vanban.org

Bản án 231/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Thuận An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 25/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố các bị cáo: Võ Tuấn A, Trần Thị Anh Đ phạm tội “Đánh bạc”. Mức hình phạt: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 290 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THUẬN AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 231/2022/HS-ST
Ngày: 25 - 8 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phạm Anh Thi.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Thị Thu Yến.

Bà Lê Thị Thiện.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Tấn, Thƣ ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chiến - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 248/2022/TLST-HS ngày 11 tháng 8 năm 2022 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 253/2022/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 08 năm 2022 đối với các bị cáo:

1. Võ Tuấn A, sinh năm: 1968 tại tỉnh Phú Thọ; Nơi cƣ trú: khu phố T, phƣờng V, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Buôn bán; Con ông Võ Quang D (đã chết) và bà Hoàng Thị H (đã chết); Vợ Nguyễn Ngọc D và có 03 ngƣời con; Tiền án, tiền sự: Không.

2. Trần Thị Anh Đ, sinh năm: 1978 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cƣ trú: A khu phố L, phƣờng T, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh; tạm trú: khu phố T, phƣờng V, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng; Giới tính: Nữ; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Nội trợ; Con ông Trần Văn H (đã chết) và bà Lê Thị M; Chồng Phạm Anh N (đã chết) và có 02 ngƣời con; Tiền án, tiền sự: Không.

Các bị cáo đƣợc áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cƣ trú, đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Võ Tuấn A và Trần Thị Anh Đ quen biết nhau, Tuấn Anh thƣờng bán số đề các đài Miền Bắc, Miền Nam cho Đào thắng thua bằng tiền. Từ ngày 28/6/2017 đến ngày 04/7/2017, tại số A, khu phố T, phƣờng V, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng, Tuấn A sử dụng điện thoại di động Nokia 6300 màu vàng, sim số 0904388126 nhắn tin vào điện thoại di động Mobell M269 màu đen, sim số 0904351951 cho Đ để thực hiện mua, bán số đề, khi có kết quả sẽ tính tiền thắng thua. Cách thức ngƣời chơi mua 02 số hoặc 03 số gồm đầu đuôi, bao lô, số đá, số kéo, lô xiên, đài Miền Bắc có 27 lô, ngƣời chơi trúng đài Miền Bắc 02 số 1 điểm thắng 70.000 đồng, nếu bao lô 03 số 1 điểm 23.000 đồng; đài Miền Nam có 18 lô, ngƣời chơi trúng đài Miền Nam 02 số 1 điểm thắng 18.000 đồng, nếu bao lô 03 số 1 điểm 17.000 đồng, số kéo 3 số cũng tính nhƣ bao lô 3 số và nhân với tổng các số trong dãy số kéo, lô xiên tính tiền theo cặp trong các số mua. Tuấn A thu 80% trên số tiền mà Đ chơi số đề, sau khi nhận ghi số đề ngƣời chơi thì Tuấn A nhắn tin lại cho ngƣời tên T (chƣa rõ nhân thân, lai lịch) biết để đƣợc hƣởng 3% trên số tiền ngƣời chơi số đề bỏ ra cá cƣợc, thanh toán tiền trong ngày hoặc ngày hôm sau khi đã có kết quả, địa điểm Tuấn A thanh toán tiền cho T tại khu vực cầu V, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Quá trình điều tra, xác định đƣợc Võ Tuấn A và Trần Thị Anh Đ cá cƣợc với nhau dƣới hình thức số đề số tiền nhƣ sau:

- Ngày 28/6/2017, Võ Tuấn A bán số đề cho Trần Thị Anh Đ đài Cần Thơ 284.000 đồng, đài Đồng Nai số tiền 284.000 đồng, đài Hà Nội 2.000.000 đồng, kết quả không trúng. Tổng số tiền sử dụng đánh bạc đài Miền Nam 568.000 đồng, đài Miền Bắc (Hà Nội) 2.000.000 đồng.

- Ngày 29/6/2017, Võ Tuấn A bán số đề cho Trần Thị Anh Đ đài Tây Ninh 1.400.000 đồng, đài An Giang số tiền 560.00 đồng, đài Hà Nội 4.432.000 đồng, kết quả không trúng. Tổng số tiền sử dụng đánh bạc đài Miền Nam (Tây Ninh, An Giang) 1.960.000 đồng, đài Miền Bắc (Hà Nội) 4.432.000 đồng.

- Ngày 30/6/2017, Võ Tuấn A bán số đề cho Trần Thị Anh Đ đài Vĩnh Long 1.380.000 đồng, đài Bình Dƣơng 1.380.000 đồng, đài Hà Nội 4.216.000 đồng. Kết quả Đ trúng đài Hà Nội 2.800.000 đồng. Tổng số tiền sử dụng đánh bạc là đài Miền Nam 2.760.000 đồng, đài Miền Bắc (Hà Nội) 7.016.000 đồng.

- Ngày 01/7/2017, Võ Tuấn A bán số đề cho Trần Thị Anh Đ đài Thành phố Hồ Chí Minh 3.172.000 đồng, đài Long An là 1.552.000 đồng, đài Hà Nội 5.428.000 đồng. Kết quả Đ trúng đài Long An 2.100.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc đài Miền Nam 6.824.000 đồng và số tiền đài Miền Bắc (Hà Nội) 5.428.000 đồng.

- Ngày 02/7/2017, Võ Tuấn A bán số đề cho Trần Thị Anh Đ đài Tiền Giang là 1.984.000 đồng, đài Hà Nội 568.000 đồng, kết quả không trúng. Tổng số tiền sử dụng đánh bạc là đài Miền Nam 1.984.000 đồng, đài Miền Bắc 568.000 đồng.

- Ngày 03/7/2017, Võ Tuấn A bán số đề cho Trần Thị Anh Đ đài Hà Nội (Miền Bắc) là 4.320.000 đồng, kết quả Đ trúng 420.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc 4.740.000 đồng.

- Ngày 04/7/2017, Võ Tuấn A bán số đề cho Trần Thị Anh Đ đài Bến Tre 1.456.000 đồng, đài Bà Rịa-Vũng Tàu 2.220.000 đồng, đài Hà Nội 8.975.200 đồng. Kết quả Đ trúng đài Bà Rịa Vũng Tàu đƣợc 7.900.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc đài Miền Nam 11.576.000 đồng và đài Miền Bắc (Hà Nội) 8.975.200 đồng.

Bản Cáo trạng số 238/CT-VKS -TA ngày 08/8/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố các bị cáo:

Võ Tuấn A, Trần Thị Anh Đ về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An thay đổi một phần quyết định truy tố, cụ thể:

Về trách nhiệm hình sự:

Áp dụng khoản 1 Điều 248 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2009); điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58, 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Võ Tuấn A từ 12 đến 15 tháng tù, cho hƣởng án treo và bị cáo Trần Thị Anh Đ từ 09 đến 12 tháng tù, cho hƣởng án treo.

Về xử lý vật chứng:

Tịch thu, sung vào Ngân sách Nhà nƣớc 14.500.000 đồng của Võ Tuấn A và 02 điện thoại di động.

- Các bị cáo có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Nội dung đơn thể hiện các bị cáo thống nhất nội dung bản Cáo trạng đã truy tố về tội danh, khung hình phạt, không có ý kiến gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thuận An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và những ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Các bị cáo có đơn đề nghị xét xử vắng mặt là tự nguyện, không trái pháp luật, việc vắng mặt của các bị cáo không gây trở ngại cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo điểm c, d khoản 2 Điều 290 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án nhƣ biên bản phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, có đủ cơ sở kết luận:

Từ ngày 28/6/2017 đến ngày 04/7/2017, tại địa chỉ số A, khu phố T, phƣờng V, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng, Võ Tuấn A đánh bạc thắng thua bằng tiền hình thức mua, bán số đề các đài Miền Bắc, đài Miền Nam với Trần Thị Anh Đ, cụ thể: Ngày 28/6/2017, số tiền sử dụng đánh bạc đài Miền Nam là 568.000 đồng, đài Miền Bắc là 2.000.000 đồng; ngày 29/6/2017, đài Miền Nam là 1.960.000 đồng, đài Miền Bắc là 4.432.000 đồng; ngày 30/6/2017, đài Miền Nam là 2.760.000 đồng, đài Miền Bắc 7.016.000 đồng; ngày 01/7/2017, đài Miền Nam là 6.824.000 đồng, đài Miền Bắc là 5.428.000 đồng; ngày 02/7/2017, đài Miền Nam là 1.984.000 đồng, đài Miền Bắc 568.000 đồng; ngày 03/7/2017, đài Miền Bắc là 4.740.000 đồng; ngày 04/7/2017, đài Miền Nam là 11.576.000 đồng, đài Miền Bắc là 8.975.000 đồng. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”.

Về điều luật áp dụng:

Theo khoản 1 Điều 248 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2009) thì quy định khung hình phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm, theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì quy định khung hình phạt tù chỉ từ 06 tháng đến 03 năm. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 2 của Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc hội và khoản 3 Điều 7 của Bộ luật Hình sự năm 2015, áp dụng theo hƣớng có lợi cho bị cáo thì hành vi của bị cáo đƣợc áp dụng khoản 1 Điều 248 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2009).

Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An đã truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội.

Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo là ngƣời có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức đƣợc việc làm của mình là vi phạm nhƣng vì đam mê cờ bạc, các bị cáo rủ rê nhau dùng tiền để cá cƣợc thắng thua với nhau thông qua hình thức mua, bán số đề. Hành vi của các bị cáo trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất trật tự, trị an tại địa phƣơng, lỗi của các bị cáo là cố ý trực tiếp, do đó cần xử phạt các bị cáo với mức án tƣơng xứng nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Trong vụ án có vai trò đồng phạm nhƣng đồng phạm giản đơn, không có sự bàn bạc, phân công cụ thể nên vai trò ngang nhau. Tuy nhiên, bị cáo Anh là ngƣời bán, bị cáo Đào là ngƣời mua số đề nên vai trò của bị cáo Anh cao hơn nên phải chịu mức án cao hơn.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo phạm tội 02 lần trở lên là tình tiết tăng nặng theo điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có nhân thân tốt, hoàn cảnh khó khăn, bị cáo Đ nhiều lần đƣợc Ủy ban nhân dân phƣờng Vĩnh Phú, thành phố Thuận An tặng giấy khen vì có nhiều thành tích trong các hoạt động xã hội tại địa phƣơng là tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Các bị cáo có nơi cƣ trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, việc cho các bị cáo hƣởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hƣởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và hƣớng dẫn của Nghị quyết số 01/2022//NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 (sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/8/2018) của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, cho các bị cáo hƣởng án treo, tự cải tạo ở địa phƣơng.

Các bị cáo đều là ngƣời dân lao động, không thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền bổ sung.

Lời đề nghị mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với các bị cáo là có căn cứ nên chấp nhận.

Về xử lý vật chứng và biện pháp tƣ pháp: Quá trình điều tra, Cơ quan Điều tra thu giữ:

14.500.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 6300 màu vàng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mobell M269 sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nƣớc.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 248 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2009); - Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Các Điều 46, 47, 58, 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017); - Các Điều 106, 136; điểm c, d khoản 2 Điều 290 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; - Nghị quyết số 01/2022//NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 (sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/8/2018) của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; - Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố các bị cáo: Võ Tuấn A, Trần Thị Anh Đ phạm tội “Đánh bạc”.

Mức hình phạt:

1.1. Xử phạt bị cáo Võ Tuấn A 01 (một) năm tù, cho hƣởng án treo, thời gian thử thách là 02 năm, tính từ ngày tuyên án 25/8/2022.

1.2. Xử phạt bị cáo Trần Thị Anh Đ 09 (chín) tháng tù, cho hƣởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm 06 tháng, tính từ ngày tuyên án 25/8/2022.

Giao các bị cáo: Võ Tuấn A, Trần Thị Anh Đ cho Ủy ban nhân dân phƣờng Vĩnh Phú, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trƣờng hợp bị cáo thay đổi nơi cƣ trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019. Trong thời gian thử thách, nếu ngƣời đƣợc hƣởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự năm 2019 hai lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc ngƣời đó phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hƣởng án treo.

2. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

- Tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nƣớc: Số tiền 14.500.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia model 6300 màu vàng (kèm theo sim số 0904388126, số Imel 351876101/530011/2, pin bị phù) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mobell model M269 (kèm theo sim số 0904357951, Imel 812696060211724, pin bị phù), không kiểm tra đƣợc tình trạng bên trong và số sim điện thoại.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/8/2022 và Ủy nhiệm chi số 51 ngày 10/8/2022 giữa Công an và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An).

3. Về án phí:

Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc Bản án hoặc Bản án đƣợc niêm yết.

Cỡ chữ