- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Quang T và đồng phạm - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 322 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của các bị cáo Khổng Quốc K, Phạm Văn V, Võ Minh Q, Nguyễn Khánh D; không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Quang T, Âu Bách B và Hoàng Anh H; sửa bản án hình sự sơ thẩm số 139/2024/HS-ST ngày 17 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhâ…
- Căn cứ chính? Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 235/2024/HS-PT Ngày: 19 – 12 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Tuấn.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Lê Huy.
Ông Trần Văn Đạt.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Mơ – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Hồ Minh Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 12 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 218/2024/TLPT-HS ngày 29 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Quang T và đồng phạm do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 139/2024/HS-ST ngày 17 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang.
- Các bị cáo có kháng cáo:
1. Nguyễn Quang T (Tên gọi khác: Y), sinh ngày 28/5/1985 tại tỉnh Tiền Giang. Thẻ CCCD: 0820850078XX.
- Nơi cư trú: ấp B, xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
- Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam.
- Con ông Nguyễn Văn P và bà Mai Thị R; Vợ: Trần Thị Thanh N và có 04 người con.
- Tiền án, tiền sự: Không;
- Nhân thân: Ngày 12/01/2010 bị Công an huyện C, Tiền Giang xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi đánh nhau (đã nộp phạt)
- Bị bắt tạm giam ngày 02/3/2024 đến ngày 05/7/2024 thay thế bằng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh.
2. Khổng Quốc K (Tên gọi khác: P), sinh ngày 06/4/1994 tại tỉnh Tiền Giang. Thẻ CCCD: 0820940103XX.
- Nơi cư trú: Số 44A, Huỳnh C, Khu phố 3, Phường 7, thành phố M, tỉnh Tiền Giang
- Nghề nghiệp: Mua bán; Trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam.
- Con ông Khổng Tất C và bà Lâm Thúy P; Vợ: Ngô Thị Bích Q và có 02 người con.
- Tiền án, tiền sự: Không;
- Nhân thân: năm 2021 bị Công an huyện C xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi tàng trữ hung khí nhằm mục đích gây thương tích cho người khác.
- Bị bắt tạm giam ngày 02/5/2024 cho cho đến ngày 25/7/2024 được thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh.
3. Phạm Văn V, sinh ngày 25/02/1984 tại tỉnh Tiền Giang. Thẻ CCCD: 0820840257XX.
- Nơi cư trú: ấp T, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
- Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam.
- Con ông Phạm Văn M và bà Nguyễn Thị V; Vợ: Nguyễn Thị Trúc L và có 01 người con.
- Tiền án, tiền sự: Không;
- Bị bắt tạm giam từ ngày 29/1/2024 đến ngày 25/7/2024 được thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh.
4. Võ Minh Q, sinh ngày 10/4/1975 tại tỉnh Tiền Giang. Thẻ CCCD/số CMND: 3114101XX.
- Nơi cư trú: ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
- Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hóa (học vấn): 11/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam.
- Con ông Võ Văn N và bà Nguyễn Thị Ánh N; Vợ: Lê Thị H (đã ly hôn) và có 01 người con.
- Tiền án, tiền sự: Không;
- Bị bắt tạm giam từ ngày 29/01/2024 đến ngày 25/7/2024 được thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh.
5. Nguyễn Khánh D, sinh ngày 01/3/1992 tại tỉnh Tiền Giang. Thẻ CCCD: 0820920194XX.
- Nơi cư trú: ấp P, xã N, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
- Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam.
- Con ông Nguyễn Văn T và bà Phan Thị M; Vợ: Nguyễn Bùi Song H và có 02 người con.
- Tiền án, tiền sự: Không;
- Bị bắt tạm giam từ ngày 29/01/2024 đến ngày 08/4/2024 được thay thế bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
6. Âu Bách B, sinh ngày 06/3/1984 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Thẻ CCCD/số CMND: 0237871XX.
- Nơi cư trú: số 7 K, đường số 2, chung cư T, phường 8, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; Dân tộc: Hoa; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam.
- Con ông Âu Ngưu C và bà Lưu Khai B; Vợ: Lê Thị Thu H (đã ly hôn) và có 02 người con.
- Tiền án, tiền sự: Không;
- Bị bắt tạm giam từ ngày 29/01/2024 đến 05/7/2024 thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh.
7. Hoàng Anh H, sinh ngày 07/11/1989 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Thẻ CCCD: 0790890222XX.
- Nơi ĐKHKTT: 124 Lý Tự T, phường B, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Nơi cư trú: Số 90, đường Đ, Phường 27, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam.
- Con ông Hoàng Trọng T và bà Nguyễn Thị Hữu H; Vợ: Lê Thị N và có 02 người con.
- Tiền án, tiền sự: Không;
- Nhân thân: Ngày 20/02/2019 bị Công an Phường 27, quận B thành phố Hồ Chí Minh xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 750.000 đồng về hành vi “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác”, Ngày 08/12/2020 bị Công an Phường 27, quận B, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 2.500.000 đồng về hành vi “ Đánh bạc”, Ngày 02/02/2021 bị Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang xử phạt 15.000.000 đồng về hành vi “Tàng trữ công cụ hỗ trợ mà không có giấy phép”;
- Bị tạm giữ từ ngày 02/7/2024 đến ngày 05/7/2024 chuyển tạm giam cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Các bị cáo Nguyễn Quang T, Khổng Quốc K, Võ Minh Q, Phạm Văn V, Âu Bách B, Nguyễn Khánh D tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.
- Ngoài ra, bản án còn có 12 bị cáo khác, 04 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng không kháng cáo, bản án không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 15 giờ 15 phút ngày 07/3/2020, tại bãi đất trống thuộc tổ 30, ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an và Phòng Cảnh sát hình sự Công an tỉnh Tiền Giang, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, Công an xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang tổ chức bắt quả tang 05 đối tượng có hành vi tổ chức đánh bạc (nhóm dùng xe mô tô đưa rước con bạc ra vào tụ điểm đánh bạc); 47 đối tượng tham gia đánh bạc bằng hình thức đá gà truyền thống; 20 đối tượng tham gia đánh bạc bằng hình thức lắc tài xỉu.
Quá trình điều tra xác định, vào khoảng tháng 11/2019, Phùng Minh M (M ghẻ) thấy phần đất trống ở gần khu vực cầu đình, thuộc tổ 30, ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang, thuộc quyền sử dụng của ông Lê Văn A, sinh ngày 07/11/1954, cư trú ấp N, xã E, huyện L, tỉnh Trà Vinh không người trông giữ, trên phần đất này có che sẵn nhiều tấm bạt (không rõ của ai) để thực hiện việc tổ chức đánh bạc, với các loại hình đánh bạc là đá gà truyền thống và đá gà mạng.
Đến ngày 30/01/2020 (tức ngày 06/01/2020 âm lịch) để thu hút nhiều con bạc đến chơi, thì M cùng với Chu Đức C tổ chức thêm loại hình lắc tài xỉu.
Nhằm phục vụ vào tụ điểm đánh bạc, khoảng tháng 11/2019, Phùng Minh M thuê Trần Văn V (Dũng bụi đời) sinh năm 1984, cư trú số 42/2A, đường Lê Thị Hồng G, Phường 6, thành phố M, tỉnh Tiền Giang (đã chết ngày 17/02/2020, theo Trích lục khai tử số 434/TLKT-BS ngày 21/9/2020) làm nhiệm vụ canh gác, cảnh giới, Lê Tấn Đ chạy xe mô tô đưa rước con bạc, vừa làm nhiệm vụ quản lý nhóm người chạy xe mô tô đưa rước con bạc; Lê Tấn P, Phạm Kim T1, Nguyễn Tuấn K, Phạm Văn Minh A, Nguyễn Văn B1, Võ Văn L, Trần Thanh Q1, Võ Vinh Hiển, Nguyễn Minh G, Nguyễn Quốc B2 (Dương) chạy xe đưa rước con bạc ra vào tụ điểm đánh bạc. Thuê mướn bị cáo Nguyễn Văn H1, bị cáo Dương Trúc S giúp dọn dẹp vệ sinh, sắp xếp, thu dọn ghế cho các con bạc ngồi chơi đánh bạc và làm nhiều công việc lặt vặt khác.
Cụ thể từng loại hình đánh bạc được tổ chức và tham gia đánh bạc như sau:
1. Đối với loại hình đánh bạc bằng hình thức đá gà truyền thống:
Về hình thức đá gà: mỗi một trận gà, chủ gà gắn cựa sắt và băng keo màu xanh hoặc đỏ vào chân gà (gọi là gà xanh và gà đỏ), biện gà sẽ đặt 02 con gà trong vòng tròn được kẻ trước để 02 con gà đá nhau. Hai chủ gà sẽ trực tiếp cá cược nhau, chủ gà nào thắng thì trả tiền xâu từ 200 - 500.000 đồng cho bị cáo M. Ngoài ra chủ gà và những người đứng bên ngoài cũng tham gia đặt cược theo tỷ lệ mà biện hô, người thua sẽ đưa tiền cho biện để chung cho người thắng, đồng thời biện sẽ thu 5% tiền của người thắng để giao lại cho Phùng Minh M.
Để giúp quản lý loại hình đánh bạc này, vào đầu tháng 02/2020, Phùng Minh M giao Nguyễn Hoàng D làm nhiệm vụ theo dõi việc thu tiền những người làm biện; Nguyễn Văn Bé E làm nhiệm vụ cáp độ cho các con bạc, cân gà; Hồ Văn T2 bắt đầu tham gia từ ngày 26/02/2020 với nhiệm vụ giúp M làm trọng tài những khi M có công việc, giữ tiền do D thu được, cuối mỗi ngày thì giao tiền lại cho M, đồng thời đưa tiền cho P để trả tiền cho những người đưa rước con bạc, công phục vụ tụ điểm đánh bạc cho S và H1.
Trước Tết Nguyên đán năm 2020 khoảng nửa tháng, Nguyễn Quang T (Y) có xin Phùng Minh M vào làm biện, thỏa thuận tiền công trả theo số lượng người tham gia đánh bạc từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng/ngày. Ngày 07/3/2020 T tham gia làm biện trong 03 trận gà thắng thua bằng tiền, với tổng số tiền xâu thu được là khoảng 1.100.000 (Một triệu một trăm nghìn) đồng đến 1.300.000 (Một triệu ba trăm nghìn) đồng, sau đó T đưa cho Hồ Văn T2 giữ.
Khoảng 01 tháng trước ngày 03/7/2020 Phan Minh T3 (Heo), Khổng Quốc K (P), Trần Đình Đ, Huỳnh Thiên B1 (Sữa), Huỳnh Văn C1 có xin Phùng Minh M làm vào làm biện trong các trận đá gà, M đồng ý, thỏa thuận không trả mức tiền công cố định, mà khi có người tham gia đánh bạc đến chơi nhiều thì trả tiền, còn ít thì không trả tiền. Ngày 07/3/2020 T3, K, Đ, B1, C1 có tham gia làm biện trong các trận đá gà thắng thua bằng tiền.
Trong ngày 07/3/2020, đã tổ chức được 04 trận gà (03 trận đã xác định thắng thua, 01 trận đang chuẩn bị đá thì bị phát hiện bắt quả tang), trong đó, Bé E cáp độ 02 trận gà cho Trần Quan Q1 đá sổ 02 triệu đồng, đá qua biện 03 triệu đồng với 02 chủ gà không rõ họ tên địa chỉ, Phùng Minh M cáp độ 02 trận cho hai chủ gà không rõ họ tên địa chỉ với số tiền đá sổ là 02 triệu đồng. Bị cáo Nguyễn Trung H2, Hoàng Anh H, Đặng Quang Đ1 tham gia đặt cược trong các trận đá gà thắng thua bằng tiền, cụ thể như sau:
- Nguyễn Trung H2 tham gia đặt cược 03 trận đá gà thắng thua bằng tiền, không thông qua biện với một người chưa rõ họ tên, địa chỉ, cụ thể:
Trận 1: Gà băng keo quấn cựa ở chân màu xanh đá với gà băng keo quấn cựa ở chân màu đỏ. Đá sổ 100.000 đồng, đá giao hữu 10.000.000 đồng. M làm trọng tài. H2 đặt cược 2.000.000 đồng bên gà băng keo quấn cựa màu xanh, chấp đá ăn 9 (nghĩa là nếu thắng H2 được 90% tiền đặt cược), kết quả bên gà H2 cược thắng, được chung 1.800.000 đồng.
Trận 2: Gà băng keo quấn cựa ở chân màu xanh đá với gà băng keo quấn cựa ở chân màu đỏ. Đá sổ 100.000 đồng, đá giao hữu 5.000.000 đồng. M làm trọng tài. H2 đặt cược 2.000.000 đồng bên gà băng keo quấn cựa màu đỏ, chấp đá ăn 8 (nghĩa là nếu thắng H2 được 80% tiền đặt cược), kết quả bên gà H2 cược thắng, được chung 1.600.000 đồng.
Trận 3: Gà băng keo quấn cựa ở chân màu xanh đá với gà băng keo quấn cựa ở chân màu đỏ. Đá sổ 100.000 đồng, đá giao hữu 10.000.000 đồng. M làm trọng tài. H2 đặt cược 3.000.000 đồng bên gà băng keo quấn cựa màu xanh, đá ăn đồng. Khi gà đang đá thì công an đến bắt quả tang.
Số tiền đánh bạc của Nguyễn Trung H2 là 3.800.000 đồng (Trận 1) + 3.600.000 đồng (Trận 2) + 3.000.000 đồng (Trận 3) là 13.400.000 (Mười ba triệu) đồng.
- Hoàng Anh H tham gia 02 trận gà thông qua biện, không rõ 02 chủ gà và mức đặt cược của trận gà:
Trận 1: H đặt cược bên gà đỏ 3.000.000 đồng, đá chấp ăn 7 (tức nếu thắng cược H sẽ được 70% số tiền cược), kết quả bên gà đỏ thắng, H được người làm biện chung 2.100.000 đồng, trả tiền xâu cho biện 100.000 đồng.
Trận 2: H đặt cược bên gà xanh 3.000.000 đồng, được chấp đá chấp ăn 8,5 (tức nếu thua cược H sẽ chung 85% số tiền cược), kết quả bên gà xanh thắng, H được người làm biện chung 3.000.000 đồng, trả tiền xâu cho biện 150.000 đồng.
Số tiền đánh bạc của Hoàng Anh H là 5.100.000 đồng (Trận 1) + 5.550.000 đồng (Trận 2) là 10.650.000 (Mười triệu sáu trăm năm mươi nghìn) đồng.
- Trần Quan Q1 tham gia 02 độ gà thông qua biện:
Trận 1: Gà của Trần Quan Q1 cáp đá với gà của người không rõ họ tên địa chỉ. M làm trọng tài, Nguyễn Văn Bé E (Lèo) làm biện. Quan Q1 đặt cược 5.000.000 đồng, đá ăn đồng. Bên gà của Quan Q1 do Quan Q1 trực tiếp quấn cựa, thả gà. Kết quả gà của Quan Q1 thắng cược, được biện chung 4.750.000 đồng, do trả tiền xâu 250.000 đồng.
Trận 2: Gà của Trần Quan Q1 cáp đá với gà của người không rõ họ tên địa chỉ. M làm trọng tài, Nguyễn Văn Bé E (Lèo) làm biện. Quan Q1 đặt cược 5.000.000 đồng, đá ăn 9. Bên gà của Quan Q1 do Quan Q1 trực tiếp quấn cựa, thả gà. Khi trận gà đang diễn ra thì Công an đến bắt quả tang.
Gà Trần Quan Q1 cáp đá trong hai trận này do Đặng Quang Đ1 cho mượn đó thỏa thuận nếu thắng cược thì sẽ cho Đặng Quang Đ1 1.000.000 đồng, còn thua thì cho 200.000 đồng. Quan Q1 chưa trả tiền theo thỏa thuận cho Đặng Quang Đ1 thì Công an đến bắt quả tang.
Số tiền đánh bạc của Trần Quan Q1 là 10.000.000 đồng (Trận 1) + 9.500.000 đồng (Trận 2) là 19.500.000 (Mười chín triệu năm trăm nghìn) đồng.
2. Đối với hình thức đánh bạc bằng loại hình lắc tài xỉu:
Chu Đức C thỏa thuận với Phùng Minh M để C tổ chức lắc tài xỉu tại tụ điểm của M, thì sẽ lôi kéo các con bạc từ thành phố Hồ Chí Minh về chơi tại tụ điểm đánh bạc, mỗi ngày tổ chức lắc tài xỉu C sẽ trả cho M 1.000.000 đồng, riêng các ngày thứ 7, chủ nhật sẽ trả 2.000.000 đồng/ngày. Được sự đồng ý của M, vào ngày 06/01/2020 âm lịch (tức ngày 30/01/2020 dương lịch), Chu Đức C bắt đầu tổ chức lắc tài xỉu tại tụ điểm của M ở ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Để tổ chức lắc tài xỉu Chu Đức C thuê Trần Quốc Đ2 làm nhiệm vụ giữ tiền “bão” và tiền làm cái thu được khi tổ chức các ván tài xỉu, được trả tiền công 1.000.000 đồng/ngày. Đến ngày bắt quả tang Đ2 thu lợi bất chính khoảng 3.000.000 (Ba triệu) đồng. Ngoài ra, C còn thuê T (chưa rõ họ và địa chỉ) làm nhiệm vụ chia tiền bão, tiền cái thu được và thu tiền từ người làm cái; một số người khác (chưa rõ họ tên, địa chỉ) làm nhiệm vụ khác. Phùng Minh M thu lợi bất chính từ việc cho mượn địa điểm tổ chức lắc tài xỉu là 47.000.000 (Bốn mươi bảy triệu) đồng. Tổng tiền thu lợi bất chính từ việc tổ chức đánh bạc bằng hình thức lắc tài xỉu là 50.000.000 (Năm mươi triệu) đồng.
Về hình thức lắc tài xỉu: Nhà cái sử dụng 01 tấm bạt có ghi số, bên tài, bên xỉu, tỷ lệ cược để các con bạc tham gia đặt cược, sau đó nhà cái sử dụng 03 hột xí ngầu để lắc, nếu tổng 03 mặt hột xí ngầu từ 04-10 thì người đặt xỉu thắng, người đặt tài thua, còn nếu tổng 03 hột xí ngầu từ 11-17 thì người đặt tài thắng, người đặt xỉu thua, còn nếu 03 mặt giống nhau thì nhà cái cân số tiền đã đặt để trả lại cho con bạc, số tiền dư nhà cái sẽ hưởng.
Ngày 07/3/2020, khi lực lượng Công an bắt quả tang, thu giữ tại chiếu bạc tài xỉu tổng số tiền dùng để đánh bạc là 60.300.000 (Sáu mươi triệu ba trăm nghìn) đồng.
Quá trình điều tra, xác định:
- Lê Thị Bé C tham gia đặt cược khoảng 10 ván tài xỉu, mỗi ván đặt từ 500.000 đồng đến 2.000.000 đồng, kết quả thua 2.000.000 đồng, đang chờ đặt ván tiếp theo thì bị bắt quả tang.
- Nguyễn Thanh P1 (P1 Ty) đặt cược 02 ván (không nhớ rõ đặt tài hay xỉu), cụ thể ván thứ nhất Nguyễn Thành N nhờ P1 đặt cược dùm, với số tiền 500.000 đồng, kết quả thua; ván thứ 2 P1 dùng số tiền 500.000 đồng của P1 đặt cược, đang chờ kết quả thì bị bắt quả tang.
- Trần Thị Ngọc H tham gia 01 ván, đặt cược bên xỉu với số tiền 500.000 đồng, đang chờ kết quả thì bị bắt quả tang.
- Nguyễn Quốc H3 tham gia 04 ván tài xỉu, mỗi ván 100.000 đồng, bị thua 03 ván với số tiền 300.000 đồng, ván thứ tư định đặt 100.000 đồng thì bị bắt quả tang.
- Phạm Văn V tham gia 03 ván tài xỉu (không nhớ đặt cược bên tài hay xỉu), mỗi ván đặt cược 200.000 đồng, kết quả thua 03 ván với số tiền 600.000 đồng, đang chơi thì bị bắt quả tang.
- Võ Minh Q tham gia 02 ván tài xỉu, ván thứ nhất đặt cược bên xỉu với số tiền 100.000 đồng, ván 2 đặt cược bên xỉu với số tiền 200.000 đồng, kết quả thua 02 ván với số tiền 300.000 đồng, đang chơi bị bắt quả tang.
- Nguyễn Văn L tham gia 03 ván tài xỉu, đặt cược 02 ván bên tài, mỗi ván cược 100.000 đồng, bị thua 02 ván, ván thứ ba đặt cược 100.000 đồng bên tài, đang chờ kết quả thì bị bắt quả tang.
- Hình Kim L1 tham gia 03 ván tài xỉu, mỗi ván 200.000 đồng, bị thua 02 ván với số tiền 400.000 đồng; ván thứ ba chưa có kết quả thì bị bắt quả tang.
- Nguyễn Thanh S1 tham gia đặt cược 05 ván tài xỉu, trong đó 04 ván đặt cược 500.000 đồng, 01 ván 1.000.000 đồng, kết quả thua 04 ván với số tiền 2.000.000 đồng, ván thứ năm thắng 1.000.000 đồng nhưng chưa nhận tiền thắng thì bị bắt quả tang.
- Nguyễn Khánh D tham gia đặt cược 03 ván tài xỉu, mỗi ván 200.000 đồng; thắng 01 ván, thua 01 ván, ván thứ ba đặt tiền xong đã có kết quả nhưng chưa chung chi tiền thì bị bắt quả tang.
- Âu Bách B tham gia đặt cược 02 ván tài xỉu, mỗi ván 500.000 đồng; thắng 01 ván, thua 01 ván.
- Nguyễn Thanh M tham gia đặt cược 02 ván tài xỉu, mỗi ván 500.000 đồng; thua 02 ván.
- Nguyễn Hoàng T4 tham gia đặt cược 04 ván tài xỉu, 03 ván đặt cược với số tiền 500.000 đồng, kết quả thua 03 ván với số tiền 1.500.000 đồng, ván thứ 4 đặt cược 300.000 đồng, đang chờ kết quả thì bị bắt quả tang.
Ngoài ra, trong vụ án còn thu giữ nhiều vật chứng liên quan.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 139/2024/HS-ST ngày 17 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang đã quyết định:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Quang T, Khổng Quốc K phạm tội “Tổ chức đánh bạc”. Các bị cáo Phạm Văn V, Võ Minh Q, Nguyễn Khánh D, Âu Bách B, Hoàng Anh H phạm tội “Đánh bạc”.
1. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 322; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 (bị cáo T); Điều 54; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
1.1 Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang T 03 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi chấp hành án, trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/3/2024 đến ngày 05/7/2024.
1.2 Xử phạt bị cáo Khổng Quốc K 03 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi chấp hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/5/2024 đến ngày 25/7/2024.
2. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 (bị cáo Q, V); Điều 58 Bộ luật Hình sự.
2.1. Xử phạt bị cáo Phạm Văn V 03 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi chấp hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/01/2024 đến ngày 25/7/2024.
2.2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Khánh D 03 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi chấp hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/01/2024 đến ngày 08/4/2024.
2.3 Xử phạt bị cáo Võ Minh Q 03 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi chấp hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/01/2024 đến ngày 25/7/2024.
2.4 Xử phạt bị cáo Âu Bách B 03 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi chấp hành án, trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/01/2024 đến ngày 05/7/2024.
3. Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Hoàng Anh H 01 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt là ngày 02/7/2024.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về tội danh và hình phạt của các bị cáo khác, phần xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Trong các ngày 19, 20, 21, 23 tháng 9 năm 2024 các bị cáo Phạm Văn V, Võ Minh Q, Khổng Quốc K, Nguyễn Khánh D, Âu Bách B có đơn kháng cáo với nội dung: Xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
Trong các ngày 27, 28 tháng 9 năm 2024 các bị cáo Nguyễn Quang T, Hoàng Anh H có đơn kháng cáo với nội dung: Xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Các bị cáo Nguyễn Quang T, Khổng Quốc K, Phạm Văn V, Võ Minh Q, Nguyễn Khánh D, Âu Bách B, Hoàng Anh H khai nhận hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện đúng như nội dung bản án sơ thẩm đã xét xử, đồng thời có ý kiến giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Qua lời khai nhận của các bị cáo Nguyễn Quang T, Khổng Quốc K, Phạm Văn V, Võ Minh Q, Nguyễn Khánh D, Âu Bách B, Hoàng Anh H tại phiên tòa phúc thẩm, đối chiếu lời khai của các đồng phạm trong vụ án cùng các tài liệu, chứng cứ được Cơ quan điều tra thu thập, có đủ cơ sở xác định: Ngày 07/3/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an phối hợp cùng Công an Tiền Giang bắt quả tang Phùng Minh M cùng 04 đồng phạm tổ chức cho các đối tượng tại địa phương đánh bạc dưới hình thức đá gà truyền thống và lắc tài xỉu thắng thua bằng tiền. Vật chứng thu giữ tại điểm đá gà 125.250.000 đồng, tại điểm lắc tài xỉu 60.400.000 đồng cùng vật chứng sử dụng vào việc đánh bạc và một số tài sản của những người tham gia đánh bạc.
Trong đó, bị cáo Nguyễn Quang T và Khổng Quốc K tham gia làm biện tại chiếu bạc đá gà; Phạm Văn V, Võ Minh Q, Nguyễn Khánh D, Âu Bách B là những người trực tiếp tham gia đánh bạc tại chiếu bạc lắc tài xỉu; Hoàng Anh H tham gia đặt cược tại chiếu bạc đá gà. Vì thế, bản án sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Quang T, Khổng Quốc K về tội “Tổ chức đánh bạc” theo b khoản 2 Điều 322 Bộ luật Hình sự; các bị cáo Phạm Văn V, Võ Minh Q, Nguyễn Khánh D, Âu Bách B về tội “Đánh bạc” theo điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự và Hoàng Anh H tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
Nhận thấy, về ý thức các bị cáo nhận thức được rằng, đánh bạc là tệ nạn xã hội, là một trong những nguyên nhân phát sinh một số tội phạm khác. Vì thế, pháp luật nghiêm cấm việc tổ chức đánh bạc và đánh bạc thắng thua bằng tiền trái phép dưới mọi hình thức. Thế nhưng, các bị cáo đã cố ý vi phạm, thực hiện hành vi phạm tội nên cần phải xử phạt nghiêm khắc.
Khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đến tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện; vai trò, đặc điểm nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo; xử phạt bị cáo T 03 năm tù, bị cáo K 03 năm tù, bị cáo V 03 năm tù, bị cáo Q 03 năm tù, bị cáo D 03 năm tù, bị cáo B 03 năm tù và bị cáo H 01 năm tù là phù hợp.
Tuy nhiên xét thấy, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Khổng Quốc K, Phạm Văn V, Võ Minh Q, Nguyễn Khánh D bổ sung tài liệu chứng minh gia đình các bị cáo thuộc thành phần có công cách mạng và từ lúc vụ án xảy ra đến nay bản thân luôn chấp hành tốt pháp luật, thực hiện tốt nghĩa vụ công dân nơi cư trú. Đây là tình tiết mới nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt. Tuy nhiên, để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, nên không cho các bị cáo được hưởng án treo.
Các bị cáo Nguyễn Quang T, Âu Bách B và Hoàng Anh H không bổ sung tình tiết gì mới ngoài các tình tiết đã được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các bị cáo.
Quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử có xem xét khi nghị án.
Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của các bị cáo Khổng Quốc K, Phạm Văn V, Võ Minh Q, Nguyễn Khánh D; không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Quang T, Âu Bách B và Hoàng Anh H; sửa bản án hình sự sơ thẩm số 139/2024/HS-ST ngày 17 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang.
2. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Quang T, Khổng Quốc K phạm tội “Tổ chức đánh bạc”; các bị cáo Phạm Văn V, Võ Minh Q, Nguyễn Khánh D, Âu Bách B, Hoàng Anh H phạm tội “Đánh bạc”.
* Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 322; Điều 17; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 2 Điều 54; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt:
2.1. Bị cáo Nguyễn Quang T 03 (ba) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam trước từ ngày 02/3/2024 đến ngày 05/7/2024.
2.2. Bị cáo Khổng Quốc K 02 (hai) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam trước từ ngày 02/5/2024 đến ngày 25/7/2024.
* Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.
2.3. Xử phạt bị cáo Hoàng Anh H 01 (một) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày 02/7/2024.
* Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; Điều 17; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự. Riêng đối với bị cáo Phạm Văn V, Nguyễn Khánh D và Võ Minh Q áp dụng thêm khoản 2 Điều 51; khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt:
2.4. Bị cáo Phạm Văn V 02 (hai) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam trước từ ngày 29/01/2024 đến ngày 25/7/2024.
2.5. Bị cáo Võ Minh Q 02 (hai) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam trước từ ngày 29/01/2024 đến ngày 25/7/2024.
2.6. Bị cáo Nguyễn Khánh D 02 (hai) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam trước từ ngày 29/01/2024 đến ngày 08/4/2024.
2.7. Bị cáo Âu Bách B 03 (ba) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam trước từ ngày 29/01/2024 đến ngày 05/7/2024.
3. Về xử lý vật chứng: Ghi nhận bị cáo Âu Bách B nộp số tiền 1.000.000 đồng, theo biên lai thu số 0003549 ngày 17/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Tiền Giang.
4. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Bị cáo Khổng Quốc K, Phạm Văn V, Nguyễn Khánh D, Võ Minh Q không pM chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Bị cáo Nguyễn Quang T, Âu Bách B và Hoàng Anh H, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
5. Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: -TAND cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh;(1) - VKSND tỉnh Tiền Giang;(1) - Sở Tư pháp tỉnh Tiền Giang;(1) - Trại tạm giam CA tỉnh TG; (1) - TAND huyện C; (7) - VKSND huyện C; (1) - Công an huyện C; (1) - THADS huyện C;(1) - Bị cáo;(1) - Lưu hồ sơ, án văn. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Tuấn |