị chiếc xe được sung vào ngân sách Nhà nước và một phần hai giá trị chiếc xe trả lại cho bà Hoàng Thị Ch.

* Đối với số tiền 2.000.000 đồng bị cáo nộp theo biên lai thu tiền số 0001024 ngày 13/9/2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Ba Bể cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Trong phần tranh luận bị cáo đồng ý với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật và mức hình phạt áp dụng và không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng hình phạt nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ba Bể, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn; quyết định tố tụng được ban hành đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử những người tham gia tố tụng không ai khiếu nại về quyết định, hành vi của Cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (có đơn xin xét xử vắng mặt) và những người chứng kiến. Tuy nhiên, họ đã có đầy đủ lời khai tại giai đoạn điều tra, việc vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án của Tòa án. Căn cứ vào Điều khoản 1 Điều 292 và Điều 296 của Bộ luật tố tụng Hình sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ.

Về căn cứ định tội, định khung hình phạt:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lưu Văn Ch đều thừa nhận: Vào hồi 17 giờ 30 phút ngày 16/5/2022, tại T, thị trấn Ch, huyện B, tổ công tác của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B phối hợp với công an thị trấn Ch bắt quả tang bị cáo Lưu Văn Ch về hành vi tàng trữ trái phép 01 gói ma túy, loại Heroine có tổng khối lượng 0,16 g (không phẩy mười sáu gam). Mục đích bị cáo Ch mua ma túy về chỉ để sử dụng cho bản thân.

Bị cáo là người có đủ năng lực hành vi nhưng bị cáo vẫn thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến cùng tài liệu, chứng cứ đã thu thập được và phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra tội phạm. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lưu Văn Ch đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:

- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: Trong các giai đoạn tố tụng bị cáo đều "Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải" là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Ngoài ra, ngày 13/9/2022 bị cáo Lưu Văn Ch nộp số tiền 2.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Ba Bể với mục đích để đảm bảo thi hành án cho bị cáo nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, mặt khác góp phần tiếp tay làm gia tăng tệ nạn sử dụng ma tuý và tội phạm khác ở địa phương, gây mất an ninh trật tự, khiến quần chúng nhân dân bất bình lên án, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, do đó cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới cải tạo và giáo dục bị cáo trở thành người công dân lương thiện, có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không thuộc hộ nghèo, cận nghèo nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng:

* Đối với vật chứng gồm: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu B2 bên trong có chứa phong bì, bao gói cũ vụ Lưu Văn Ch; 01 phong bì mẫu hoàn trả đã niêm phong ký hiệu T95, bên trong phong bì có chứa: Mẫu vật còn lại sau giám định và phong bì, giấy gói cũ. Tình trạng phong bì niêm phong còn nguyên vẹn. Mặt trước phong bì có ghi “Vụ Lưu Văn Ch (1973) tàng trữ trái phép chất ma túy”, ký hiệu “T95”, mặt sau có 04 chữ ký không đọc được, cùng 02 dấu tròn của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn; 01 (một) bao thuốc lá nhãn hiệu Vinataba, màu vàng; 01 (một) áo sơ mi, dài tay màu ghi, kẻ sọc của bị cáo Lưu Văn Ch.

Toàn bộ số vật chứng trên không có giá trị sử dụng, cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy.

* Đối với vật chứng là: 02 (hai) điện thoại di động gồm 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu SAMSUNG, màu xanh đen, có ốp nhựa màu xanh, điện thoại cũ đã qua sử dụng và 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO, màu trắng hồng, có ốp nhựa màu nâu đen, điện thoại cũ đã qua sử dụng cho bị cáo Lưu Văn Ch do không liên quan đến hành vi phạm tội trả lại cho bị cáo Ch. Tuy nhiên, cần tạm giữ để thi hành án cho bị cáo.

* Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE, BKS: 97F4 - 1699, màu xanh, xe đã qua sử dụng, đây là chiếc xe bị cáo sử dụng để đi mua ma túy. Chiếc xe này hình thành trong thời kỳ hôn nhân, là tài sản chung của vợ chồng bị cáo Lưu Văn Ch và bà Hoàng Thị Ch. Việc bị cáo Ch sử dụng chiếc xe trên để đi mua ma túy bà Ch không biết. Chiếc xe mô tô trên là tài sản liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần tịch thu hóa giá, một phần hai giá trị chiếc xe được sung vào ngân sách Nhà nước và một phần hai giá trị chiếc xe trả lại cho bà Hoàng Thị Ch.

* Đối với số tiền 2.000.000 đồng bị cáo nộp tạm ứng để thi hành án theo biên lai thu tiền số 0001024 ngày 13/9/2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Ba Bể cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.

Về vấn đề khác: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lưu Văn Ch có khai mua ma túy của người đàn ông không rõ danh tính, họ tên, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với bà Hoàng Thị Ch là vợ của bị cáo Lưu Văn Ch, ngày 16/5/2022 bị cáo Ch đã sử dụng xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE, BKS: 97F4 - 1699, màu xanh (là tài sản chung của vợ chồng bị cáo Ch và bà Ch) để đi mua ma túy bà Ch không biết nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ba Bể không xử lý là có căn cứ pháp luật.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; Điều 38; Điều 47; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106, Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 29, Điều 33, Điều 37 của Luật hôn nhân và Gia đình; Điều 244 của Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố: Bị cáo Lưu Văn Ch phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

2. Về hình phạt:

Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Lưu Văn Ch 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án được trừ đi số ngày bị cáo bị tạm giữ (từ ngày 16/5/2022 đến ngày 24/5/2022).

Hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo Lưu Văn Ch 5.000.000đ (Năm triệu đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.

3. Về vật chứng:

* Tịch thu, tiêu hủy vật chứng không có giá trị sử dụng, cấm tàng trữ, cấm lưu hành gồm: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu B2 bên trong có chứa phong bì, bao gói cũ vụ Lưu Văn Ch; 01 phong bì mẫu hoàn trả đã niêm phong ký hiệu T95, bên trong phong bì có chứa: Mẫu vật còn lại sau giám định và phong bì, giấy gói cũ. Tình trạng phong bì niêm phong còn nguyên vẹn. Mặt trước phong bì có ghi “Vụ Lưu Văn Ch (1973) tàng trữ trái phép chất ma túy”, ký hiệu “T95”, mặt sau có 04 chữ ký không đọc được, cùng 02 dấu tròn của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn; 01 (một) bao thuốc lá nhãn hiệu Vinataba, màu vàng; 01 (một) áo sơ mi, dài tay màu ghi, kẻ sọc của bị cáo Lưu Văn Ch.

* Tịch thu hóa giá 01 (Một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE, BKS: 97F4 - 1699, màu xanh, xe đã qua sử dụng là tài sản chung của vợ chồng bị cáo Lưu Văn Ch và bà Hoàng Thị Ch. Trong đó: sung vào ngân sách Nhà nước ½ (Một phần hai) giá trị của chiếc xe và trả lại cho bà Hoàng Thị Ch ½ (Một phần hai) giá trị chiếc xe.

* Trả lại 02 (hai) điện thoại di động gồm 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu SAMSUNG, màu xanh đen, có ốp nhựa màu xanh, điện thoại cũ đã qua sử dụng và 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO, màu trắng hồng, có ốp nhựa màu nâu đen, điện thoại cũ đã qua sử dụng cho bị cáo Lưu Văn Ch nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo Ch.

* Tạm giữ số tiền 2.000.000 đồng bị cáo Ch nộp theo biên lai thu tiền số 0001024 ngày 13/9/2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Ba Bể để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.

(Tình trạng, số lượng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 08/9/2022 giữa Công an huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn với Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn).

4. Về án phí: Buộc bị cáo Lưu Văn Ch phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ