vanban.org

Bản án 230/2018/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 07/06/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 07/06/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hoàng Việt A - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 33 Bộ luật Hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!
THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH!
!
Bản án số: 230/2018/HS-PT
Ngày: 07-6-2018

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Việt Tiên

Các Thẩm phán: 1/ Bà Lê Kim Loan

2/ Bà Nguyễn Thị Hà

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung - Thư ký Tòa án nhân

dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia

phiên tòa: Ông Trần Thanh Khánh - Kiểm sát viên.

Ngày 07/6/2018 tại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử

phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 166/2018/TLPT-HS

ngày 20 tháng 4 năm 2018 đối với bị cáo Nguyễn Hoàng Việt A. do có kháng

nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đối với Bản án

hình sự sơ thẩm số 15/2018/HSST ngày 13/3/2018 của Tòa án nhân dân Quận

2, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị cáo bị kháng nghị:

Nguyễn! Hoàng! Việt! A.! (Cóc);! sinh năm 1984 tại Thành phố Hồ Chí

Minh; Thường trú: Số X đường Y, ấp Z, Khu phố A, phường Thủ Thiêm,

Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Ấp Z2, xã Phú Đông, huyện Nhơn

Trạch, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Thợ hàn sắt; Trình độ học vấn: 9/12; dân

tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Hoàng T.

và mẹ Nguyễn Thị Phi Đ.; hoàn cảnh gia đình: Chưa có vợ, con; tiền sự:

Không.

Tiền án: Ngày 25/6/2008, bị Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh xử phạt

08 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (Bản án số 167/2008/HSST

ngày 25/6/2008),

Nhân thân:

- Ngày 28/10/2003, bị Tòa án nhân dân Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh

xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 93/HSST).

- Ngày 02/02/2005, bị Tòa án nhân dân Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh

xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 12/HSST).

Bị bắt, tạm giam từ ngày 13/11/2017 (Có mặt).

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội

dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 12/11/2017, Nguyễn Hoàng Việt A. điều khiển xe gắn máy

biển số 29M3-1114 đi từ Nhơn Trạch, Đồng Nai đến công trình xây dựng khu Lake View City, phường An Phú, Quận 2 để trộm cắp tài sản. Khi đến số nhà X3, đường số Y3, dừng xe quan sát xung quanh không có ai, bị cáo dựng xe trước cửa đi vào lên sảnh tầng trệt thấy 01 giỏ xách bằng nhựa, bên trong có 01 máy hàn hiệu Redbo màu đỏ; 01 máy khoan cầm tay hiệu Maktec màu đỏ; 01 máy khoan cầm tay hiệu Bosch màu xanh; 01 máy mài cầm tay hiệu DCA màu xanh; 01 máy mài cầm tay hiệu Bosch màu xanh; 01 dây kẹp hàn dài 1.9 mét và 01 dây que hàn dài 03 mét của anh Lê Gia S. mang ra xe chạy ra cổng bảo vệ trên đường Đỗ Xuân Hợp thì bị lực lượng bảo vệ nghi vấn nên yêu cầu kiểm tra, Việt A. bỏ lại giỏ xách quay xe bỏ chạy đến cổng số 1, đường Nguyễn Duy Trinh thì bị các bảo vệ chặn lại, Việt A. rút kim tiêm trong người ra hăm dọa: “Nếu vào bắt sẽ đâm”, anh Hồ Văn L. lao vào thì bị đâm trúng vào tay phải. Sau đó, Việt A. nhảy xuống sông Giồng Ông T. để tẩu thoát thì bị công an phường An Phú phố hợp cùng bảo vệ bắt giữ.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 2, Nguyễn Hoàng Việt A.

đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Ngoài ra, còn khai nhận vào ngày 11/11/2017 đã trộm một số tài sản gồm: 01 máy cắt cầm tay hiệu MaKiTa; 01 máy khoan cầm tay hiệu Bosch; 01 ổ cắm điện công nghiệp ba chấu của chị Phan Thị Thu Ng., tại số nhà X4 đường Y4 khu Lake View City, phường An Phú, Quận 2, bán cho 01 người đàn ông (không rõ lai lịch) ở Khu A công viên 23/9, phường Phạm Ngũ Lão, Quận 1 được 400.000 (bốn trăm ngàn) đồng tiêu xài hết.

Theo kết luận định giá tài sản số 276/HĐĐGTS-TCKH ngày 27/11/2017

của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân Quận 2, thì:

- 01 máy cắt cầm tay hiệu MaKiTa có giá 500.000 đồng;

- 01 máy khoan cầm tay hiệu Bosch màu xanh có giá 500.000 đồng;

- 01 ổ cắm điện công nghiệp ba chấu có giá 100.000 đồng;

- 01 máy hàn hiệu Redbo màu đỏ có giá 500.000 đồng;

- 01 máy khoan cầm tay hiệu Maktec màu đỏ có giá 800.000 đồng;

- 01 máy khoan cầm tay hiệu Bosch màu xanh có giá 900.000 đồng;

- 01 mày mài cầm tay hiệu DCA màu xanh có giá 600.000 đồng;

- 01 mày mài cầm tay hiệu Bosch màu xanh có giá 700.000 đồng;

- 01 dây kẹp hàn dài 1.9 mét có giá 40.000 đồng;

- 01 dây que hàn dài 03 mét có giá 60.000 đồng;

- 01 giỏ đệm bằng nhựa có giá 10.000 đồng.

Tổng tài sản mà Nguyễn Hoàng Việt A. chiếm đoạt có giá trị: 4.710.000

đồng.

Tiến hành xét nghiệm chất ma túy và xét nghiệm HIV tại Bệnh viện

Quận 2 đối với Việt A. có kết quả âm tính với HIV và dương tính đối với

Morphine (heroin).

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2018/HSST ngày 13/3/2018 của Tòa

án nhân dân Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng Việt A. phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm g, p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1

Điều 48; Điều 33 của Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Việt A. 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 13/11/2017.

Ngoài ra, bản án hình sự sơ thẩm còn tuyên về phần trách nhiệm dân sự,

án phí, quyền và thời hạn kháng cáo của bị cáo.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 05/4/2018, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân

dân Thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định kháng nghị phúc thẩm số 10/QĐ-

VK-P7 kháng nghị Bản án sơ thẩm số 15/2018/HSST ngày 13/3/2018 của Tòa

án nhân dân Quận 2 với nội dung: Kháng nghị một phần Bản án án hình sự sơ

thẩm số 15/2018/HSST ngày 13/3/2018 của Tòa án nhân dân Quận 2 do cấp

sơ thẩm truy tố, xét xử đối với bị cáo chưa đầy đủ, còn bỏ lọt hành vi “Hành

hung để tẩu thoát”, đây là tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Đề nghị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ

án theo hướng áp dụng tình tiết định khung “Hành hung để tẩu thoát” theo

quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ

sung năm 2009) và sửa bản án sơ thẩm theo hướng tăng hình phạt đối với bị

cáo theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 355; điểm a khoản 2 Điều 357 Bộ

luật Tố tụng hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Ngày 26/3/2018, bị cáo Việt A. kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Việt A. khai nhận hành vi phạm tội của

mình như nội dung bản án sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo và xin Hội đồng

xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh kết luận vụ

án:

Căn cứ nội dung vụ án, tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của

bị cáo và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đủ căn cứ xác định bị cáo phạm tội như bản án sơ thẩm đã xét xử. Tuy nhiên, Viện kiểm sát cho rằng cấp sơ thẩm chưa truy tố, xét xử đối với bị cáo về hành vi rút kim tiêm trong người đe dọa và đâm vào tay của anh Hồ Văn L. là bảo vệ khi bị đuổi bắt là chưa đầy đủ, còn bỏ lọt hành vi “Hành hung để tẩu thoát”, vì đây là tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009).

Do đó, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận

kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xem xét áp dụng tình tiết định khung “hành hung để tẩu thoát” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) và sửa bản án sơ thẩm theo hướng tăng hình phạt đối với bị cáo theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 355; điểm a khoản 2 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Việt A. từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Đối với kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, Viện kiểm sát cho

rằng mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm là quá nhẹ so với hành vi phạm tội của bị cáo và tại phiên tòa, bị cáo cũng không xuất trình thêm được tình tiết giảm nhẹ nào mới do đó đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà phúc

thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!!

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai người bị hại kết

hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã được Cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án xét đã có đủ cơ sở pháp lý kết luận bị cáo Việt A. vào sáng ngày 12/11/2017, đã điều khiển xe gắn máy biển số 29M3-1114 đến công trình xây dựng khu Lake View City, phường An Phú, Quận 2 để trộm cắp tài sản, gồm 01 máy hàn hiệu Redbo màu đỏ; 01 máy khoan cầm tay hiệu Maktec màu đỏ; 01 máy khoan cầm tay hiệu Bosch màu xanh; 01 máy mài cầm tay hiệu DCA màu xanh; 01 máy mài cầm tay hiệu Bosch màu xanh; 01 dây kẹp hàn dài 1.9 mét và 01 dây que hàn dài 03 mét của anh Lê Gia S. Và trên đường tẩu thoát, bị cáo Việt A. bị các bảo vệ chặn lại, bị cáo rút kim tiêm trong người ra hăm

dọa: “Nếu vào bắt sẽ đâm”, khi anh Hồ Văn L. lao vào thì bị cáo đã đâm trúng

vào tay phải anh L. để tìm cách tẩu thoát.

[2] Với hành vi như đã nêu trên của bị cáo Việt A., xét thấy Tòa án cấp

sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo Điều 138 của Bộ luật

hình sự là có cơ sở, đúng người, đúng tội.

[3] Sau khi xét xử sơ thẩm, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành

phố Hồ Chí Minh ra Quyết định kháng nghị, kháng nghị Bản án sơ thẩm số

15/2018/HSST ngày 13/3/2018 của Tòa án nhân dân Quận 2. Quyết định

kháng nghị trong hạn luật định là hợp lệ.

[4] Xét nội dung Quyết định kháng nghị, Hội đồng xét xử xét thấy:

Bị cáo Việt A. sau khi đã trộm cắp được tài sản, bị cáo đã bị bảo vệ phát

hiện và bao vây bắt giữ, bị cáo đã có hành vi dùng kim tiêm đâm vào tay của

anh L. (bảo vệ) đang bắt giữ bị cáo nhằm tẩu thoát. Hành vi phạm tội của bị

cáo Việt A. thuộc trường hợp “hành hung để tẩu thoát” theo quy định tại điểm

đ khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).

Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm không áp dụng tình tiết định khung tăng nặng theo

điểm đ khoản 2 Điều 138 đối với bị cáo Việt A. là thiếu sót.

Do đó, chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ

Chí Minh và sửa bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân Quận 2.

[5] Xét nội dung đơn kháng cáo, Hội đồng xét xử xét thấy sau khi xét xử

sơ thẩm và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không xuất trình thêm được tình tiết

nào mới để Hội đồng xét xử xem xét. Do đó, không chấp nhận kháng cáo của

bị cáo.

[6] Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm

hình theo điểm g khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự, tuy nhiên không ghi rõ nội

dung lý do áp dụng tình tiết này trong bản án. Do vậy, đề nghị Tòa án cấp sơ

thẩm xem xét rút kinh nghiệm.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng

nghị đã có hiệu lực pháp luật.

Vì các lẽ trên,

!

QUYẾT!ĐỊNH:!

!

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm a khoản 2 Điều 357 của Bộ!

luật Tố tụng hình sự năm 2015.

1. Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí

Minh và sửa bản án sơ thẩm và không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng Việt A. (Cóc) phạm tội “Trộm cắp tài

sản”.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 138 của Bộ luật hình sự năm 1999, điểm

g, p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 33 của Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Việt A. 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính

từ ngày 13/11/2017.

2. Bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự phúc

thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không

có kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ