vanban.org

Bản án 24/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Cát Hải, TP. Hải Phòng Tuyên án 28/12/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Bùi Duy K phạm tội: Trộm cắp tài sản.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo yêu cầu xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Duy K Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Duy K phạm tội: Trộm cắp tài sản.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁT HẢI
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24/2017/HSST
Ngày 28 - 12 - 2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁT HẢI, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Hồng Biên;

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Vũ Anh Tuấn

2. Ông Bùi Văn Tiều

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Phạm Quang Bảo - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Cát Hải;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cát Hải tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Lam - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 12 năm 2017 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 23/2017/HSST, ngày 30 tháng 11 năm 2017 đối với bị cáo:

Họ và tên Bùi Duy K, sinh năm 1993; nơi đăng ký HKTT và nơi cư trú: Xã C, huyện H, thành phố Hải Phòng; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ văn hoá: 12/12; con ông Bùi Văn T và bà Trần Thị M; có vợ là Vũ Thị T; có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; được tại ngoại; có mặt tại phiên toà.

Người bị hại: Hoàng Văn T, sinh năm 1966;

Trú tại: Xã C, huyện H, thành phố Hải Phòng; có mặt tại phiên tòa.

NHẬN THẤY

Bị cáo Bùi Duy K bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Vào khoảng 18 giờ 30 ngày 30/10/2017 Bùi Duy K phát hiện gia đình ông Hoàng Văn T ở xã C, huyện Cát Hải không có người ở nhà nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Bùi Duy K trèo qua tường rào để vào nhà ông Hoàng Văn T. Khi vào trong nhà, Bùi Duy K đến bàn tạp hóa, thấy có chìa khóa liền dùng mở khóa ngăn kéo bàn lấy trộm 11 thẻ nạp điện thoại di động Viettel mệnh giá mỗi thẻ là 100.000 đồng, 38 thẻ nạp mệnh giá mỗi thẻ là 50.000 đồng; 17 thẻ nạp điện thoại di động Mobifone mỗi thẻ mệnh giá là 50.000 đồng và 15 thẻ nạp điện thoại di động Vinaphone mỗi thẻ mệnh giá là 50.000 đồng cất giấu vào túi quần rồi đi về nhà.

Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, Công an huyện Cát Hải triệu tập Bùi Duy K đến làm việc, K khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nêu trên, đồng thời tự nguyện nộp lại toàn bộ số tài sản đã trộm cắp tại nhà ông Hoàng Văn T.

Tại Kết luận về giá tài sản số 08/KL-HĐĐG, ngày 03/11/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Cát Hải kết luận: 11 thẻ nạp Viettel mệnh giá 100.000 đồng, 38 thẻ nạp mệnh giá 50.000 đồng; 17 thẻ nạp Mobifone mệnh giá 50.000 đồng và 15 thẻ nạp Vinaphone mệnh giá là 50.000 đồng. Các loại thẻ còn nguyên chưa cào, tổng giá trị là 4.600.000 (bốn triệu sáu trăm ngàn) đồng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cát Hải đã trả lại toàn bộ số thẻ nạp cho người bị hại.

Bùi Duy K bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.

Từ những hành vi nêu trên của bị cáo Bùi Duy K, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo về tội: Trộm cắp tài sản, căn cứ khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Hình sự theo bản cáo trạng số 23/CT-VKS ngày 29 tháng 11 năm 2017.

Tại phiên toà bị cáo Bùi Duy K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cát Hải thực hành quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội: Trộm cắp tài sản, căn cứ khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Hình sự. Đồng thời phân tích tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tài sản chiếm đoạt đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra để trả lại cho người bị hại, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm b, h, p, khoản 1 Điều 46; khoản 2 Điều 46; Điều 60 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Bùi Duy K từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng.

Căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, của bị cáo, của những người tham gia tố tụng khác,

XÉT THẤY

Lời khai của bị cáo Bùi Duy K phù hợp với nội dung bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, phù hợp với tang vật đã thu giữ, phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Hành vi phạm tội của bị cáo là lén lút, lợi dụng sự sơ hở mất cảnh giác của người có tài sản để chiếm đoạt tài sản của họ. Tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị 4.600.000 đồng, như vậy có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Bùi Duy K phạm tội: Trộm cắp tài sản, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Hình sự.

Như vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cát Hải truy tố bị cáo là có cơ sở, đúng người, đúng pháp luật, đúng hành vi phạm tội của bị cáo.

Hành vi phạm tội của bị cáo vi phạm pháp luật hình sự, hành vi đó gây mất trật tự trị an, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị của địa phương vì vậy cần phải đưa bị cáo ra xét xử để làm gương răn đe giáo dục.

Bị cáo không có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, giá trị tài sản chiếm đoạt không lớn, đã tự nguyện nộp lại số tài sản chiếm đoạt để trả lại cho người bị hại, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Từ những phân tích trên đây cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, h, p khoản 1 Điều 46; khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự để xem giảm nhẹ một phần hình phạt tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội để làm lại cuôc đời.

Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng ngoài lần phạm tội này là người chấp hành tốt đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước do đó không cần phải cách ly khỏi xã hội mà chỉ cần để tại địa phương nơi bị cáo thường trú kết hợp với chính quyền, đoàn thể xã hội, với gia đình theo dõi, giám sát và giáo dục tạo điều kiện cho bị cáo trở thành người tốt.

Về trách nhiệm dân sự: Toàn bộ số tài sản bị cáo chiếm đoạt đã thu hồi trả lại cho người bị hại, mặt khác người bị hại không yêu cầu nên Hội đồng xét xét không xem xét.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Bùi Duy K phạm tội: Trộm cắp tài sản.

Áp dụng khoản 1 Điều 138; Điểm b, h, p khoản 1, Điều 46; khoản 2 Điều 46; Điều 60 của Bộ luật Hình sự xử phạt Bùi Duy K 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện H, thành phố Hải Phòng nơi bị cáo thường trú để giám sát, giáo dục; người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

Áp dụng Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo yêu cầu xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ