- Tranh chấp gì? án hình sự — "236 31-10 Nguyễn Trung H vđp 255 - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung H2 07 (bảy) năm tù, về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/12/2023.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 236/2024/HS-ST Ngày 31 - 10 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phúc.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Kim Hồng.
2. Bà Nguyễn Thị Kính.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Sơn Tùng – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Đức Khuê - Kiểm sát viên. Ngày 31 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 292/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 399/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2024, đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Trung H năm 1992 tại Thành phố H cư trú (Nơi đăng ký thường trú: A C, Phường A, Quận H, Thành phố H ở: Không có nơi cư trú ổn định); nghề nghiệp: Làm công trình độ học vấn: 12/12 dân tộc: Kinh; giới tính: Nam tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn P (chết) và bà Trần Thị Cẩm V; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/12/2023 đến nay. (có mặt)
2. Đặng Bính S năm 1989 tại Thành phố H cư trú (nơi đăng ký thường trú: 112/15/11 A, Phường E, Quận E, Thành phố H ở: Không có nơi cư trú ổn định); nghề nghiệp: Làm công; trình độ học vấn: 12/12 dân tộc: H1; giới tính: Nam tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Đ và bà Trần Q; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/12/2023 đến nay. (có mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Đặng Bính Q1, sinh năm 1978; nơi cư trú: 1 A, Phường E, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 14 giờ 30 phút, ngày 22/12/2023, Công an P1, Quận H kiểm tra hành chính tại phòng 409, phòng cho thuê Thùy V1 (địa chỉ: A đường H, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh). Tại thời điểm kiểm tra, trong phòng có 02 người khai tên Nguyễn Trung H2 và Đặng Bính S1. Qua kiểm tra, Công an phát hiện trên nền gạch trong phòng 01 hộp nhựa màu đen, bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, 01 ống thủy tinh, 01 ống nhựa, 01 quẹt lửa, trong phòng vệ sinh có 01 vỏ chai nhựa có ghi chữ “STING” (S1 và H2 cùng khai nhận số vật chứng nêu trên là ma túy và dụng cụ sử dụng ma túy của S1 và H2). Ngoài ra, Công an còn tạm giữ của H2 01 điện thoại di động hiệu Vivo gắn sim số 077.6548.441 và số tiền 60.000 đồng, tạm giữ của S1 01 điện thoại di động hiệu Iphone gắn sim số 0928.447.411 và số tiền 180.000 đồng. Công an P1, Quận H tiến hành lập biên bản về việc bắt người phạm tội quả tang đối với H2 và S1. Toàn bộ vụ việc được chuyển đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q2 để điều tra làm rõ.
Ngày 22/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q2 đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 744/CSĐT (ĐTMT) và ngày 29/12/2023, Phòng K Công an Thành phố H có bản kết luận giám định số 332/KL – KTHS, kết luận: Tinh thể không màu trong 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có các chữ ký ghi tên Nguyễn Trung H2, Đặng Bính S1 và hình dấu Công an P1, Quận H là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,0622g (không phẩy không sáu hai hai gam), loại Methamphetamine.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q2, Nguyễn Trung H2 và Đặng Bính S1 khai nhận: H2 và S1 là bạn bè học chung cấp ba, vào buổi chiều ngày 21/12/2023, H2 nhắn tin rủ Siêu qua ngày hôm sau cùng sử dụng ma túy và H2 nói S1 kiếm 100.000 đồng để trả tiền khách sạn, chiều cùng ngày H2 gọi điện thoại qua zalo cho một người phụ nữ tên B (không rõ lai lịch, số điện thoại 0906.907.783) hỏi mua 100.000 đồng ma túy đá, đến khoảng 19 giờ cùng ngày H2 đi bộ đến cầu V bên đường P, Phường A, Quận H gặp B mua 100.000 đồng ma túy đá. Khoảng 10 giờ ngày 22/12/2023, H2 rủ S1 chơi ma túy nhưng S1 bận công việc. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày S1 chạy xe máy đón H2 tại chân cầu V đường P, Phường A, Quận H. Sau đó, H2 chở S1 đến phòng cho thuê Thùy V1. H2 là người mang ma túy và dụng cụ để sử dụng ma túy. Khi đến phòng cho thuê Thùy V1, S1 thuê phòng 409 cùng H2 sử dụng ma túy; H2 là người lấy ma túy ra sử dụng trước, sau đó S1 sử dụng ma túy sau. Vào lúc 14 giờ 30 phút ngày 22/12/2023, khi H2 và S1 đang sử dụng trái phép chất ma túy thì Công an P1, Quận H kiểm tra hành chính, S1 đem 01 vỏ chai nhựa có ghi chữ “STING” dùng để sử dụng ma túy vứt trong nhà vệ sinh. Qua kiểm tra, Công an phát hiện thu giữ toàn bộ vật chứng như nêu trên. Tiến hành xét nghiệm xác định Nguyễn Trung H2, Đặng Bính S1 dương tính với chất ma túy MET, S1 còn dương tính với chất ma túy MDMA. Đến thời điểm bị bắt, S1 và H2 đã cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy được 03 lần. Lần thứ nhất vào khoảng tháng 7/2023, S1 và H2 đến Phòng cho thuê Thùy V1 tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy: H2 bỏ ra ma túy hàng đá giá mua 100.000 đồng, S1 bỏ ra tiền thuê phòng với giá 150.000 đồng. Lần thứ hai vào khoảng tháng 10/2023, S1 và H2 đến Phòng cho thuê Thùy V1 tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy: Siêu bỏ ra số tiền 100.000 đồng nhờ H2 mua ma túy hàng đá, H2 bỏ ra 80.000 đồng trả tiền thuê phòng. Đến lần thứ 3 thì bị công an phát hiện bắt giữ.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:
01 gói niêm phong bên ngoài ghi ký hiệu 153/24 – Q8, các chữ ký ghi tên Nguyễn Trung H2, Đặng Bính S1, hình dấu Công an P1, Quận H và chữ ký ghi tên giám định viên Phạm Huỳnh Minh T, 01 hộp nhựa, 01 chai nhựa ghi chữ “STING”, 01 ống thủy tinh, 01 ống nhựa, 01 quẹt gas là ma túy và dụng cụ sử dụng ma túy.
01 xe gắn máy hiệu Honda Vision biển số 59H1 – 881.75, số khung: RLHJF5830JY005801, số máy: JF86E2005865 và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax gắn sim số 0928.447.411, số I: 356579553963987 thu giữ của Đặng Bính S1. Xe gắn máy biển số 59H1 – 881.75 do Đặng Bính Q1, anh ruột của S1 đứng tên chủ sở hữu. Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax là của Q1 cho S1 mượn để sử dụng làm phương tiện liên lạc. Sự việc S1 sử dụng xe gắn máy, điện thoại di động của Q1 vào hoạt động “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” thì Q1 không biết .
01 điện thoại di động hiệu Vivo gắn sim số 077.6548.441, số Imei: 860671054139057 thu giữ của Nguyễn Trung H2 sử dụng vào mục đích mua ma túy sử dụng; số tiền 240.000 đồng (bao gồm 60.000 đồng thu giữ của H2, 180.000 đồng thu giữ của S1) dùng vào việc trả tiền thuê phòng để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
Tại bản Cáo trạng số 258/CT-VKS-Q8 ngày 03/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố các bị cáo Nguyễn Trung Hưng, Đặng Bính S1, về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Nguyễn Trung H2, Đặng Bính S1, về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, Viện kiểm sát đề nghị như sau:
Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 255điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Trung H2 từ 07 năm đến 08 năm tù; xử phạt bị cáo Đặng Bính S1 từ 07 năm đến 08 năm tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng, đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy, 01 hộp nhựa, 01 chai nhựa ghi chữ “STING”, 01 ống thủy tinh, 01 ống nhựa, 01 quẹt gas là ma túy dùng vào việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Đề nghị tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Vivo gắn sim số 077.6548.441 thu giữ của Nguyễn Trung H2; số tiền 240.000 đồng (bao gồm 60.000 đồng thu giữ của H2, 180.000 đồng thu giữ của S1) dùng vào việc trả tiền thuê phòng để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Trả lại cho Đặng Bính Q1 01 xe gắn máy hiệu Honda Vision biển số 59H1 – 881.75 và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax gắn sim số 0928.447.411 thu giữ của Đặng Bính S1.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận; các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q2, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Trung H2, Đặng Bính S1 đã khai nhận hành vi phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xác định: Vào khoảng 14 giờ 30 phút, ngày 22/12/2023, tại phòng 409, phòng cho thuê T, địa chỉ số A H, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Trung H2 có hành vi chuẩn bị ma túy, dụng cụ sử dụng ma túy; Đặng Bính S1 có hành vi thuê mướn địa điểm để cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Số ma túy mà Đặng Bính S1 và Nguyễn Trung H2 sử dụng là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,0622g loại Methamphetamine. Quá trình điều tra xác định, S1 và H2 đã cùng nhau 03 lần tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” như sau:
“ 1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Phạm tội 02 lần trở lên;
…
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng…”
Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy và an toàn xã hội. Như vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định:
Hành vi của các bị cáo Nguyễn Trung H2, Đặng Bính S1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuýtội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a MERGEFIELD Điều_khoản_truy_tố khoản 2 Điều 255Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xét tính nghiêm trọng của tội phạm mà các bị cáo đã thực hiện, cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định bằng hình phạt tù có thời hạn nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành người có ích, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa phạm tội mới; đồng thời phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm trong xã hội.
Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có cơ sở, đúng người, đúng tội, mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với các bị cáo là phù hợp. Tuy nhiên, quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với các bị cáo.
Hành vi phạm tội của các bị cáo Nguyễn Trung H2, Đặng Bính S1 có tính chất đồng phạm nhưng chỉ mang tính nhất thời, giản đơn. Bị cáo S1 là người thuê mướn địa điểm để cùng H2 tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, bị cáo H2 là người trực tiếp liên hệ mua ma tuý chuẩn bị dụng cụ sử dụng ma túy. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xem xét, quyết định hình phạt phù hợp với tính chất, vai trò của từng bị cáo.
Xét thấy, hành vi của các bị cáo không nhằm mục đích thu lợi bất chính, đồng thời theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy các bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng tạm giữ trong vụ án, quá trình điều tra thu giữ số ma túy trong gói niêm phong số 153/24 – Q8; 01 hộp nhựa, 01 chai nhựa ghi chữ “STING”, 01 ống thủy tinh, 01 ống nhựa, 01 quẹt gas. Xét là vật cấm tàng trữ, lưu hành và công cụ phạm tội, không có giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy.
01 xe gắn máy hiệu Honda Vision biển số 59H1 – 881.75, số khung: RLHJF5830JY005801, số máy: JF86E2005865 và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax gắn sim số 0928.447.411, số I: 356579553963987 thu giữ của Đặng Bính S1. Xe gắn máy biển số 59H1 – 881.75 do Đặng Bính Q1, anh ruột của S1 đứng tên chủ sở hữu. Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax là của Q1 cho S1 mượn để sử dụng làm phương tiện liên lạc. Việc S1 sử dụng xe gắn máy, điện thoại di động của Q1 vào việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thì Q1 không biết, xét đây là tài sản của Q1, không liên quan đến hành vi phạm tội nên căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, trả lại cho Đặng Bính Q1.
01 điện thoại di động hiệu Vivo gắn sim số 077.6548.441, số Imei: 860671054139057 thu giữ của Nguyễn Trung H2 sử dụng vào mục đích mua ma túy sử dụng; số tiền 240.000 đồng (bao gồm 60.000 đồng thu giữ của H2, 180.000 đồng thu giữ của S1) dùng vào việc trả tiền thuê phòng để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
Đối với lượng ma túy thu giữ của bị cáo Nguyễn Trung H2 dùng để sử dụng, lượng ma túy thu giữ chưa đủ định lượng để xử lý Nguyễn Trung H2 về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là phù hợp quy định pháp luật.
Đối với người phụ nữ tên B bán ma túy cho Nguyễn Trung H2, do không xác định được lai lịch, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có cơ sở xử lý, do đó Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này.
Đối với chủ hộ kinh doanh Phòng cho thuê lưu trú Thùy V1 (địa chỉ: A H, Phường A, Quận H) do bà Phạm Thị Thùy V2 đứng tên giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh và ủy quyền quản lý Phòng cho thuê Thùy V1 cho người cậu là ông Phan Văn H3. Sự việc S1 và H2 đến Phòng cho thuê Thùy Vy thuê phòng để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thì bà V2 và ông H3 không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 không đưa vào diện xem xét xử lý theo pháp luật mà có công văn gửi Đội cảnh sát quản lý hành chính và Đội cảnh sát phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ Công an Q2 đề nghị xử lý về lĩnh vực an ninh trật tự và kiểm tra phòng cháy chữa cháy là phù hợp quy định pháp luật.
Về án phí hình sự: Căn cứ quy định tại Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 255điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung H2 07 (bảy) năm tù, về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/12/2023.
Xử phạt bị cáo Đặng Bính S1 07 (bảy) năm tù, về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/12/2023.
- Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); các điểm a, b khoản 2 và điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy:
01 gói niêm phong bên ngoài ghi ký hiệu 153/24 – Q8, các chữ ký ghi tên Nguyễn Trung H2, Đặng Bính S1, hình dấu Công an P1, Quận H và chữ ký ghi tên giám định viên Phạm Huỳnh Minh T, 01 hộp nhựa, 01 chai nhựa ghi chữ “STING”, 01 ống thủy tinh, 01 ống nhựa, 01 quẹt gas .
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Vivo gắn sim số 077.6548.441, số Imei: 860671054139057 thu giữ của Nguyễn Trung H2 sử dụng vào mục đích mua ma túy sử dụng; số tiền 240.000 đồng (bao gồm 60.000 đồng thu giữ của H2, 180.000 đồng thu giữ của S1).
Trả lại Đặng Bính S1: 01 xe gắn máy hiệu Honda Vision biển số 59H1 – 881.75, số khung: RLHJF5830JY005801, số máy: JF86E2005865 và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax gắn sim số 0928.447.411, số I: 356579553963987.
(Theo Biên bản giao - nhận vật tang tài vật ngày 31/10/2024).
- Căn cứ vào các điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Buộc mỗi bị cáo Nguyễn Trung H2, Đặng Bính S1 nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKS ND Quận 8; - VKS ND TP. HCM; - CQ ĐT CA Quận 8; - CQ THA HS CA Quận 8; - Nhà tạm giữ CA Quận 8; - Chi cục THA DS Quận 8; - Người tham gia tố tụng khác; - TA ND TP.HCM; - Sở Tư pháp TP.HCM; - PC53; - Lưu: HS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Phúc |