vanban.org

Bản án 231/HSST — Hình sự

TAND Quận 8, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 17/08/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc T phạm tội "Trộm cắp tài sản".

Xử phạt bị cáo Trần Ngọc T 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án. Buộc bị cáo Trần Ngọc T bồi thường cho anh anh Trương Đình T2 số tiền 2.500.000 đồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Ngọc T phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc T phạm tội "Trộm cắp tài sản".
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 228 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 231/2017/HSST.
Ngày: 17/8/2017.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8-THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thanh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thanh Vân

2. Bà Lại Thị Đắc

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Trần Ngọc Tuyền, Cán bộ Tòa án nhân dân Quận 8.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Văn Khá, Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 17 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8 Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số 217/2017/HSST ngày 07 tháng 6 năm 2017 đối với bị cáo:

Trần Ngọc T; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1986 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở: 1090 B, Phường Q, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 6/12; Con ông Trần Ngọc O (Sinh năm 1957) và bà Đồng Thị H (Sinh năm: 1957); Vợ: Nguyễn Thái D (Sinh năm 1990); Có 04 con, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại (Có mặt).

Người bị hại:

1. Anh Trần T; Sinh năm: 1998; Hộ khẩu thường trú: xã N, huyện Đ, tỉnh N; Chỗ ở: 261 N, Phường W, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

2. Anh Đỗ Ngọc L; Sinh năm: 1998; Hộ khẩu thường trú: Ấp B, xã V, thị xã L, tỉnh Đ; Chỗ ở: 261 N, Phường W, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Trương Đình T; Sinh năm: 1968; Hộ khẩu thường trú: 190/84 X, Phường W, Quận S, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

NHẬN THẤY:

Bị cáo Trần Ngọc T bị Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 truy tố hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 20/02/2017 Trần Ngọc T đến tiệm game bắn cá số 261 N, Phường Q, Quận A để chơi game. Khi đến nơi thấy không có ai, cửa tiệm mở hé nên T đi vào bên trong phát hiện anh Trần T1 và Đỗ Ngọc L là quản lý tiệm game đang ngủ, trên đầu nằm có cắm sạc pin điện thoại di động hiệu Sony Z3 và điện thoại di động hiệu Vivo V1 màu trắng nên T nảy sinh ý định chiếm đoạt đem bán lấy tiền tiêu xài. Thực hiện ý định trên T đến dùng tay lấy được 02 chiếc điện thoại nói trên đem đến tiệm mua bán điện thoại T số 829B H, Phường Q, Quận A cầm cho Trương Đình T2 được 2.500.000 đồng đã tiêu xài hết. Đến khoảng 11 giờ ngày 20/02/2017 anh T1 và anh L thức giấc phát hiện bị mất điện thoại nên kiểm tra camera của tiệm phát hiện Trần Ngọc T đến tiệm game có biểu hiện nghi vấn lấy trộm điện thoại nên in hình của T từ camera ra đến Công an phường 9 trình báo sự việc. Qua truy xét, Công an Phường 9 mời T về trụ sở làm việc, sau đó vụ việc chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 điều tra làm rõ.

Qua điều tra, Trương Đình T2 biết được điện thoại di động hiệu Sony Z3 và điện thoại di động hiệu Vivo V1 màu trắng cầm của Trần Ngọc T do phạm tội mà có nên đã giao nộp cho Công an xử lý.

Ngày 01/3/2017 Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sony Z3, màu goldrose có giá trị 2.000.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Vivo V1, màu trắng có giá trị 1.000.000. Tổng cộng: 3.000.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Ngày 27/3/2017 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 trao trả điện thoại cho anh Trần T1 và anh Đỗ Ngọc L và cả hai không yêu cầu bồi thường. Anh Trương Đình T2 yêu cầu bị cáo bồi thường 2.500.000 đồng.

Ngày 17/3/2017 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 khởi tố vụ án, khởi tố bị can và cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Trần Ngọc T về tội “Trộm cắp tài sản”. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận 8, Trần Ngọc T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên. Lời khai của T phù hợp với biên bản thu giữ vật chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng vụ án:

- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sony Z3, màu Goldrose, số IMEI: 355098063988401.

- 01 điện thoại di động hiệu Vivo V1, màu trắng, số số IMEI: 867744028899115.

Tại bản Cáo trạng số 215/CT-VKS ngày 06/6/2017 Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Trần Ngọc T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Trần Ngọc T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) và đề nghị xử phạt bị cáo từ 06 tháng đến 09 tháng tù.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu được thẩm tra tại phiên Tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên Tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Viện kiểm sát, bị cáo,

XÉT THẤY:

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai nhận hành vi của mình như đã nêu trên, phù hợp lời khai tại Cơ quan điều tra, người bị hại; tang vật đã thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ, xác định khoảng 08 giờ ngày 20/02/2017 tại tiệm game bắn cá số 261 N, Phường Q, Quận A, Trần Ngọc T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 02 chiếc điện thoại di động hiệu Sony Z3 và điện thoại di động hiệu Vivo V1 của anh Trần T1 và anh Đỗ Ngọc L. Theo kết quả định giá tài sản chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sony Z3, màu Goldrose có giá trị 2.000.000 đồng và điện thoại di động hiệu Vivo V1, màu trắng có giá trị 1.000.000. Tổng cộng: 3.000.000 đồng.

Như vậy, Hội đồng xét xử thấy đủ căn cứ xác định bị cáo Trần Ngọc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm hại đến quyền sở hữu của công dân được Nhà nước bảo vệ. Ngoài ra, còn gây ảnh hưởng xấu đến quản lý trật tự xã hội, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải xử lý bị cáo mức án nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định, nhằm giáo dục bị cáo sớm trở thành công dân tốt, làm ăn lương thiện khi hòa nhập cộng đồng, nhằm đảm bảo mục đích giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên, tại phiên tòa và trong quá trình điều tra vụ án, bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu, tài sản đã thu hồi trả người bị hại, gây thiệt hại không lớn, do đó Hội đồng xét xử áp dụng các điểm g, h, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng vụ án:

- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sony Z3, màu Goldrose, số IMEI: 355098063988401 và 01 điện thoại di động hiệu Vivo V1, màu trắng, số số IMEI: 867744028899115 đã trả lại chủ sở hữu là anh Trần T1 và anh Đỗ Ngọc L.

Về trách nhiệm dân sự:

Ngày 27/3/2017 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 trao trả điện thoại cho anh Trần T1 và anh Đỗ Ngọc L và cả hai không yêu cầu bồi thường, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Anh Trương Đình T2 là người cầm 02 điện thoại của bị cáo, do không biết tài sản do trộm cắp mà có đã yêu cầu bị cáo Trần Ngọc T bồi thường 2.500.000 đồng, tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thương theo yêu cầu người bị hại, do đó cần ghi nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật về án phí hình sự sơ thẩm vả dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc T phạm tội "Trộm cắp tài sản".

- Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm g, h, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).

Xử phạt bị cáo Trần Ngọc T 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

- Áp dụng Điều 42 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009); Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 228 Bộ luật dân sự năm 2015.

Buộc bị cáo Trần Ngọc T bồi thường cho anh anh Trương Đình T2 số tiền 2.500.000 đồng.

- Áp dụng Điều 98, 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Trần Ngọc Tiến nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí sân sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ