- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh T và đồng phạm - tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 07 (bảy) năm 09 (chín) tháng tù về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/8/2025.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 18 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 235/2026/HS-ST Ngày: 12-8-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 18 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Kiều Oanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Thanh Nga;
2. Bà Nguyễn Thị Kim Hiền.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thắm – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 18 – Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 18 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vui - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 18 – Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 304/2026/TLST-HS ngày 24 tháng 7 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 250/2026/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 7 năm 2026 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Thanh T, sinh năm 1996 tại tỉnh An Giang; nơi thường trú: Ấp V, xã N, tỉnh An Giang; nơi ơ: Khu phố F (nay là khu phố M), phường T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L (năm sinh không rõ) và bà Nguyễn Thị Anh T1, sinh năm 1975; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; ngày 22/8/2025, bị tạm giữ, tạm giam cho đến nay; có mặt.
2. Ngô Mạnh P, sinh năm 1995 tại tỉnh An Giang; nơi thường trú: Ấp A, xã H, tỉnh An Giang; nơi ơ: Khu phố F (nay là khu phố M), phường T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 2/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn N, sinh năm 1971 và bà Cao Thị N1, sinh năm 1975; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; ngày 22/8/2025, bị tạm giữ, tạm giam cho đến nay; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thanh T và Ngô Mạnh P đều là đối tượng nghiện ma túy loại Methamphetamine, có quan hệ quen biết nhau. Từ ngày 18/7/2025 đến ngày 09/8/2025, Nguyễn Thanh T và Ngô Mạnh P đã 03 lần có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, cụ thể như sau:
- Lần thứ nhất: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 18/7/2025, tại quán C đường T 06 thuộc khu phố F, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh, T rủ P hùn tiền mỗi người 100.000 đồng mua ma túy đá đem về sử dụng chung thì P đồng ý. Sau đó, P đưa số tiền 100.000 đồng cho T. T gọi điện thoại hỏi mua 200.000 đồng ma túy đá của đối tượng tên B (không rõ lai lịch), B đồng ý bán. Sau đó, B đem 01 đoạn ống hút hàn kín hai đầu bên trong chứa ma túy đá đi đến quán C bán cho T. Tại đây, T tự chế tạo bộ dụng cụ để sử dụng ma túy gồm có 01 cái ly bằng thủy tinh Tuấn ráp với một chai nhựa rồi khoét lỗ nắp chai sau đó dùng ống hút nhựa cắm vào rồi cắm nỏ thủy tinh vào thành bộ dụng cụ sử dụng ma túy. Sau đó, T lấy đoạn ống hút chứa ma túy cắt một đầu đổ ma túy vào trong nỏ thủy tinh rồi đốt lên đưa cho P hút, P hút được một hơi, rồi P đưa lại cho T hút một hơi rồi để lên trên bàn. T và P luân phiên nhau hút mỗi người ba hơi thì hết ma túy trong nỏ thủy tinh. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, T lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy cất giấu gần chòi lá nơi T và P sử dụng ma túy rồi cả hai ra về.
- Lần thứ hai: Khoảng 17 giờ ngày 28/7/2025, tại quán cà phê Bình Minh, P rủ T hùn tiền mỗi người 100.000 đồng mua ma túy đá đem về sử dụng chung thì T đồng ý. Sau đó, P đưa số tiền 100.000 đồng cho T. T gọi điện thoại hỏi mua 200.000 đồng ma túy đá của đối tượng tên B (không rõ lai lịch), B đồng ý bán. Sau đó, B đem 01 đoạn ống hút hàn kín hai đầu bên trong chứa ma túy đá đi đến quán C bán cho T. Tại đây, T lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy ra rồi lấy đoạn ống hút chứa ma túy đổ ma túy vào trong nỏ thủy tinh rồi đốt lên đưa cho P hút trước, Phi hút được một hơi, rồi P đưa lại cho T hút một hơi rồi để lên trên bàn. T và P luân phiên nhau hút mỗi người ba hơi thì hết ma túy trong nỏ thủy tinh. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, T lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy cất giấu gần chòi lá nơi T và P sử dụng ma túy rồi cả hai ra về.
- Lần thứ ba: Khoảng 18 giờ ngày 09/8/2025, T rủ P đi ra quán cà phê Bình Minh trước, còn T đi mua ma túy đá đem về sử dụng chung thì P đồng ý. Sau đó, T gọi điện thoại hỏi mua 200.000 đồng ma túy đá của đối tượng tên B (không rõ lai lịch). B đồng ý bán và hẹn T đi đến đường N thuộc khu phố F, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh để bán ma túy. Đến khoảng 18 giờ 15 phút cùng ngày, T đi đến điểm hẹn mua được 01 đoạn ống hút hàn kín hai đầu bên trong chứa ma túy đá với giá 200.000 đồng của B. Sau đó, T đi về quán cà phê Bình Minh gặp P. Tại đây, T tiếp tục lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy ra rồi đổ ma túy vào nỏ hút một hơi rồi để trên bàn. Lúc này, P hỏi T mua bao nhiêu tiền ma túy thì T nói 200.000 đồng, P đưa cho T 100.000 đồng rồi nói cho hùn tiền vào sử dụng chung, T đồng ý lấy 100.000 đồng của P. Sau đó, P cầm bộ dụng cụ sử dụng ma túy lên sử dụng. Tại đây, T và P luân phiên nhau hút mỗi người ba hơi thì hết ma túy. Sau đó, T đem bộ dụng cụ sử dụng ma túy cất giấu gần chòi lá nơi T và P sử dụng ma túy rồi cả hai ra về.
Đến khoảng 19 giờ 30 phút ngày 13/8/2025, T điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Exciter không gắn biển số đi đến quán cà phê Bình Minh lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy cất giấu vào túi quần để sử dụng ma túy. Khi T điều khiển xe mô tô đi đến ngã tư đường D thuộc phường T thì bị tổ tuần tra 363 Công an Thành phố H phát hiện T có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra phát hiện 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy cất giấu trong túi quần bên trái phía trước của T đang mặc nên mời T về Công an phường T làm việc. Tại đây, T khai nhận T và P đã 03 lần hùn tiền mua ma túy đá của đối tượng tên B đem về quán cà phê Bình Minh cùng nhau sử dụng.
Vật chứng thu giữ:
- Thu giữ của Nguyễn Thanh T:
+ 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma tuý;
+ 01 (một) nỏ thủy tinh bám dính chất màu trắng;
+ 01 (một) điện thoại di động hiệu Goly màu xanh đen, gắn sim số 0967562950, 0877588733;
+ 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha Exciter không gắn biển số, số máy: G3D4E67129, số khung: 0610JY64467.
- Thu giữ của Ngô Mạnh P: 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo F11 màu xanh đen, gắn sim số 0818312439.
Nguyễn Thanh T khai: T sử dụng điện thoại di động hiệu Goly màu xanh đen, gắn sim số 0967562950 gọi đến số điện thoại 0942021141 của đối tượng tên B để mua ma túy.
Theo Kết quả xét nghiệm chất ma túy của Nguyễn Thanh T và Ngô Mạnh P ngày 13/8/2025, kết quả: Tất cả đều dương tính với chất ma túy đá (ma túy loại Methamphetamine).
Theo Kết luận giám định số 3442/KL-KTHS ngày 21/8/2025 của Phòng K Công an Thành phố H, kết luận: Mẫu chất bám dính màu trắng (bị thu giữ), gửi giám định là ma tuý, loại Methamphetamine, không xác định được khối lượng.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H, Nguyễn Thanh T và Ngô Mạnh P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án.
Tại Cáo trạng số 164/CT-VKS ngày 24/7/2026 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 18 – Thành phố Hồ Chí Minh truy tố các bị cáo Nguyễn Thanh T và Ngô Mạnh P về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2025.
Trong quá điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến về quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 18 – Thành phố Hồ Chí Minh và nội dung bản Cáo trạng số 164/CT-VKS ngày 24/7/2026.
Tại phần tranh luận:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 18 – Thành phố Hồ Chí Minh trình bày luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 18 – Thành phố Hồ Chí Minh theo Cáo trạng số 164/CT-VKS ngày 24/7/2026 đối với các bị cáo Nguyễn Thanh T và Ngô Mạnh P về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2025.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2025 đối với các bị cáo Nguyễn Thanh T và Ngô Mạnh P.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) năm tù.
Xử phạt bị cáo Ngô Mạnh P từ 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù.
- Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2025; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2025:
+ Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma tuý gồm: 01 (một) ly thủy tinh gắn với một phần của chai nhựa; 01 (một) ống hút; 01 (một) nỏ thủy tinh (được niêm phong trong một bì thư niêm phong ký hiệu 259/PC09); 03 (ba) sim số 0967562950, 0877588733, 0818312439.
+ Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Goly màu xanh đen; 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo F11 màu xanh đen.
+ Trả cho bị cáo Nguyễn Thanh T 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha Exciter không gắn biển số, số máy: G3D4E67129, số khung: 0610JY64467.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận, thống nhất với tội danh, điều luật và mức hình phạt mà đại diện Viện Kiểm sát truy tố và đề nghị.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo nhận thức hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật hình sự nên đồng ý với quyết định truy tố của Cáo trạng và luận tội của Kiểm sát viên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định pháp luật.
Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, do đó có đủ cơ sở kết luận:
Từ ngày 18/7/2025 đến ngày 09/8/2025, Nguyễn Thanh T và Ngô Mạnh P có hành vi 03 lần rủ nhau hùn tiền mua ma túy đá (ma túy loại Methamphetamine) đem về quán cà phê Bình Minh cạnh đường T 06 thuộc khu phố F (nay là khu phố M), phường T, Thành phố Hồ Chí Minh rồi cùng nhau sử dụng.
Hành vi của các bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm a khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2025. Các bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do đó, truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 18 – Thành phố Hồ Chí Minh tại Cáo trạng số 164/CT-VKS ngày 24/7/2026 đối với các bị cáo theo tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, phù hợp với hành vi mà các bị cáo đã thực hiện.
Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, gây tác hại xấu đến trật tự công cộng và an toàn xã hội. Việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội như: Trộm cắp, cướp giật, đặc biệt là nguy cơ lây nhiễm căn bệnh HIV/AIDS qua con đường tiêm chích ma túy. Loại ma túy mà các bị cáo tổ chức sử dụng trái phép là Methamphetamine, đây là loại độc dược gây nghiện, có nhiều tác hại cho sức khỏe con người. Hiện nay, tệ nạn hút chích ma túy đang là gánh nặng cho gia đình và xã hội, trong khi Nhà nước không ngừng tuyên truyền giáo dục và vận động toàn xã hội ra sức đấu tranh phòng chống tệ nạn ma túy thì bị cáo vì thỏa mãn cơn nghiện ma túy vẫn cố ý tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy bất chấp pháp luật và hậu quả gây ra cho xã hội. Do đó, cần phải xét xử các bị cáo thật nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2025.
- Về nhân thân: Các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
- Về tính chất đồng phạm: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn. Tuy nhiên, bị cáo T là người rủ bị cáo P góp tiền mua ma túy, là người trực tiếp mua ma túy, cung cấp bộ dụng cụ để T và P cùng sử dụng ma túy nên mức hình phạt bị cáo T sẽ cao hơn bị cáo P.
Căn cứ tính chất mức độ, hậu quả của hành vi mà bị cáo thực hiện cũng như nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo và giáo dục trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội. Do đó, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật và mức hình phạt của các bị cáo là phù hợp nên chấp nhận.
Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
- Đối với 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma tuý gồm: 01 (một) ly thủy tinh gắn với một phần của chai nhựa; 01 (một) ống hút; 01 (một) nỏ thủy tinh (được niêm phong trong một bì thư niêm phong ký hiệu 259/PC09); 03 sim số 0967562950, 0877588733, 0818312439: Đây là công cụ, phương tiện các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.
- Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Goly màu xanh đen; 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo F11 màu xanh đen là công cụ, phương tiện các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
- Đối với 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha Exciter không gắn biển số, số máy: G3D4E67129, số khung: 0610JY64467: Quá trình điều tra xác định, chiếc xe mô tô nêu trên thuộc quyền sở hữu hợp pháp của T, mang biển kiểm soát đăng ký là 68G1-58.61. Vào đầu năm 2025, T cho đối tượng tên M (không rõ lai lịch) mượn xe nhưng người này không trả nên bị cáo đã trình báo sự việc với Công an phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh). Đến tháng 6/2025, sau khi phát hiện chiếc xe, T báo Công an phường T thu hồi. Thời điểm thu hồi, xe không gắn biển số và đã bị thay đổi sang màu sơn đỏ đen; khoảng 10 ngày sau, Công an phường T đã làm thủ tục trao trả lại tài sản cho T. Tiếp đó, T mang xe đi cầm cố tại tiệm C1 (trên đường D, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) và đến ngày 11/8/2025 mới chuộc xe về. Đến ngày 13/8/2025, T điều khiển chiếc xe này thì bị lực lượng chức năng phát hiện, bắt giữ. Trong khoảng thời gian từ ngày 18/7/2025 đến ngày 09/8/2025 (thời điểm chiếc xe đang bị cầm cố), T không sử dụng phương tiện này vào các lần cùng bị cáo P thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Do đó, cần trả lại chiếc xe mô tô nêu trên cho bị cáo T.
Đối với người tên B (không rõ lai lịch), sử dụng số điện thoại 0942021141 gọi điện thoại bán ma túy cho Nguyễn Thanh T. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H có Công văn gửi Tổng Công ty D (V) phát hành sim điện thoại cung cấp thông tin cá nhân của chủ thuê bao. Tuy nhiên, đến nay chưa có kết quả, hiện Cơ quan điều tra đang tiếp tục điều tra làm rõ, khi xác định được sẽ xử lý sau.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 136, 260, 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2025; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2025:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 07 (bảy) năm 09 (chín) tháng tù về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/8/2025.
2. Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2025:
Xử phạt bị cáo Ngô Mạnh P 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/8/2025.
3. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2025; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2025.
+ Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma tuý gồm: 01 (một) ly thủy tinh gắn với một phần của chai nhựa; 01 (một) ống hút; 01 (một) nỏ thủy tinh (được niêm phong trong một bì thư niêm phong ký hiệu 259/PC09); 03 (ba) sim số 0967562950, 0877588733, 0818312439.
+ Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Goly màu xanh đen; 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo F11 màu xanh đen.
+ Trả cho bị cáo Nguyễn Thanh T 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha Exciter không gắn biển số, số máy: G3D4E67129, số khung: 0610JY64467.
4. Về án phí: Buộc các bị cáo Nguyễn Thanh T và Ngô Mạnh P, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND Thành phố Hồ Chí Minh; - VKSND Thành phố Hồ Chí Minh; - Phòng hồ sơ-Công an Thành phố Hồ Chí Minh; - VKSND Khu vực 18-Thành phố Hồ Chí Minh; - Phòng THADS Khu vực 18-Thành phố Hồ Chí Minh; - Phân trại tạm giam Dầu Tiếng (cơ sở 1), Trại tạm giam số 2, Công an Thành phố Hồ Chí Minh; - Cổng Thông tin điện tử của TANDTC (nếu có); - Người tham gia tố tụng; - Lưu: HS, Tòa. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Kiều Oanh |