- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Hoàng K - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần Hoàng K. Giữ nguyên quyết định bản án sơ thẩm về hình phạt.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 232/2017/HSPT Ngày: 21/8/2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai
Các thẩm phán:
Ông Tô Phú Đông
Ông Ngô Tấn Lợi
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuấn Em – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
Ðại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ðồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Hóa - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 211/2017/HSPT ngày 28 tháng 7 năm 2017 đối với bị cáo Trần Hoàng K.
Do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 25/2017/HSST ngày 21 tháng 6 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện T.
Bị cáo có kháng cáo:
TRẦN HOÀNG K
- Sinh ngày 20/10/1993;
- HKTT: ấp 6B, xã Trường X, huyện T, tỉnh Đ;
- Nghề nghiệp: Làm thuê;
- Trình độ văn hóa: 08/12;
- Con ông Trần Văn H, sinh năm 1967 (đã chết) và con bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1970 (còn sống);
- Vợ tên: Huỳnh Thị D, sinh năm 1992;
- Con: 02 người con (con lớn nhất sinh năm 2011, con nhỏ nhất sinh năm 2015);
- Tiền án, tiền sự: Không;
- Bắt và tạm giữ: Ngày 10/12/2016;
- Tạm giam: Ngày 16/12/2016;
- Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Tháp (có mặt tại phiên tòa).
Ngoài ra, trong vụ án ng i b h i, ng i có quy n l i nghĩa vụ liên quan không kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng ngh .
NHẬN THẤY:
Theo cáo tr ng c a Viện kiểm sát nhân dân huyện T và b n án hình s s thẩm c a Tòa án nhân dân huyện T thì nội dung vụ án đ c tóm t t nh sau:
Ngày 09/12/2016, Công an xã Trường X, huyện T kết hợp với lực lượng Trinh sát Công an huyện T sau khi nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về hành vi trộm cắp tài sản. Lực lượng Công an tiến hành kiểm tra hành chính nhà ông Nguyễn Văn C (địa chỉ ấp 6B, xã Trường X, huyện T), qua kiểm tra lực lượng Công an phát hiện và thu giữ tài sản gồm: 01 đầu máy Honda Trung Quốc 650 CC, 01 đầu máy xăng hiệu Mitsubishi 75 và 01 đầu mô tơ điện bơm nước hiệu VTC YUNG SHUN Elec&Mach Co.Ltd 2HP 4P Model 2016. Ông C trình bày, số tài sản này do Trần Hoàng K (cháu ruột ông) gửi ở nhà ông. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T tiến hành lấy lời khai của K để làm rõ. Quá trình điều tra, K đã thừa nhận 03 vụ lấy trộm tài sản, cụ thể như sau.
Vụ thứ nhất: Vào khoảng 21 giờ ngày 19/5/2016, Trần Hoàng K đi bộ soi cá ở đường kênh cặp tỉnh lộ 845 (địa chỉ ấp 6B, xã Trường X, huyện T). Thấy dưới kênh có 01 đầu máy hiệu GX 340 Honda 11.0 có gắn dàn sắt si và chân vịt, được đặt trên chiếc vỏ lải composit màu xanh của anh Âu T. K xuống khiêng chiếc đầu máy có dàn sắt si và chân vịt để sang một chiếc xuồng ba lá be 9 bằng gỗ của anh Nguyễn Văn G đang đậu cặp bên, rồi bơi xuồng về hướng nhà anh Ngô Văn T, phát hiện 01 cục sạc bình ắc quy màu trắng để ở dưới sàn nhà không có người trông coi, K liền lấy trộm để lên xuồng bơi về nhà mình. Khi còn cách nhà khoảng 100m, K khiêng chiếc đầu máy và cục sạc bình ắc quy lên bờ và đạp xuồng trôi đi. K đem cục sạc bình ắc quy về nhà lấy chìa khóa 13, 17 và kềm bấm tháo đầu máy ra khỏi dàn sắt si, rồi khiêng đầu máy và dàn sắt si về nhà cất giấu.
Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 68 ngày 16/12/2016 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: 01 (một) đầu máy hiệu GX 340 Honda 11.0, có dàn sắt si và chân vịt có giá trị 2.500.000 đồng (vào thời điểm ngày 19/5/2016).
Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 66 ngày 16/12/2016 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: 01 (một) cục sạc bình ắc quy màu trắng có giá trị 450.000đồng (vào thời điểm ngày 19/5/2016).
Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 26 ngày 10/4/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: 01 (một) chiếc xuồng ba lá be 9 làm bằng gỗ (gỗ Sao) đã cũ, có giá trị 60.000 đồng (vào thời điểm ngày 19/5/2016).
Vụ thứ hai: Vào khoảng 21 giờ tháng 11/2016, Trần Hoàng K bơi xuồng đi soi cá ở dọc đường kênh Thanh Niên (địa chỉ ấp 6B, xã Trường X, huyện T) cách nhà K khoảng 02km, phát hiện có 01 cái mô tơ điện hiệu VTC YUNG SHUN Elec&Mach Co.Ltd 2HP 4P Model 2016 của anh Bùi Văn N, đang sử dụng để bơm nước vào ao nuôi cá. K lấy chìa khóa 13, 17 và kềm bấm chuẩn bị từ trước tháo ốc, vít nối mô tơ với dàn sắt si ra, nhưng sơ ý làm rơi mô tơ xuống đường kênh, nên K bơi xuồng bỏ đi tìm mô tơ khác anh N đặt bên ngoài bơm nước vào ao cá. K phát hiện có 01 cái mô tơ điện hiệu VTC YUNG SHUN Elec&Mach Co.Ltd 2HP 4P Model 2016 và 01 cái mô tơ điện hiệu VTC Đài Loan loại 3HP Model 2016 ở ngoài đường kênh, K liền dùng chìa khóa và kềm bấm tháo ốc, vít nối mô tơ với dàn sắt si ra, bỏ lại dàn sắt si và khiêng hai cái mô tơ xuống xuồng bơi về nhà cất giấu. Cái mô tơ hiệu VTC Đài Loan loại 3HP Model 2016, K bán cho anh Trần Văn X (địa chỉ thị trấn Tân H, huyện Tân H, L) được 1.500.000 đồng và đã tiêu xài cá nhân hết. Anh X sau đó bán lại cho một người không rõ họ tên, địa chỉ được 2.200.000 đồng.
Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 65 ngày 16/12/2016 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: 01 (một) đầu mô tơ điện bơm nước hiệu VTC YUNG SHUN Elec&Mach Co.Ltd 2HP 4P Model 2016, có giá trị 2.520.000 đồng; 01 (một) đầu mô tơ điện bơm nước hiệu VTC YUNG SHUN Elec&Mach Co.Ltd 2HP 4P Model 2016, có giá trị 2.520.000 đồng; 01 (một) đầu mô tơ điện bơm nước hiệu VTC Đài Loan loại 3HP Model 2016, có giá trị 3.060.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 8.100.000 đồng (vào thời điểm ngày 03/11/2016).
Vụ thứ ba: Vào khoảng 22 giờ ngày 01/12/2016, Trần Hoàng K bơi xuồng đi soi cá ở các đường kênh (địa chỉ ấp 5, xã Thạnh L, huyện T), K phát hiện cặp hông nhà anh Võ Văn M có 01 đầu máy hiệu Mitsubishi 75 có gắn dàn sắt si. K lấy chìa khóa 13, 17 và kềm bấm đem theo tháo dàn sắt si ra bỏ lại, rồi khiêng máy xăng xuống xuồng bơi về nhà cất giấu.
Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 64 ngày 16/12/2016 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: 01 (một) đầu máy hiệu Mitsubishi 75 có giá trị 2.470.000 đồng (vào thời điểm ngày 01/12/2016).
Ngoài ra, vào khoảng 22 giờ ngày 29/10/2016, Trần Hoàng K đi bộ đến ấp 6B, xã Trường X, huyện T để soi cá. K đi đến vườn nhà anh Huỳnh Tấn N phát hiện có 01 đầu máy Honda Trung Quốc 650 CC có gắn dàn sắt si. K về nhà lấy chìa khóa 13, 17 và kềm bấm tháo dàn sắt si ra bỏ lại, rồi khiêng máy đi bộ khoảng 100m về nhà cất giấu tài sản.
Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 67 ngày 16/12/2016 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: 01 (một) đầu máy Honda Trung Quốc 650 CC có giá trị 1.200.000 đồng (vào thời điểm ngày 29/10/2016).
Các công cụ K sử dụng để tháo ốc, vít của mô tơ điện, đầu máy là chìa khóa 13, 17 và kềm bấm của K mua về sử dụng để sửa xe và làm nhà. Sau đó, K ném bỏ trên dọc đường đi, nhưng không nhớ chỗ ném.
Như vậy, trong thời gian từ tháng 5/2016 đến tháng 12/2016, K đã thực hiện 03 vụ “Trộm c p tài s n”. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 13.580.000 đồng. K bán được số tiền là 1.500.000 đồng và sử dụng tiêu xài cá nhân hết.
* Về trách nhiệm dân sự:
Đối với một đầu mô tơ điện hiệu VTC Đài Loan loại 3HP Model 2016 bị cáo K đã bán, hiện nay không thu hồi được. Gia đình bị cáo và người bị hại Bùi Văn N đã thỏa thuận bồi thường xong và không có yêu cầu gì thêm.
Những người bị hại Bùi Văn N, Âu T, Ngô Văn T và người bị hại Nguyễn Văn G đã nhận lại tài sản bị mất và không yêu cầu bồi thường gì thêm. Đồng thời, có đơn xin bãi nại cho bị cáo K.
Người bị hại Võ Văn M đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm.
Anh Huỳnh Tấn N đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm.
* Về vật chứng.
Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tháp Mười đã tạm giữ:
- Của bà Nguyễn Thị T gồm: 01 (một) đầu máy Honda Trung Quốc 650 CC; 01 (một) đầu máy hiệu Mitsubishi 75; 01 (một) đầu mô tơ điện hiệu VTC YUNG SHUN Elec&Mach Co.Ltd 2HP 4P Model 2016.
- Của chị Huỳnh Thị D: 01 (một) cục sạc bình ắc quy màu trắng.
- Của bị cáo K: 01 (một) đầu máy hiệu GX 340 Honda 11.0, dàn sắt si và chân vịt.
- Của anh Trần Văn X số tiền 700.000 đồng.
- Của bà Nguyễn Thị L: 01 (một) chiếc xuồng Cần Thơ cũ, bằng gỗ tạp, 7 lá be, có chiều dài 4,24m, chiều ngang 0,8m. Đây là chiếc xuồng mà bị cáo K sử dụng làm phương tiện đi lấy trộm tài sản.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã truy tìm thấy 01 (một) đầu mô tơ điện bơm nước hiệu VTC YUNG SHUN Elec&Mach Co.Ltd 2HP 4P Model 2016.
Xét thấy không cần thiết tạm giữ, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trao trả cho các bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan xong.
Đối với việc ông Nguyễn Văn C cho bị cáo gửi tài sản lấy trộm trong nhà, ông C không biết đó là tài sản bị cáo lấy trộm, nên không đề cập xử lý.
Đối với anh Trần Văn X mua một cái mô tơ điện do bị cáo lấy trộm, anh X không biết đây là tài sản lấy trộm mà có, nên không đề cập xử lý.
Đối với lần bị cáo trộm tài sản của anh Huỳnh Tấn N, giá trị tài sản dưới 2.000.000 đồng, không đủ định lượng nên không xử lý hình sự.
T i b n án hình s s thẩm số: 25/2017/HSST ngày 21/6/2017 c a Tòa án nhân dân huyện T đã quyết đ nh:
Tuyên bố: Bị cáo Trần Hoàng K đã phạm tội “Trộm c p tài s n”.
Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Trần Hoàng K 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ ngày 10/12/2016.
Ngoài ra, án s thẩm còn tuyên v xử lý v t chứng, án phí và quy n kháng cáo theo lu t đ nh.
Ngày 03 tháng 7 năm 2017, bị cáo Trần Hoàng K có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tỉnh Đồng Tháp, đề nghị: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 248 Bộ luật tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần Hoàng K, giữ nguyên quyết định bản án sơ thẩm về hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, lời khai bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
XÉT THẤY:
Bị cáo Trần Hoàng K là người đã trưởng thành, nhưng không tìm công việc để lao động để tạo ra tài sản có tiền ăn xài theo sở thích cá nhân. Từ tháng 5/2016 đến tháng 12/2016 bị cáo thực hiện liên tiếp 4 vụ trộm tài sản. Tài sản bị cáo trộm gồm đầu máy, mô tơ điện bơm nước mà người bị hại sử dụng hàng ngày. Nhưng bị cáo vẫn lén lút đêm khuya trộm tài sản nhiều lần theo định giá tổng số tiền 13.580.000đ, mỗi lần trộm định giá tài sản trên 2 triệu đồng. Ngoài ra bị cáo còn trộm tài sản của ông Huỳnh Tấn N tài sản theo định giá dưới 2 triệu đồng. Do nhiều người bị hại mất tài sản báo Công an, nên kiểm tra nhà ông Nguyễn Văn C (cậu ruột bị cáo) phát hiện tài sản bị cáo trộm. Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo cùng với tang vật thu giữ tại nhà ông C.
Hành vi phạm tội của bị cáo là thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nhưng thực hiện hành vi rất táo bạo. Người bị hại để tài sản sử dụng cho công việc làm ruộng bị cáo lại trộm nhiều lần. Nếu không phát hiện thì bị cáo cũng chưa tự dừng hành vi phạm tội. Tuy tài sản bị cáo trộm gia đình bị cáo đã thỏa thuận bồi thường xong cho bị hại và thu hồi lại trả cho bị hại. Người bị hại xin giảm nhẹ cho bị cáo, nhưng bị cáo có tình tiết tăng nặng là phạm tội nhiều lần. Xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo đã gây mất trật tự trị an ở địa phương, xâm phạm đến tài sản của công dân. Do đó hành vi phạm tội của bị cáo cũng cần có mức hình phạt nghiêm khắc, để cải tạo giáo dục bị cáo nhằm để bị cáo trở thành công dân tốt, giúp ích cho gia đình và xã hội.
Án sơ thẩm xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” là đúng người, đúng tội và đã xem xét hết các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo, mức hình phạt 01 năm tù là không nặng. Sau khi án sơ thẩm xử bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt là không có căn cứ để xem xét và bị cáo cũng không xuất trình tình tiết mới ngoài các tình tiết mà án sơ thẩm đã xem xét nên không có căn cứ để giảm mức hình phạt cho bị cáo. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát Tỉnh đề nghị, không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo là phù hợp nhận định trên.
Ngoài ra, trong vụ án này án sơ thẩm nhận định lần bị cáo trộm tài sản của anh Huỳnh Tấn N dưới 2 triệu đồng, không đủ định lượng để xử lý hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát và bản án sơ thẩm không cộng vào để truy tố trách nhiệm hình sự và giải quyết dân sự là bỏ lọt hành vi phạm tội của bị cáo. Do Viện kiểm sát nhân dân Tỉnh không kháng nghị, Tòa án cấp phúc thẩm không được giải quyết theo hướng làm bất lợi cho bị cáo, nhưng cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm chung.
Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Do kháng cáo của bị cáo Trần Hoàng K không được chấp nhận nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 248 Bộ luật tố tụng hình sự.
QUYẾT ĐỊNH:
Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần Hoàng K. Giữ nguyên quyết định bản án sơ thẩm về hình phạt.
Tuyên bố: Bị cáo Trần Hoàng K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 138; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Trần Hoàng K 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày ngày 10/12/2016.
Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Về án phí: Bị cáo Trần Hoàng K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
TTM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Nơi nhận t - VKSND Tỉnh; - Ban Nội chính Tỉnh ủy; - Sở Tư pháp Tỉnh; - TAND H. T; - Chi cục THADS H. T; - Trại Tạm giam Công an Tỉnh; - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an Tỉnh; - Phòng KTNV-THA TA Tỉnh; - Bị cáo; - Lưu HS (T. Em). | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Thị Mai |