vanban.org

Bản án 232

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Nguyễn Văn Cường - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
tßA ¸n nh©n d©n
THÀNH PHỐ CẨM PHẢ
TØNH QU¶NG Ninh

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

B¶n ¸n sè: 232/2020/HS -ST
Ngµy: 30 - 12 - 2020
Thµnh phÇn Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm gåm cã:
- ThÈm ph¸n - Chñ tọa phiªn tòa: Bà TTT.
- Các Héi thÈm nh©n d©n:
1. Ông: Nguyễn Văn Hạ - Cán bộ nghỉ hưu.
2. Bà: BTH - Cán bộ nghỉ hưu.
- Th ký phiªn tòa: Bà VTL - Thư ký Tòa ¸n nh©n d©n thành phố CP.
NTN - KiÓm s¸t viªn.
tØnh Qu¶ng Ninh, ® a ra xÐt xö s¬ thÈm c«ng khai vô ¸n h×nh sù thô lý sè
233/2020/TLST-HS ngµy 03/12/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
226/2020/QĐXX-HS ngày 17/12/2020 ®èi víi các bÞ c¸o:
Hä vµ tªn: NVC - Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.
Sinh ngày 23/7/1984, tại huyện ĐH, tỉnh TB.
N¬i cư trú: Thôn H T, xã H B , huyện ĐH, tØnh TB.
Chỗ ở: Tổ 1, khu Nam Sơn 2, phường CS, thành phố CP, tØnh QN.
Quèc tÞch: ViÖt Nam;
Tr×nh ®é học vấn: 4/12; NghÒ nghiÖp: Lái xe.
Con «ng NVP, sinh năm 1959; Con bµ ĐTL, sinh năm 1960.
Vợ: PTP, sinh năm 1989; Có 01 con, sinh năm 2007.
TiÒn ¸n, tiền sự: Chưa.
an thành phố CP. Có mặt.
dân cư An C, phường H S , thị xã K M , tỉnh H D . Vắng mặt (có đơn đề nghị
vắng mặt).
Người làm chứng: LTH, NVH, NHN. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 00 giờ 45 phút ngày 01/9/2020, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố CP phối hợp với Công an phường C T , kiểm tra hành chính phòng Vip 202 nhà nghỉ H N , thuộc tổ 3, khu T L, phường C T , thành phố CP, tỉnh QN, phát hiện trong phòng có 03 người gồm: NVC, NTƯ và LTH có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ trong phòng Vip 202 gồm: Thu trên mặt bàn kính 01 đĩa sứ hình tròn màu trắng, trên mặt đĩa có chất bột màu trắng; 01 thẻ nhựa cứng màu xanh và 01 ống hút nhựa màu hồng dài 6,2cm; Thu giữ trên nền nhà, trƯ cửa nhà vệ sinh 01 gói giấy màu trắng, bên trong có 01 túi nilon kích thƯ 3,6 x3cm chứa chất bột màu trắng.

Cơ quan điều tra còn thu giữ của NVC 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone gắn sim và 950.000đồng; Thu của NTƯ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone gắn sim và 5.700.000đồng. Quá trình khám nghiệm hiện trường còn thu giữ trên mặt chiếc đôn kê trong phòng Vip 202: 01 bật lửa màu đỏ, 01 vỏ hộp bằng kim loại màu vàng đen, dài 15cm, đường kính 2,5cm, nhãn hiệu Cohaba-habana, bên trong hộp có 01 điếu thuốc hút dở màu nâu đen, nhãn hiệu Cohaba-habana.

Quá trình điều tra xác định: Tối ngày 31/8/2020, sau khi NVC và NTƯ đi ăn liên hoan cùng với bạn xong, mọi người về nhà. Khi về đến nhà C gọi điện thoại cho Ư nói C rủ thêm 2 người bạn nữ giới là chị LTH và bạn của H đi chơi và rủ Ư đi chơi cùng. Sau đó C và Ư đi xe taxi đến nhà nghỉ H N, Ư vào gặp lễ tân thuê 2 phòng Víp 202 và Vip 302. C và Ư lên phòng Vip 202 để chờ chị H đến. Một lúc sau chị H và bạn tên T A (hiện chưa xác định được lai lịch, địa chỉ) đến, C dẫn cả 2 lên phòng Vip 202. Tại đây C lấy ma túy Ketamine ra đưa cho T A bảo “đánh” lên cho mọi người sử dụng. T A dùng bật lửa hơ nóng đĩa sứ, rồi đỏ một ít ma túy Ketamine ra đĩa. C đưa cho T A thẻ nhựa cứng để đánh nhuyễn Ketamine rồi kẻ thành nhiều đường. C lấy tờ tiền 2.000đồng cuốn lại để cho mọi người sử dụng ma túy bằng cách hít vào cơ thể. Khi tờ 2.000đồng bị bung ra thì mọi người sử dụng ống hút có sẵn ở trên bàn sử dụng ma túy. Khi số ma túy ở trên đĩa đã hết, C tiếp tục đổ một ít ma túy ra đĩa, rồi dùng bật lửa và thẻ nhựa cứng đánh nhuyễn ma túy. Lúc này T A có việc nên đi về trƯ, một lúc sau Công an đến kiểm tra hành chính và thu giữ vật chứng nêu trên.

Bản Kết luận giám định số 1244/GĐMT ngày 06/9/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh QN, kết luận: Chất bột màu trắng có trên đĩa sứ là ma túy, loại Ketamine, khối lượng 0,064gam; Chất bột màu trắng có trong túi nilon là ma túy, loại Ketamine, khối lượng 0,296gam; Chất bột màu trắng dạng vết dính trên thẻ nhựa, trong thành ống hút đã thu giữ là ma túy, loại Ketamine, không xác định được khối lượng.

Bản Kết luận giám định số 1245/GĐMT ngày 06/9/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh QN, kết luận: Tìm thấy trong Ư tiểu của NVC, NTƯ và LTH có ma túy, loại Ketamine.

Quá trình điều tra NVC đã khai nhận hành vi của mình như đã nêu trên. Ngoài ra C khai nguồn gốc số ma túy mà C mời mọi người cùng sử dụng là của NTƯ mang đến bảo C tổ chức cho mọi người cùng sử dụng; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan NTƯ khai mục đích thuê 2 phòng để Ư và C chia ra để ngủ với 2 bạn nữ của C . Khi ở trong phòng Vip 202, có đủ 4 người thì Ư được C mời sử dụng ma túy Ketamine, ma túy là của C mang đến.

Người làm chứng LTH khai: Tối ngày 31/8/2020 chị H đang ở phòng trọ thuộc phường C T , thành phố CP thì C gọi điện thoại cho H rủ H đi sử dụng ma túy tổng hợp, sau đó chị H cùng chị T A đi ăn tối, trong lúc ăn tối, C nhắn tin cho chị H là thuê được nhà nghỉ để sử dụng ma túy và “đồ có đầy đủ trên phòng rồi”, C bảo chị H rủ thêm một bạn nữ nữa đi cùng vì có 3 đến 4 đôi mà C và một người nữa không có bạn gái. Sau đó chị H và chị T A đi taxi đến nhà nghỉ H N thì C xuống sảnh đón lên phòng Vip 202. Khi vào phòng chị H nhìn thấy anh Ư đang nằm trên giường, C và chị T A ngồi ở bàn uống nƯ, sau đó anh Ư cũng ra ghế đơn ngồi cạnh C uống nƯ. C nói chỉ có Ketamine, lát nữa sử dụng thì lấy đĩa đựng chén trên bàn đổ Ketamine ra đánh. Một lúc sau C vào phòng vệ sinh, khi C ra chị H thấy C cầm một gói giấy vệ sinh màu trắng, C mở gói giấy vệ sinh ra lấy ở bên trong 01 túi nilon chứa Ketamine, đưa cho T A đổ một ít lên đĩa sứ màu trắng, C lấy thẻ ATM trong túi quần của C đưa cho T A đánh nhuyễn Ketamine lên, cùng lúc C lấy tờ tiền 2000đồng của C cuộn thành hình ống làm dụng cụ hút ma túy. Chị T A đưa đĩa ma túy cho anh Ư , anh Ư tự cầm ống hút bằng tiền của Cư hít một đường qua đường mũi rồi để đĩa ma túy lên mặt bàn. C cầm đĩa sứ chứa Ketamine rồi dùng tờ tiền hít một đường xong C đưa đĩa ma túy cho chị H nhưng chị H không sử dụng mà để trên mặt bàn thì T A tự lấy đĩa chứa ma túy hít một đường rồi để xuống mặt bàn. Chị H đã lấy một ống nhựa trên mặt bàn và tự hít một đường ma túy trên mặt đĩa thì hết ma túy trên đĩa. Chị H nhìn thấy C cầm túi chứa ma túy vào trong nhà vệ sinh cất giấu. Sau đó mọi người ngồi nói chuyện được vài phút thì C lại đi vào trong nhà vệ sinh lấy túi ma túy ra đổ một ít vào đĩa sứ, dùng thẻ ATM tự đánh nhuyễn ma túy ra, lúc đó T A có việc nên về trƯ, một lúc sau lực lượng Công an đến kiểm tra hành chính và phát hiện C, anh Ư và chị H sử dụng trái phép chất ma túy, Công an đã thu giữ vật chứng liên quan.

Tại phiên tòa NVC khai nhận hành vi phạm tội như Kết luận điều tra, Cáo trạng đã truy tố bị cáo.

B¶n c¸o tr¹ng sè 232/CT-VKSQN ngµy 30/11/2020 cña ViÖn kiÓm s¸t nh©n thành phố CP, ®· truy tè NVC vÒ téi: "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy"quy định tại khoản 1 §iÒu 255 Bé luËt h×nh sù.

T¹i phiªn tßa, ®¹i diÖn ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n thành phố CP gi÷ nguyªn quan ®iÓm truy tè, c¨n cø tÝnh chÊt, møc ®é, hµnh vi ph¹m téi, c¸c t×nh tiÕt t¨ng nÆng gi¶m nhÑ trách nhiệm hình sự, ®Ò nghÞ áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xö ph¹t NVC từ 27 năm đến 30 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố CP, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố CP, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đều khai nhận đã thực hiện hành vi tổ chức sử dụng chất ma túy, phù hợp lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, Biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp, thu giữ vật chứng, Kết luận giám ®Þnh cña Phßng kü thuËt h×nh sù C«ng an tØnh Qu¶ng Ninh và các chøng cø khác thu thËp ® îc cã trong hå s¬ vô ¸n ®· ® îc thÈm tra t¹i phiªn toµ, cã ®ñ c¬ së kÕt luËn: Khoảng 0 giờ 45 phút ngày 01/9/2020, tại phòng Vip 202 nhà nghỉ Hồng Ninh, thuộc tổ 3, khu Tân Lập 3, phường Cẩm Thủy, thành phố CP, tỉnh QN, NVC đã có hành vi tổ chức cho LTH sử dụng trái phép chất ma túy Ketamine.

Hµnh vi nêu trên của NVC ®· cấu thành téi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự, nh Cáo trạng của ViÖn kiÓm s¸t đã truy tè nên chấp nhận lời luận tội của Kiểm sát viên ®èi víi các bÞ c¸o.

Hµnh vi cña NVC lµ nguy hiÓm cho x· héi, không những trùc tiÕp x©m ph¹m chÝnh s¸ch ®éc quyÒn qu¶n lý chất ma túy cña Nhµ nưíc, mà còn xâm phạm trật tự trị an xã hội. Bị cáo là người trưởng thành, nhận thức và hiểu rõ tác hại của ma túy và hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy vào cơ thể người khác, không những gây thiệt hại đến sức khỏe của chính người sử dụng chất ma túy mà còn ảnh hưởng xấu đến mọi mặt của đời sống xã hội. Nhưng do ý thức chấp hành pháp luật kém nên bị cáo đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, do đó cần xử phạt nghiêm mới đủ để cải tạo, giáo dục và đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.

Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: NVC chưa có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

VÒ hình phạt bổ sung: BÞ c¸o là lao động tự do, thu nhập không ổn định nªn kh«ng áp dụng hình phạt bổ sung là ph¹t tiÒn ®èi víi bÞ c¸o.

VÒ vËt chøng cña vô ¸n: Chất bột màu trắng trên đĩa sứ kí hiệu M1 và M4 là ma túy, loại Ketamine, khối lượng 0,064gam; Chất bột màu trắng có trong túi nilon kí hiệu M2 và M3 là ma túy, loại Ketamine, khối lượng 0,296gam, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh QN đã giám định hết một phần, hoàn lại sau giám định M1:0,01gam và M4:0,25gam, đây là vật nhà nƯ cấm lưu hành nên tịch thu và tiêu hủy.

Chất bột màu trắng dạng vết dính trên thẻ nhựa, trong thành ống hút đã thu giữ là ma túy, loại Ketamine, không xác định được khối lượng, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh QN đã hoàn lại 01 đĩa sứ hình tròn màu trắng, 01 thẻ nhựa cứng hình chữ nhật màu xanh và 01 ống hút nhựa màu hồng, đây là đồ vật liên quan đến tội phạm, không có giá trị sử dụng, do đó tịch thu tiêu hủy.

Cơ quan điều tra còn thu giữ 01 bật lửa màu đỏ, 01 vỏ hộp bằng kim loại nhãn hiệu Cohaba -Habana và 01 điếu thuốc, đều không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động Iphone kèm 01 sim của bị cáo đã sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu sung ngân sách nhà nƯ.

Số tiền 950.000đồng thu giữ của bị cáo, không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho bị cáo.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone gắn sim và 5.700.000đồng của anh NTƯ, quá trình điều tra đã xác định không liên quan đến tội phạm nên Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản trên cho anh Ư là phù hợp pháp luật.

Đối với NTƯ và LTH có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công an thành phố CP đã Quyết định xử phạt hành chính là phù hợp pháp luật.

Người phụ nữ tên T A, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không đủ cở sở làm rõ, do đó không đề cập xem xét.

Bị cáo khai nguồn gốc ma túy tại phòng Vip 202 nhà nghỉ H N là của NTƯ, nhưng quá trình điều tra đều chưa đủ căn cứ xác định là ma túy của Ư nên chưa đủ chứng minh NTƯ có hành vi đồng phạm trong vụ án, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau, do vậy không xem xét.

Về án phí: NVC ph¶i chịu ¸n phÝ h×nh sù sơ thẩm theo qui ®Þnh của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

V× c¸c lÏ trªn;

QuyÕt ®Þnh:

Căn cứ khoản 1 Điều 255; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Tuyªn bè: NVC ph¹m téi: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xö ph¹t: NVC 27 (Hai mươi bảy) tháng tï. Thêi h¹n tï tÝnh tõ ngày bị bắt 01/9/2020.

Về vật chứng: Căn cứ các điểm a,c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Các điểm a,c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu, tiêu hủy: Khối lượng ma túy loại Ketamine, 01 đĩa sứ hình tròn màu trắng, 01 thẻ nhựa cứng hình chữ nhật màu xanh và 01 ống hút nhựa màu hồng, hoàn lại trong phong bì niêm phong số 1244/GĐMT ngày 06/9/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh QN; 01 bật lửa màu đỏ, 01 vỏ hộp bằng kim loại nhãn hiệu Cohaba - Habana và 01 điếu thuốc.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nƯ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu vàng kèm 01 sim.

Trả lại cho NVC 950.000đồng tiền Ngân hàng Nhà nƯ Việt Nam.

(Tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 57/BB-THA ngày 28/12/2020 giữa Công an thành phố CP và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố CP).

Về án phí: Căn cứ kho¶n 2 §iÒu 136 Bé luËt tè tông h×nh sù; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy ®Þnh vÒ ¸n phÝ Tòa án: NVC ph¶i chịu ¸n phÝ h×nh sù s¬ thÈm 200.000®ồng.

Căn cứ khoản 1 Điều 331 và khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: NVC cã quyÒn kh¸ng c¸o trong thời h¹n 15 ngµy kÓ tõ ngµy tuyªn ¸n 30/12/2020.

Căn cứ khoản 4 Điều 331 và khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan NTƯ, vắng mặt, có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ