- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Văn H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 234/2019/HS-ST Ngày: 28-8-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH - TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Thu Định.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trịnh Thị Kim Cúc
Bà Vương Thị Minh Tân
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thu Thủy - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Quang Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 231/2019/TLST-HS ngày 07 tháng 8 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 231/2019/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2019, đối với bị cáo:
Họ tên: Đỗ Văn H - sinh năm 1984 tại: Tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Số 40/44 đường C, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Không nghề nghiệp; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn B và bà Vũ Thị B1; có vợ Nguyễn Hồng N và 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14-5-2019, sau đó chuyển tạm giam từ ngày 23-5-2019 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Nam Định; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
Anh Đặng Tuấn Đ, chị Lê Thanh T1 (vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 20 phút ngày 14-5-2019, tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Nam Định làm nhiệm vụ trước cổng chợ L, đường D, phường X, thành phố Đ phát hiện Đỗ Văn H điều khiển xe máy biển kiểm soát: 18B1-98106 một mình có biểu hiện nghi vấn nên đã yêu cầu dừng xe kiểm tra. Quá trình kiểm tra, H tự giác lấy từ trong túi quần đùi bên phải đang mặc 01 túi nilong màu đen giao nộp cho tổ công tác. Tổ công tác đã thu giữ, mời người làm chứng, mở kiểm tra túi nilong màu đen bên trong có 02 túi nilong màu trắng kích thước 10x15cm đều chứa các cục chất bột màu trắng (H khai là Heroine). Tổ công tác đã niêm phong vật chứng ký hiệu là M. Tổ công tác đưa H cùng người làm chứng về trụ sở, lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, còn tạm giữ của H 01 xe máy biển kiểm soát: 18B1-98106.
Ngày 14-5-2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Nam Định tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Hải phát hiện, thu giữ trên mặt bàn trong phòng tầng hai có 02 túi nilong màu trắng kích thước khoảng 05x07cm, bên trong có chất rắn dạng tinh thể màu trắng, niêm phong ký hiệu K1 và 01 túi nilong màu trắng kích thước khoảng 02x04cm bên trong có chất bột dạng cục màu trắng, niêm phong ký hiệu K2.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Nam Định đã trưng cầu giám định vật chứng thu giữ. Tại bản kết luận giám định số 464/GĐKTHS ngày 15-5-2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Vật chứng thu giữ của Đỗ Văn H đều là ma túy, trong đó mẫu bột dạng cục màu trắng niêm phong ký hiệu M và K2 đều là Heroine, tổng khối lượng M: 69,295 gam (sáu chín phẩy hai chín năm gam), khối lượng K2: 1,275 gam (một phẩy hai bảy năm gam); mẫu chất rắn dạng tinh thể màu trắng niêm phong ký hiệu K1 là Methamphetamine, tổng khối lượng 2,524 gam (hai phẩy năm hai bốn gam).
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, Đỗ Văn H khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng, đồng thời khai nhận về nguồn gốc túi ma túy như sau: Khoảng 17 giờ ngày 14-5-2019, Đỗ Văn H điều khiển xe máy biển kiểm soát: 18B1-98106 một mình từ nhà đến khu vực chợ 5 tầng, phường N, thành phố Đ gặp và mua của một nam thanh niên tên H1 (không rõ lai lịch, địa chỉ) 02 túi ma túy với giá 30.000.000 đồng. H cho vào một túi nilong màu đen rồi cất trong túi quần bên phải, sau đó đi xe máy đến khu vực chợ L, đường D, phường X, thành phố Đ để mua đồ ăn thì thì bị phát hiện bắt giữ như đã nêu trên. Còn nguồn gốc 03 túi ma túy (gồm 02 túi ma túy đá và 01 túi Heroine) do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Nam Định thu giữ tại nơi ở của H là do T (bạn nghiện của H, không rõ lai lịch) đã cho H ở khu vực chợ T, thành phố Đ cách đây khoảng một tháng (H không nhớ rõ thời gian cụ thể). H mang 02 túi ma túy đá và 01 túi Heroine về nhà và để trên mặt bàn trong phòng tầng hai để sử dụng.
Đối với chiếc xe máy biển kiểm soát: 18B1-98106, H khai mượn của em gái là chị Đỗ Thị Thu T1 - sinh năm 1989, trú tại: Số 61 đường Q, phường N, thành phố Đ. Chị Đỗ Thị Thu T1 không biết việc H mượn xe đi mua ma túy nên cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe máy trên cho chủ sở hữu là chị Đỗ Thị Thu T1.
Đối với người đàn ông tên H1 đã bán gói ma túy cho Đỗ Văn H và người đàn ông tên T đã cho H ma túy, hiện tài liệu điều tra chưa đủ căn cứ kết luận nên đã tách ra tiếp tục điều tra xử lý sau.
Bản cáo trạng số 237/CT-VKSTPNĐ ngày 05-8-2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố bị cáo Đỗ Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 3 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo Đỗ Văn H tại phiên tòa thể hiện hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do đó, Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đỗ Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Áp dụng điểm h khoản 3 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015: xử phạt bị cáo Đỗ Văn H từ 10 năm 06 tháng tù đến 11 năm 06 tháng tù, miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Xử lý vật chứng đã thu giữ theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Đỗ Văn H nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Nam Định, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Văn H không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
Về tội danh:
Lời khai nhận tội của bị cáo Đỗ Văn H phù hợp với các tài liệu, chứng cứ của vụ án nên có đủ cơ sở xác định: Khoảng 17 giờ 20 phút 14-5-2019, Đỗ Văn H đã có hành vi tàng trữ trái phép 70,570 gam Heroine và 2,524 gam Methamphetamine để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang tại khu vực trước cổng chợ L, đường D, phường X, thành phố Đ. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi tàng trữ ma túy của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện, khối lượng Heroine bị cáo tàng trữ là 70,570 gam, khối lượng Methamphetamine bị cáo tàng trữ là 2,524 gam nên bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm h khoản 3 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Về các tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo Đỗ Văn H đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về các tình tiết tăng nặng: Bị cáo 02 lần tàng trữ trái phép chất ma túy nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về hình phạt:
Xét bị cáo phạm tội lần đầu, bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử chỉ xử phạt bị cáo ở mức thấp của khung hình phạt mà bị cáo bị truy tố nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo Đỗ Văn H tàng trữ ma túy mục đích để sử dụng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Số ma túy đã thu giữ là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 để tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo Đỗ Văn H bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ điểm h khoản 3 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Đỗ Văn H 10 năm 06 tháng tù (mười năm sáu tháng tù). Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 14-5-2019.
2. Xử lý vật chứng:
- Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ.
(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhân vật chứng ngày 01-8-2019).
3. Án phí:
- Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016.
Bị cáo Đỗ Văn H phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo:
Bị cáo Đỗ Văn H được quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nam Định; - VKSND TP. Nam Định (02 bản); - Công an TP. Nam Định; - Chi cục THADS TP. Nam Định; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án; VP. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phạm Thị Thu Định THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |