vanban.org

Bản án 24/2019/HNST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị C.

Chị Nguyễn Thị C được ly hôn với anh Nguyễn Văn H. Về nuôi con chung: Anh Nguyễn Văn H trực tiếp nuôi Nguyễn Văn Minh K, sinh ngày 05/5/2007, chị C không phải cấp dưỡng nuôi con do anh H không yêu cầu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "hon nhân"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị C.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỎ CÀY BẮC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BẾN TRE
Bản án số: 24/2019/HNGĐ-ST
Ngày 10/5/2019
V/v: “Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC – TỈNH BẾN TRE

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Hồng Thúy

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Kim Oanh

Bà Nguyễn Thị Bé Hồng

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Ngô Thị Thu Thảo – Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc: Bà Huỳnh Thị Chấm – Kiểm sát viên.

Trong ngày 17 tháng 4 năm 2019, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc mở phiên tòa công khai xét xử vụ án hôn nhân đã thụ lý số 81/2019/TLST – HN ngày 11/3/2019 vÒ viÖc: “Xin ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2019/QĐXXST-HN ngày 19/4/2019, quyết định hoãn phiên tòa số 23/2019/QĐST-HN ngày 02/5/2019. Giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Nguyễn Thị C, sinh năm 1981 (xin vắng mặt)

Địa chỉ: ấp T, xã K, huyện M, tỉnh B.

Bị đơn: Nguyễn Văn H, sinh năm 1983 (vắng mặt không lý do)

Địa chỉ: ấp G, xã N, huyện M, tỉnh B.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 06/3/2019 và lời trình bày trong quá trình giải quyết nguyên đơn chị Nguyễn Thị C trình bày:

Chị Nguyễn Thị C và anh Nguyễn Văn H kết hôn vào năm 2006, dựa trên điều kiện quen biết và có đăng ký kết hôn tại UBND xã N. Sau khi kết hôn chị C và anh H sống hạnh phúc đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẩn do bất đồng ý kiến, cuộc sống không hòa hợp, thường xuyên cải vã. Chị C anh H ly thân từ năm 2014 đến nay. Nay chị Nguyễn Thị C thấy tình cảm vợ chồng không còn nên xin ly hôn. Con chung Nguyễn Văn Minh K, sinh ngày 05/5/2007, hiện cháu sống với anh H. Nay chị C yêu cầu nếu cháu K muốn sống với cha hoặc mẹ thì người đó nuôi không yêu cầu cấp dưỡng.

Tài sản chung, nợ chung: không có.

Cháu Nguyễn Văn Minh K trình bày: Nếu cha mẹ ly hôn cháu K có nguyện vọng sống với cha.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc phát biểu: Việc tuân theo pháp luật của thẩm phán trong quá trình thụ lý vụ án và giải quyết đúng quy định của pháp luật. Việc tuân theo pháp luật của hội đồng xét xử tại phiên tòa đúng quy định của pháp luật. Việc tuân theo pháp luật của đương sự trong quá trình thụ lý và giải quyết nguyên đơn thực hiện đúng quy định của pháp luật, bị đơn vắng mặt các lần tòa án mời.

Về nội dung vụ án: Đề nghị áp dụng điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị C, chị Nguyễn Thị C được ly hôn với anh Nguyễn Văn H. Con chung anh H trực tiếp nuôi Nguyễn Văn Minh K, sinh ngày 05/5/2007, chị C không phải cấp dưỡng nuôi con do anh H không yêu cầu. Tài sản chung, nợ chung: chị C trình bày không có, anh H không ý kiến nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN;

Sau khi nghiên cứu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Quan hệ pháp luật: Theo đơn khởi kiện nguyên đơn chị Nguyễn Thị C yêu cầu xin ly hôn với anh Nguyễn Văn H nên căn cứ vào điều 51 Luật hôn nhân gia đình xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn”.

[2] Thẩm quyền xét xử: Theo xác nhận ngày 06/3/2019 của Công an xã N đã xác nhận anh Nguyễn Văn H hiện đang sinh sống tại xã N, huyện M, tỉnh B. Căn cứ vào Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.

[3] Nội dung vụ án:

Chị Nguyễn Thị C có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên căn cứ vào khoản 2 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị C.

Nguyễn Văn H đã được tòa án tống đạc hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do nên căn cứ vào khoản 2 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh H.

Chị Nguyễn Thị C và anh Nguyễn Văn H kết hôn vào năm 2006 điều kiện kết hôn nhân là do quen biết và tự nguyện đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại tại UBND xã N. Như vậy, hôn nhân của chị Nguyễn Thị C và anh Nguyễn Văn H là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị C, chị C cho rằng nguyên nhân vợ chồng mất hạnh phúc là do bất đồng ý kiến, cuộc sống không hòa hợp, thường xuyên cải vã. Còn anh Nguyễn Văn H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ trong hồ sơ vụ án và hòa giải nhưng anh H vắng mặt không lý do. Sau khi thụ lý vụ án Tòa án tiến hành xác minh nguyên nhân mất hạnh phúc giữa chị C và anh H thì gia đình xác nhận nguyên nhân mất hạnh phúc giữa chị C và anh H là do vợ chồng không tin tưởng nhau nên mâu thuẩn và chị C, anh H ly thân từ năm 2014 cho đến nay. Hội đồng xét xử xét thấy anh H không có thiện chí đến tòa án hòa giải để về đoàn tụ xây dựng gia đình hạnh phúc. Xét thấy mâu thuẫn giữa chị C và anh H không khắc phục được, muïc ñích hoân nhaân giöõa hai anh chò khoâng ñaït ñöôïc, ñôøi soáng chung khoâng theå keùo daøi neân chaáp nhaän yeâu caàu của chị C là có căn cứ.

[4] Con chung: Nguyễn Văn Minh K, sinh ngày 05/5/2007. Nay chị C yêu cầu nếu cháu K muốn sống với cha hoặc mẹ thì người đó nuôi, người không trực tiếp nuôi con không phải cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy anh H không có ý kiến cũng không có văn bản trả lời về yêu cầu nuôi con, cấp dưỡng nuôi con. Mặt khác cháu K đang sống với anh H và cháu có nguyện vọng được sống với anh H để đảm bảo về thể chất lẫn tinh thần cho cháu nên để cho anh H tiếp tục nuôi con. Anh H có có ý kiến về việc nuôi con nên tòa không xem xét sau này nếu anh H có yêu cầu sẽ giải quyết ở vụ án khác.

[5] Tài sản chung: Chị Nguyễn Thị C trình bày không có, anh Nguyễn Văn H không có ý kiến nên không xem xét.

[6] Nợ chung: Chị Nguyễn Thị C trình bày không có, anh Nguyễn Văn H không có ý kiến nên không xem xét.

[7] Căn cứ vào khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội, Nguyễn Thị C phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng.

[8] Xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 33, 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội.

1. Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị C.

Chị Nguyễn Thị C được ly hôn với anh Nguyễn Văn H.

2. Về nuôi con chung: Anh Nguyễn Văn H trực tiếp nuôi Nguyễn Văn Minh K, sinh ngày 05/5/2007, chị C không phải cấp dưỡng nuôi con do anh H không yêu cầu.

Sau khi ly hôn, cha, mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình và các luật khác có liên quan. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình, yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Vì lợi ích con chung chưa thành niên, theo yêu cầu của chị C, anh H Tòa án có thể thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Tài sản chung: Chị Nguyễn Thị C trình bày không có, anh Nguyễn Văn H không có ý kiến nên không xem xét.

4. Nợ chung: Chị Nguyễn Thị C trình bày không có, anh Nguyễn Văn H không có ý kiến nên không xem xét.

5. Căn cứ vào khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội, chị Nguyễn Thị C phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0000498 ngày 11/3/2019 của C cục thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Bắc.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày tòa án tống đạt bản án hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.

Nôi nhaän:

Cỡ chữ