- Tranh chấp gì? "LÊ NGỌC BÍCH NGUYÊN - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 322 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1/ Tuyên bố: Bị cáo Lê Ngọc Bích N phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
TOØA AÙN NHAÂN DAÂN COÄNG HOØA XAÕ HOÄI CHUÛ
NGHÓA VIEÄT NAM THAØNH PHOÁ PHAN THIEÁT
Ñoäc laäp – Töï do – Haïnh phuùc
TÆNH BÌNH THUAÄN Baûn aùn soá: 23/2023/HSST Ngaøy: 17/01/2023
NHÂN DANH
NUỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Lưu Triều
Các hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lê Thị Phương Anh
2. Ông Võ Huy Luận
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Biện Anh Huy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết: Bà Lê thị Hải Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 01 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 261/2022/HSST ngày 30 tháng 11 năm 2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2023/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 01 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Lê Ngọc Bích N ; Giới tính: Nữ, Sinh năm: 1983 tại Bình Thuận, Nơi cư trú: Khu phố 3, phường Phú T, thành phố Phan T, tỉnh Bình T Dân tộc: Kinh, Quốc tịch: Việt Nam, Tôn giáo: Không, Trình độ học vấn: 12/12;
Nghề nghiệp: Buôn bán, Cha: Ông Lê Ngọc S, sinh năm 1961, Mẹ: Bà Lê Thị Bích H, sinh năm 1961, Hiện cùng trú tại khu phố 4, phường Bình H, thành phố Phan T, tỉnh Bình Thuận, Chồng: Trần Văn T, sinh năm 1982, Con: Có 02 con. Lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2013, Hiện cùng trú tại khu phố 3, phường Phú T, thành phố Phan T, tỉnh Bình Thuận, Anh, em ruột: Có 03 người, bị can là con thứ nhất trong gia đình, Tiền án, tiền sự: Không, Hoạt động nhân thân: Không, bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.
2. Văn Tấn T; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1982 tại Bình Thuận; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu phố 4, phường Phú T, thành phố Phan T, tỉnh Bình Thuận; Nơi tạm trú: Khu phố 8, phường Bình H, thành phố Phan T, tỉnh Bình Thuận; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Giáo viên; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Trưởng phòng đào tạo; Ủy viên ban chấp hành Đảng bộ; Bí thư chi bộ 1 trường Cao đẳng y tế Bình Thuận; Cha: Ông Văn Tấn K (đã chết); Mẹ: Bà Đặng Thị C, sinh năm 1954; Hiện trú tại khu phố 4, phường Phú T, thành phố Phan T, tỉnh Bình Thuận; Vợ: Trần Thị Bích T, sinh năm 1987; Con: Có 02 con. Lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2009; Hiện cùng trú tại khu phố 8, phường Bình H, thành phố Phan T, tỉnh Bình Thuận; Anh, em ruột: Có 03 người, bị can là con thứ hai trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không; Hoạt động nhân thân: Không; Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.
3. Trần L; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1979 tại Bình Thuận; Nơi cư trú: Khu phố 1, phường Hưng L, thành phố Phan T, tỉnh Bình Thuận; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Thợ điện; Cha: Ông Trần T, sinh năm 1953; Mẹ: Nguyễn Thị M, sinh năm 1957; Vợ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1979; Con: Có 02 con. Lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2007; Hiện cùng trú tại khu phố 1, phường Hưng L, thành phố Phan T, tỉnh Bình Thuận; Anh, em ruột: Có 03 người, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không; Hoạt động nhân thân: Không; Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.
4. Nguyễn Trúc Q; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1979 tại Bình Thuận; Nơi cư trú: Khu phố 3, phường Phú T, thành phố Phan T, tỉnh Bình Thuận; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12;
Nghề nghiệp: Nhân viên tiếp thị; Cha: Ông Nguyễn S, sinh năm 1946; Mẹ: Bà Nguyễn Thị Thanh U, sinh năm 1951; Hiện cùng trú tại khu phố 3, phường Phú T, thành phố Phan T, tỉnh Bình Thuận; Vợ: Võ Thị Bích H, sinh năm 1984; Con: Có 02 con. Lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2020; Hiện cùng trú tại khu phố 3, phường Phú Tài, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận; Anh, em ruột: bị can là con duy nhất trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không; Hoạt động nhân thân: Không; Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.
5. Trịnh Văn T; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1981 tại Quãng Ngãi; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xã Hành Tín Đ, huyện Nghĩa H, tỉnh Quãng Ngãi; Nơi tạm trú: Thôn Tầm H, thị trấn Ma L, huyện Hàm T B, tỉnh Bình Thuận; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Kinh doanh; Cha: Ông Trịnh Văn H, sinh năm 1957; Mẹ: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1943; Hiện cùng trú tại xã Hành Tín Đ, huyện Nghĩa H, tỉnh Quãng Ngãi; Vợ: Nguyễn Võ Huyền D, sinh năm 1992; Con: Có 02 con. Lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2018; Hiện trú tại thôn Tầm H, thị trấn Ma L, huyện Hàm T B, tỉnh Bình Thuận; Anh, em ruột: Có 02 người, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không; Hoạt động nhân thân: Không; Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN
Theo cáo trạng, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Ngọc Bích N là chủ quán cà phê Trung N trên đường Tôn Thất B thuộc khu phố 1, phường Phú T, thành phố Phan T. Từ khoảng tháng 05/2022, ngoài bán đồ uống cho khách, N còn để cho khách đánh bạc được thua bằng tiền tại quán với mục đích thu hút khách đến quán và bán được nhiều đồ uống hơn. Khi khách đánh bạc tại quán, N sẽ cung cấp các bộ bài, cờ cá ngựa, phục vụ cơm và nước uống cho khách chơi đánh bạc.
Như thường lệ, khoảng 08 giờ ngày 09/6/2022, N mở cửa quán bán đồ uống cho khách. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, Hoàng Minh H, Trang Hoài Linh Lương T P, Nguyễn Tuấn A đến quán của N uống nước rồi rủ nhau đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức chơi cờ cá ngựa.
Cách thức chơi và quy ước thắng, thua: H, L, T, A cùng quy ước: Mỗi người chơi (con bạc) sẽ chọn 01 trong 04 phần trên bàn cờ, nhận 4 Q cờ hình đầu con ngựa có màu sắc tương ứng với màu sắc đã chọn trên bàn cờ. Tiếp đến, 01 trong 04 con bạc sẽ tung 02 viên xúc xắc để lấy “quyền ra quân” (quyền ra Q xảy ra khi tung xúc xắc được mặt một và mặt sáu hoặc một trong các cặp mặt: Một, hai, ba, bốn, năm, sáu. Nếu con bạc tung xúc xắc không ra kết quả trên thì quyền ra Q thuộc về con bạc khác). Khi có quyền ra quân, con bạc sẽ di chuyển Q cờ của mình số ô tương ứng với kết quả đã tung xúc xắc, sau đó tung thêm 01 lượt xúc xắc nữa để tiếp tục di chuyển Q cờ. Ở lượt tung xúc xắc này, nếu con bạc tung xúc xắc có kết quả giống với kết quả “quyền ra quân” thì con bạc được thêm 01 lượt tung xúc xắc. Nếu kết quả khác thì sau khi di chuyển Q cờ theo kết quả đã tung, quyền ra Q và quyền di chuyển Q cờ thuộc về con bạc khác.
Khi 01 Q cờ của 01 con bạc bất kỳ di chuyển được một vòng quanh bàn cờ, đã về đến cửa chuồng, ở lượt tung xúc xắc tiếp theo để vào chuồng, nếu kết quả Q cờ sau khi di chuyển mà khoảng cách với 01 Q cờ của 01 trong 03 con bạc bất kỳ đúng bằng 01 ô thì gọi là bị “đá”. Con bạc bị “đá” phải chung cho con bạc “đá” 10.000 đồng. Nếu kết quả Q cờ sau khi di chuyển đi vào ô số 6 đầu tiên (nghĩa là trước đó chưa có con bạc nào có kết quả lắc tung xúc xắc làm Q cờ của mình đi đúng vào ô số 6) thì gọi là “thầu mạ”. Lúc này, 03 con bạc còn lại, mỗi con bạc chung cho con bạc có “thầu mạ” 40.000 đồng. Nếu kết quả Q cờ sau khi di chuyển đi vào ô số 1 đầu tiên (nghĩa là trước đó chưa có con bạc nào có kết quả lắc tung xúc xắc làm Q cờ của mình đi đúng vào ô số 1) thì gọi là “sập hầm”. Con bạc “sập hầm” phải chung cho 03 còn lại, mỗi con bạc 40.000 đồng. Với cách thức chơi trên, quá trình đánh bạc sau đó, con bạc nào có Q cờ về chuồng tiếp theo (có thể là Q cờ về chuồng đầu tiên của con bạc này nhưng là Q cờ về chuồng thứ hai hoặc ba của con bạc khác) thì 03 con bạc còn lại phải chung cho con bạc này 20.000 đồng. Ván bạc kết thúc khi 01 trong 04 con bạc có 04 Q cờ về chuồng hết. Lúc này, 03 con bạc còn lại mỗi con bạc phải chung cho con bạc thắng 40.000 đồng.
Quá trình đánh bạc, H, L, T, A thống nhất bỏ 10.000 đồng sát bên chiếu bạc khi có “thầu mạ” để lấy tiền trả tiền nước uống, tiền bài, tiền cơm cho N .
Đến khoảng 14 giờ ngày 9/6/2022, Văn Tấn T, Trần L, Nguyễn Trúc Q và Trịnh Văn T đến quán của N uống nước rồi rủ nhau đánh bạc được thua bằng tiền bằng hình thức chơi bài phỏm.
Hình thức đánh và quy ước thắng thua: T, L, Q, T quy ước: Người chia bài sẽ dùng 01 bộ bài 52 lá chia bài cho mình và 03 con bạc theo hướng ngược chiều kim đồng hồ. Người chia bài được chia lá bài đầu tiên cho mình và được 10 lá, 03 con bạc còn lại được chia 09 lá. Số bài còn lại để thành một chồng (gọi là “bài nọc”). Với số bài được chia, các con bạc đánh bài xoay vòng theo hướng bài đã chia. Vòng thứ nhất, con bạc có 10 lá bài sẽ đánh 01 lá bài rác của mình xuống chiếu bạc cho con bạc ngồi sát bên (con bạc thứ 2). Con bạc đánh thứ 2 sẽ “ăn” lá bài đó nếu hợp thành một phỏm với bài có trên tay. Nếu lá bài đó không hợp tạo phỏm thì con bạc thứ 2 sẽ bốc 01 lá bài từ “bài nọc”. Sau khi “ăn bài” hoặc “bốc bài”, con bạc thứ hai đánh 01 lá bài rác của mình xuống chiếu bạc cho con bạc thứ ba kề bên. Con bạc thứ ba và con bạc thứ tư thực hiện các bước tương tự như con bạc thứ nhất và thứ hai. Khi con bạc thứ tư đánh 01 lá bài rác của mình xuống chiếu bạc cho con bạc đánh đầu thì vòng thứ nhất kết thúc. Con bạc nào bị “ăn” lá bài ở vòng này thì chung cho con bạc đã “ăn” 20.000 đồng.
Vòng thứ 2 và vòng thứ 3, 04 con bạc lại thực hiện tương tự như ở vòng thứ nhất. Trong đó, khi vòng thứ 2 kết thúc, con bạc nào bị “ăn” tiếp ở lá bài thứ hai thì chung cho con bạc đã “ăn” 40.000 đồng. Nếu con bạc chỉ bị ăn ở lá bài thứ 2 (tức không bị “ăn” ở lá bài thứ nhất) thì chung cho con bạc đã “ăn” 20.000 đồng. Tại vòng thứ 3, nếu con bạc nào bị “ăn” lá bài thứ ba (tức không bị “ăn” ở lá bài thứ nhất và thứ hai) thì chung cho con bạc đã “ăn” 60.000 đồng; nếu con bạc nào bị “ăn” liên tiếp 03 lá bài ở cả 03 vòng thì chung cho 03 con bạc, mỗi con bạc 100.000 đồng đối với “ù 09 lá bài” (tức có 03 phỏm và 01 lá bài lẻ), tổng cộng chung là 420.000 đồng hoặc chung cho 03 con bạc, mỗi con bạc 200.000 đồng đối với “ù tròn” (tức có 03 phỏm, không có lá bài rác), tổng cộng chung là 720.000 đồng. Ván bạc sẽ kết thúc ở đây.
Ván bạc còn kết thúc ở 01 dạng khác: Khi qua đủ 04 vòng đánh. Lúc này, nếu con bạc nào có bài “ù” thì 03 con bạc còn lại, mỗi con bạc phải chung 100.000 đồng cho con bạc “ù 09 lá bài” hoặc chung 200.000 đồng cho con bạc “ù tròn”. Nếu không có ai “ù” thì 04 con bạc cùng hạ bài để tính điểm đối với các lá bài rác có trong tụ bài của mình. Theo đó, các lá bài có số thì tính điểm theo số; các lá bài có hình thì J tính 11 điểm, Q tính 12 điểm, K tính 13 điểm; A tính 01 điểm. Sau khi cộng điểm bài rác, con bạc có điểm thất nhất sẽ được con bạc có điểm cao nhất chung 60.000 đồng; con bạc có điểm cao thứ hai chung 40.000 đồng; con bạc có điểm cao thứ ba chung 20.000 đồng; con bạc không có phỏm (hay còn gọi là cháy bài) chung 80.000 đồng.
Ván bạc tiếp theo, con bạc thắng bạc ở ván trước sẽ được làm người chia bài và được chia 10 lá, 03 con bạc còn lại được chia 09 lá. Sau khi chia bài xong, con bạc đã chia bài sẽ đánh trước rồi xoay vòng đến 03 còn bạc còn lại với cách đánh tương tự như ván thứ nhất.
Qúa trình đánh bạc, L, T, Q, T thống nhất khi con bạc nào có bài “ù” thì bỏ 20.000 đồng vào hũ giấy gần sòng (không xác định được của ai) để trả tiền nước uống, tiền bài, tiền cơm cho N .
Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, khi T, L, Q, T đang đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức đánh bài phỏm; H, L, P, A đang đánh bạc được thu bằng tiền dưới hình thức chơi cờ cá ngựa tại quán của N thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội - Công an thành phố Phan Thiết phối hợp với Công an phường Phú Tài bắt quả tang.
Vật chứng của vụ án:
- Thu giữ tại sòng đánh bạc bằng hình thức chơi bài phỏm:
+ Trên chiếu bạc: 8.500.000 đồng; 01 bộ bài tây; 01 hũ giấy, bên trong có 100.000 đồng (đây là tiền mà T, L, T, Q để vào hũ khi có bài “ù”).
+ Trên người các con bạc: Trần L 8.000.000 đồng; Trịnh Văn T 7.500.000 đồng và 01 xe ô tô biển số 86A – 087.43.
- Thu giữ tại sòng đánh bạc bằng hình thức chơi cờ cá ngựa:
+ Tiền trên chiếu bạc: 2.490.000 đồng; 01 bộ cờ cá ngựa.
+ Thu giữ gần chiếu bạc: 140.000 đồng, đây là tiền mà H, L, P, A bỏ ra khi có “thầu mạ”.
+ Trên người các con bạc: Trang Hoài L 2.500.000 đồng; Nguyễn Tuấn A 3.400.000 đồng.
- Thu giữ của Lê Ngọc Bích N : 01 điện thoại di động hiệu Samsung A50S và 2.000.000 đồng, N khai số tiền trên là tiền N bán hàng trong ngày.
Kết quả điều tra, xác định các con bạc có hành vi đánh bạc với số tiền đánh bạc như sau:
Đối với sòng bạc đánh bài phỏm:
1. Trần L mang theo 10.640.000 đồng, dùng 2.640.000 đồng để đánh nhiều ván bạc, thắng 2.050.000 đồng; bỏ vào hũ 40.000 đồng. Bị lực lượng Công an thu giữ trên chiếu bạc nơi L ngồi 4.650.000 L, đây là tiền L dùng vào mục đích đánh bạc; bị thu giữ trên người 8.000.000 đồng, đây là tiền cá nhân của Lai.
2. Văn Tấn T bị lực lượng Công an thu giữ trên chiếu bạc nơi T ngồi 2.700.000 đồng. Quá trình điều tra, ban đầu T khai ngày 09/6/2022, T dùng 2.920.000 đồng để đánh bài phỏm, thua 200.000 đồng; bỏ vào hũ 20.000 đồng. Sau đó T thay đổi lời khai, khai chỉ dùng 900.000 đồng đánh bạc, thua 200.000 đồng; 2.000.000 đồng còn lại, T dùng vào mục đích cá nhân khác. Tuy nhiên, căn cứ vào Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai ban đầu và bản tự khai của T, lời khai của con bạc khác, xác định ngày 09/6/2022, T dùng số tiền 2.920.000 đồng để đánh bạc.
3. Trịnh Văn T mang theo 8.700.000 đồng, dùng 1.700.000 đồng để đánh nhiều bạc, thua 1.150.000 đồng. Bị lực lượng Công an thu giữ trên chiếu bạc nơi T ngồi 50.000 đồng; thu giữ trên người T 7.500.000 đồng, trong đó có 500.000 là tiền dùng vào mục đích đánh bạc, 7.000.000 đồng còn lại là tiền cá nhân của Thuận.
4. Nguyễn Trúc Q mang theo 1.840.000 đồng để đánh nhiều ván bạc, thua 700.000 đồng; bỏ vào hũ 40.000 đồng. Bị lực lượng Công an thu giữ trên chiếu bạc nơi Q ngồi 1.100.000 đồng.
Như vậy tổng số tiền dùng đánh bạc của sòng bạc đánh bài phỏm là 9.100.000 đồng.
* Đối với sòng bạc đánh cờ cá ngựa:
1. Hoàng Minh H mang theo 300.000 đồng để đánh nhiều ván bạc, thắng 230.000 đồng. Bị lực lượng Công an thu giữ trên chiếu bạc nơi Hải ngồi 530.000 đồng.
2. Trang Hoài L mang theo 3.000.000 đồng, dùng 500.000 đồng để đánh nhiều ván bạc, thắng 860.000 đồng. Bị lực lượng Công an thu giữ trên chiếu bạc nơi L ngồi 1.360.000 đồng, đây là tiền L dùng để đánh bạc; bị thu giữ trên người 2.500.000 đồng, đây là tiền cá nhân của L.
3. Lương T P mang theo 300.000 đồng để đánh nhiều ván bạc, thua 100.000 đồng. Bị lực lượng Công an thu giữ trên chiếu bạc nơi P ngồi 200.000 đồng.
4. Nguyễn Tuấn A mang theo 3.800.000 đồng, dùng 400.000 đồng để đánh nhiều ván bạc. Bị lực lượng Công an thu giữ trên chiếu bạc nơi A ngồi 400.000 đồng, đây là tiền A dùng để đánh bạc; bị thu giữ trên người 3.400.000 đồng, đây là tiền cá nhân của A.
Tiền H, L, P, A bỏ vào sát bên chiếu bạc khi có bài “thầu mạ”: 140.000 đồng.
Như vậy, tổng số tiền dùng đánh bạc của sòng bạc cờ cá ngựa là 2.630.000 đồng.
Xử lý vật chứng:
+ 01 bộ bài tây, 01 hũ giấy, 100.000 đồng thu giữ trong hũ giấy và 8.500.000 đồng thu giữ trên chiếu bạc của sòng phỏm; 01 bộ cờ cá ngựa và 140.000 đồng thu giữ của sòng cá ngựa; 500.000 đồng thu giữ trên người Trịnh Văn T; 8.000.000 đồng thu giữ của Trần L và 7.000.000 đồng thu giữ của Trịnh Văn T, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã ra Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết bảo quản, chờ xử lý.
+ Đối với số tiền 2.490.000 đồng thu giữ trên sòng cá ngựa, gồm 530.000 đồng thu giữ của Hoàng Minh H; 1.360.000 đồng thu giữ của Trang Hoài L; 200.000 đồng thu giữ của Lương T P; 400.000 đồng thu giữ của Nguyễn Tuấn A: Đây là tiền mà H, L, P, A dùng để đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Phan Thiết tịch thu sung ngân sách Nhà nước theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định pháp luật.
+ 2.500.000 đồng thu giữ của Trang Hoài L; 3.400.000 đồng thu giữ của Nguyễn Tuấn A, đây là tiền mà L và A mang theo trên người nhưng không có căn cứ chứng minh đã sử dụng hoặc sẽ sử dụng vào việc đánh bạc nên Cơ quan điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại tiền cho các đương sự trên là đúng quy định pháp luật.
+ 01 xe ô tô biển số 86A – 087.43 thu giữ của Trịnh Văn T, đây là tài sản của ông Đặng Phúc S và bà Nguyễn Thị Thanh L, cho T thuê để làm phương tiện đi lại từ ngày 14/5/2022. Do tài sản này không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra trả lại cho ông Sinh là đúng quy định pháp luật.
+ Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung A50S và 2.000.000 đồng thu giữ của Lê Ngọc Bích N , do các tài sản này không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra trả lại cho N là đúng quy định pháp luật.
Cáo trạng số 273/CT-VKS ngày 29 tháng 11 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết truy tố bị cáo Lê Ngọc Bích N về tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 322 của Bộ luật hình sự. Truy tố các bị cáo Văn Tấn T, Trần L, Nguyễn Trúc Q, Trịnh Văn T về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận của bị cáo và các chứng cứ tại phiên tòa hôm nay đủ cơ sở kết luận, hành vi của bị cáo Lê Ngọc Bích N về tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 322 của Bộ luật hình sự. Truy tố các bị cáo Văn Tấn T, Trần L, Nguyễn Trúc Q, Trịnh Văn T về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50 Bộ luật hình sự. Xử bị cáo Lê Ngọc Bích N nộp phạt từ 50.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng.
Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50 Bộ luật hình sự. Xử bị cáo Văn Tấn T nộp phạt từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm s, i khoản 1 Điều 51; Điều 50 Bộ luật hình sự. Xử bị cáo Trần L nộp phạt từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm s, i khoản 1 Điều 51; Điều 50 Bộ luật hình sự. Xử bị cáo Nguyễn Trúc Q nộp phạt từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm s, i khoản 1 Điều 51; Điều 50 Bộ luật hình sự. Xử bị cáo Trịnh Văn T nộp phạt từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:
+ Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tây, 01 hũ giấy, 01 bộ cờ cá ngựa.
+ Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 500.000 đồng thu giữ trên người Trịnh Văn T, 100.000 đồng thu giữ trong hũ giấy, 8.500.000 đồng thu giữ trên chiếu bạc của sòng phỏm và 140.000 đồng thu giữ của sòng cá ngựa là số tiền dùng vào việc đánh bạc.
+ Tiếp tục tạm giữ 8.000.000 đồng thu giữ của Trần L và 7.000.000 đồng thu giữ của Trịnh Văn T để đảm bảo việc thi hành án.
+ Đối với số tiền 2.490.000 đồng thu giữ trên sòng cá ngựa, gồm 530.000 đồng thu giữ của Hoàng Minh H; 1.360.000 đồng thu giữ của Trang Hoài L; 200.000 đồng thu giữ của Lương T P; 400.000 đồng thu giữ của Nguyễn Tuấn A: Đây là tiền mà H, L, P, A dùng để đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Phan Thiết tịch thu sung ngân sách Nhà nước theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định pháp luật.
+ 2.500.000 đồng thu giữ của Trang Hoài L; 3.400.000 đồng thu giữ của Nguyễn Tuấn A, đây là tiền mà L và A mang theo trên người nhưng không có căn cứ chứng minh đã sử dụng hoặc sẽ sử dụng vào việc đánh bạc nên Cơ quan điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại tiền cho các đương sự trên là đúng quy định pháp luật.
+ 01 xe ô tô biển số 86A – 087.43 thu giữ của Trịnh Văn T, đây là tài sản của ông Đặng Phúc S và bà Nguyễn Thị Thanh L cho T thuê để làm phương tiện đi lại từ ngày 14/5/2022. Do tài sản này không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra trả lại cho ông S là đúng quy định pháp luật.
+ Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung A50S và 2.000.000 đồng thu giữ của Lê Ngọc Bích N , do các tài sản này không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra trả lại cho N là đúng quy định pháp luật.
Nói lời sau cùng: Các bị cáo xác định cáo trạng truy tố là đúng không oan, các bị cáo không tranh luận gì, thống nhất với quan điểm luận tội của Viện kiểm sát và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Phan Thiết, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an thành phố Phan Thiết, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai báo và xuất trình các chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Về căn cứ buộc tội bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu, bị cáo thừa nhận cáo trạng truy tố là đúng, không oan. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án nên đủ cơ sở kết luận: Lê Ngọc Bích N vì muốn lôi kéo khách đến quán cà phê của mình uống nước nên N đã sử dụng bàn, ghế của quán làm nơi đánh bạc, cung cấp các bộ bài tây và các bộ cờ cá ngựa, phục vụ cơm và nước uống cho các con bạc đến quán đánh bạc được thua bằng tiền. Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 09/6/2022, tại quán của N có hai sòng bạc đang đánh bạc được thua bằng tiền, gồm: Hoàng Minh H, Trang Hoài L, Lương T P, Nguyễn Tuấn A đang đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức chơi cờ cá ngựa với số tiền dùng vào việc đánh bạc là 2.630.000 đồng; Văn Tấn T, Trần L, Nguyễn Trúc Q, Trịnh Văn T đang đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức đánh bài phỏm với số tiền dùng vào việc đánh bạc là 9.100.000 đồng thì bị Đội Cảnh sát hình sự - Công an thành phố Phan Thiết phối hợp với Công an phường Phú Tài bắt quả tang.
Hành vi cung cấp các bộ bài tây, cờ cá ngựa, phục vụ nước uống, sử dụng bàn, ghế của quán làm nơi đánh bạc được thua bằng tiền trong cùng một lúc mà tổng số tiền dùng để đánh bạc là 11.730.000 đồng của Lê Ngọc Bích N đã phạm vào tội “Tổ chức đánh bạc” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự.
Các bị cáo Văn Tấn T, Trần L, Nguyễn Trúc Q, Trịnh Văn T đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức đánh bài phỏm, thuộc trường hợp nhiều người cùng tham gia đánh bạc với nhau nên các bị cáo phải cùng chịu trách nhiệm hình sự đối với số tiền dùng vào việc đánh bạc là 9.100.000 đồng, là tình tiết định khung hình phạt về tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
- Về nhân thân: Các bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự.
- Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, khi phạm tội có nhân thân tốt nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Các bị cáo Văn Tấn T, Trần L, Nguyễn Trúc Q, Trịnh Văn T phạm tội lần đầu và thuộc trường ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Lê Ngọc Bích N được địa phương xác nhận hiện đang nuôi 02 con nhỏ, chồng bị bệnh về mắt và là lao động chính trong gia đình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo Trần L được địa phương xác nhận hiện đang nuôi 03 con nhỏ là lao động chính trong gia đình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Văn Tấn T được Chủ tịch UBND tỉnh Bình T tặng bằng khen do có thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua yêu nước, các năm học 2019 – 2020, 2020 – 2021; 02 năm liền được Hiệu trưởng trường Cao đẳng y tế Bình T công nhận là chiến sỹ thi đua nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Hình phạt: Trên cơ sở cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của từng bị cáo. Hội đồng xét xử nhận thấy, cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra theo quy định của Bộ luật hình sự để đảm bảo công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:
+ Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tây, 01 hũ giấy, 01 bộ cờ cá ngựa.
+ Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 500.000 đồng thu giữ trên người Trịnh Văn Thuận, 100.000 đồng thu giữ trong hũ giấy, 8.500.000 đồng thu giữ trên chiếu bạc của sòng phỏm và 140.000 đồng thu giữ của sòng cá ngựa là số tiền dùng vào việc đánh bạc.
+ Tiếp tục tạm giữ 8.000.000 đồng thu giữ của Trần L và 7.000.000 đồng thu giữ của Trịnh Văn T để đảm bảo việc thi hành án.
+ Đối với số tiền 2.490.000 đồng thu giữ trên sòng cá ngựa, gồm 530.000 đồng thu giữ của Hoàng Minh H; 1.360.000 đồng thu giữ của Trang Hoài L; 200.000 đồng thu giữ của Lương T P; 400.000 đồng thu giữ của Nguyễn Tuấn A: Đây là tiền mà H, L, P, A dùng để đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Phan Thiết tịch thu sung ngân sách Nhà nước theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định pháp luật.
+ 2.500.000 đồng thu giữ của Trang Hoài L; 3.400.000 đồng thu giữ của Nguyễn Tuấn A, đây là tiền mà L và A mang theo trên người nhưng không có căn cứ chứng minh đã sử dụng hoặc sẽ sử dụng vào việc đánh bạc nên Cơ quan điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại tiền cho các đương sự trên là đúng quy định pháp luật.
+ 01 xe ô tô biển số 86A – 087.43 thu giữ của Trịnh Văn T, đây là tài sản của ông Đặng Phúc S và bà Nguyễn Thị Thanh L cho T thuê để làm phương tiện đi lại từ ngày 14/5/2022. Do tài sản này không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra trả lại cho ông Sinh là đúng quy định pháp luật.
+ Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung A50S và 2.000.000 đồng thu giữ của Lê Ngọc Bích N , do các tài sản này không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra trả lại cho N là đúng quy định pháp luật.
Về đối tượng có liên quan: Đối với Hoàng Minh H, Trang Hoài L, Lương T P, Nguyễn Tuấn A, do số tiền dùng để đánh bạc của các đối tượng này đều dưới 5.000.000 đồng. Các đối tượng này chưa bị xử phạt hành chính, chưa bị kết án về tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Phan Thiết ra Quyết định xử phạt hành chính với số tiền 1.500.000 đồng.
Các bị cáo phải nộp tiền án phí và những người tham gia tố tụng được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1/ Tuyên bố: Bị cáo Lê Ngọc Bích N phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.
Áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50 của Bộ luật hình sự.
Xử buộc Lê Ngọc Bích N phải nộp phạt 60.000.000 đồng, sung ngân sách Nhà Nước
- Tuyên bố: Bị cáo Văn Tấn T phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50 của Bộ luật hình sự.
Xử buộc Văn Tấn T phải nộp phạt 30.000.000 đồng, sung ngân sách Nhà Nước
- Tuyên bố: Bị cáo Trần L phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50 của Bộ luật hình sự.
Xử buộc Trần L phải nộp phạt 30.000.000 đồng, sung ngân sách Nhà Nước
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trúc Q phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50 của Bộ luật hình sự.
Xử buộc Nguyễn Trúc Q phải nộp phạt 30.000.000 đồng, sung ngân sách Nhà Nước
- Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Văn T phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50 của Bộ luật hình sự.
Xử buộc Trịnh Văn T phải nộp phạt 30.000.000 đồng, sung ngân sách Nhà Nước
2/ Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:
Áp dụng điểm a, b Điều 46; điểm a Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
+ Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tây, 01 hũ giấy, 01 bộ cờ cá ngựa.
+ Tịch thu sung ngân sách Nhà Nước 500.000 đồng thu giữ trên người Trịnh Văn T, 100.000 đồng thu giữ trong hũ giấy, 8.500.000 đồng thu giữ trên chiếu bạc của sòng phỏm và 140.000 đồng thu giữ của sòng cá ngựa là số tiền dùng vào việc đánh bạc.
+ Tiếp tục tạm giữ 8.000.000 đồng thu giữ của Trần L và 7.000.000 đồng thu giữ của Trịnh Văn T để đảm bảo việc thi hành án.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 65 ngày 05/12/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết và Giấy nộp tiền vào tài khoản số 3949.0.1054627 ngày 05/12/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết).
3/ Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4/ Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (17/01/2023).
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND thành phố Phan Thiết; - VKSND tỉnh Bình Thuận; - Công an thành phố Phan Thiết - Người tham gia tố tụng; -UBND địa phương nơi b/c thường trú; - Chi cục THADS Phan Thiết; - Cổng TTĐT TANDTC; - Lưu hồ sơ. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Lưu Triều |