- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê T T "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Lê Tr Th phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC A - QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2026/HS-ST Ngày: 04 - 02 - 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC A - QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: ông Lưu Minh Đoàn.
Các Hội thẩm nhân dân: bà Nguyễn Thị Thủy và bà Bùi Thị Kim Loan.
- Thư ký phiên toà: bà Tăng Thị Thủy - Thư ký Toà án nhân dân khu vực A - Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực A - Quảng Ninh tham gia phiên toà: ông Nguyễn Quang Lương - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực A - Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 88/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 12 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2026/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 01 năm 2026, đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Tr Th, sinh ngày 18/12/1989, tại tỉnh Quảng Ninh; nơi thường trú: thôn V, đặc khu Đ, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở hiện tại: thôn C, đặc khu V, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê K T và bà Đỗ T N; vợ là Nguyễn T S và có 03 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: năm 2008, bị Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh (nay là Tòa án nhân dân khu vực A - Quảng Ninh) xử phạt 15 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”, năm 2011 bị Tòa án nhân dân tối cao xử phạt 07 năm tù về tội “Giết người”. Tổng hợp hình phạt 15 tháng tù của bản án năm 2008 là 08 năm 03 tháng tù, chấp hành xong bản án ngày 23/5/2017; bị cáo đầu thú ngày 05/7/2025, bị tạm giữ ngày 05/7/2025, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh; có mặt.
- Người tham gia tố tụng khác:
Những người làm chứng: anh Hà X T, anh Phạm T P, anh Trần Q Đ - đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 21/10/2023, tại cơ sở kinh doanh Pub Lai Zai thuộc khu A, thị trấn V, huyện Đ (nay là đặc khu Đ), tỉnh Quảng Ninh, Công an huyện Đ (nay là Công an đặc khu Đ) kiểm tra phát hiện Phạm T P, Nguyễn V T, Hà X T, Vũ T L, Nguyễn M K, Nguyễn T T, Đỗ T P, Nguyễn C M, Trần Q Đ, Phạm V Ph, Vũ D T, Triệu M A, Phan D N Tr, Nguyễn T S, Lê T T, Bùi T H H, Nguyễn T A, Lê T O, Lê V H, Bùi D Kh, Lê T Ng đang uống bia, nghe nhạc, có dấu hiệu tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
Vật chứng thu giữ: 01 (một) túi nilon trong suốt kích thước (5x8,5) cm bên trong chứa chất tinh thể màu trắng; 01 (một) tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng bên trong có chất tinh thể màu trắng; 01 (một) ống hút màu xanh trong lòng ống bám dính chất tinh thể màu trắng, dưới mặt sàn nhà cạnh chân bàn DJ; 01 (một) tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng bên trong bám dính chất tinh thể màu trắng, trên mặt loa đứng phía trước bên phải bàn DJ; 01 (một) ống hút màu hồng trong lòng ống bám dính chất tinh thể màu trắng, trên mặt bàn đứng phía trước bàn DJ; 01 (một) ống hút màu xanh dưới mặt sàn nhà gần cửa ra vào; 01 (một) ống hút màu hồng trong lòng ống bám dính chất tinh thể màu trắng dưới mặt sàn nhà, cạnh chân bàn ngồi sát tường đối diện bàn DJ; 01 (một) đĩa sứ màu trắng, đường kính 23 cm, mặt đáy đĩa bám muội than màu đen tại góc tường rào phía sân sau cơ sở; 02 (hai) bình khí nén bằng kim loại hình trụ tròn, một đầu có van khóa trong kho chứa đồ của cơ sở; 70 (bảy mươi) vỏ bóng cao su màu đen đã qua sử dụng dưới mặt sàn quanh khu vực khách đang sử dụng dịch vụ; 01 (một) túi nilon trong suốt kích thước (2,5x2,5) cm bên trong chứa chất tinh thể màu trắng trong túi quần bên trái phía trước của Nguyễn Mai Kơn; 03 (ba) vỏ túi ngoài vỏ có chữ ORANGE FRUIT TEA màu vàng, một đầu bị xé, bên trong có chứa chất lỏng màu vàng là ma túy MDMA; 01 (một) hộp nhựa trắng, bên trong có chứa chất lỏng màu vàng ma túy MDMA để trong thùng rác màu đỏ trong nhà kho của cơ sở; 01 (một) bát nhựa bên ngoài màu đen, lòng bát màu đỏ trên giá bát đĩa của cơ sở; 01 (một) vỏ chai nhựa Lavie, không có nắp, bên trong chứa chất lỏng màu vàng nghi là ma túy; 01 (một) cốc nhựa trong suốt cao 15cm, bên trong chứa chất lỏng màu vàng là ma túy MDMA để trên mặt bàn đứng phía bên trái sát cửa ra vào; 01 (một) chiếc đũa nhựa màu tím, một đầu uốn cong trên giá bát đĩa; 01 (một) cốc nhựa trong suốt để trên mặt bàn ngồi bên phải bàn DJ; 01 (một) cốc nhựa trong suốt để trên mặt bàn ngồi sát tường bên trái; 01 bàn điều khiển âm thanh DJ nhãn hiệu Pioneer; 01 điện thoại di động OPPO và xe ô tô nhãn hiệu Ford Ranger màu xanh biển kiểm soát (BKS) 14A-538.02 của Lê T Ng; 01 điện thoại di động iPhone màu đen và 01 xe ô tô nhãn hiệu Mazda màu trắng BKS 14A-378.55 của Vũ T L; 01 ĐTDĐ iPhone màu xanh và 01 xe ô tô nhãn hiệu Vinfast màu đen, BKS 14A-468.33 của Vũ D T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone và 01 xe máy nhãn hiệu Honda SH màu xanh, BKS 14S1-069.06 của Nguyễn M K; 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Samsung và 01 xe máy nhãn hiệu Honda SH, màu trắng BKS 14S1-139.00 của Nguyễn V T; 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu xanh BKS 14B1-268.69 của Hà X T; 01 xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu xanh BKS 14S1-130.39 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone của Lê T O; 01 điếu cày bằng tre, màu vàng, có gắn nõ điếu bằng kim loại; 01 đầu ghi dữ liệu và 01 thẻ nhớ camera lắp đặt bên trong cơ sở; 01 điện thoại di động iPhone màu vàng của Trần Q Đ; 01 điện thoại di động iPhone màu trắng của Đỗ T Ph; 01 điện thoại di động iPhone màu vàng của Phạm V P; 01 điện thoại di động iPhone màu vàng của Hà X T; 01 điện thoại di động iPhone màu đen của Phạm T P; 01 điện thoại di động iPhone màu trắng của Nguyễn C M; 01 điện thoại di động iPhone màu đen của Nguyễn M K; 01 điện thoại di động iPhone màu hồng và 01 xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios, BKS 14A-437.97 của Nguyễn D H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone của Bùi T H H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone của Nguyễn T S; 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone của Nguyễn T T; 02 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone của Lê V H; 01 điện thoại di động iPhone của Lê T T; 02 điện thoại di động iPhone màu xanh của Vũ M H; 01 điện thoại di động iPhone của Phan D N T; 01 điện thoại di động iPhone của Bùi D K; 01 điện thoại di động iPhone của Nguyễn T A; 01 điện thoại di động iPhone của Triệu M A.
Căn cứ các tài liệu thu thập được, trong các ngày 23, 24/10/2023 và 26/10/2023, Cơ quan điều tra ra Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Hà X T, Phạm T P, Nguyễn V T, Đỗ T P, Nguyễn C M, Nguyễn T T, Vũ T L, Nguyễn M K, Nguyễn D H, Nguyễn Q Đ, Phạm V P, Vũ D T. Đến ngày 21/11/2023 thì Phạm N T A đến Cơ quan điều tra đầu thú; Đến ngày 18/7/2024, Trương M H bị bắt theo Quyết định truy nã, thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone, gắn 01 sim số 0828.958.808. Ngày 05/7/2025, Lê Tr Th ra đầu thú.
Tại các Kết luận giám định số 1569/KL-KTHS và 1570/KL-KTHS ngày 29/10/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận:
- Chất tinh thể màu trắng chứa trong 01 (một) túi nilon trong suốt, kích thước (5x8,5) cm là ma túy, loại Ketamine, khối lượng 0,122 gam.
- Chất tinh thể màu trắng chứa trong 01 (một) tờ tiền Việt Nam, loại 1.000 đồng, mã số hiệu OP 0064083 được gấp lại là ma túy, loại Ketamine, khối lượng 0,048 gam.
- Chất bột màu trắng bám dính trên 01 (một) tờ tiền Việt Nam, loại 5.000 đồng mã số hiệu GB 0940455 là ma túy, loại Ketamine, khối lượng không xác định được.
- Chất màu trắng bên trong lòng 02 (hai) ống hút màu hồng dài 09 cm và 8,5cm, bên trong là ma túy, loại Ketamine, khối lượng không xác định được.
- Tìm thấy chất ma túy, loại Ketamine, khối lượng không xác định được bám dính trên 02 (hai) ống hút màu xanh dài 6,8 cm và 6,3 cm và 01 (một) đĩa sứ màu trắng, đường kính 23 cm.
- Tìm thấy chất ma túy, loại MDMA, Nimetazepam, thể tích không xác định được trong 03 (ba) vỏ túi nilon màu vàng một đầu bị xe có chữ ORANGE FRUIT TEA và 01 (một) vỏ chai nhựa Lavie, không có nắp.
- Tìm thấy chất ma túy, loại MDMA, Nimetazepam, thể tích 03 ml chứa bên trong 01 (một) hộp nhựa trắng.
- Tìm thấy chất ma túy, loại MDMA, Nimetazepam, thể tích 02 ml chứa bên trong 01 (một) cốc nhựa cao 15 cm.
- Không tìm thấy chất ma túy, tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy đối với chất lỏng màu vàng nhạt, thể tích 50 ml chứa bên trong 01 (một) cốc nhựa trong suốt.
- Tìm thấy chất ma túy, loại MDMA đối với chất lỏng màu vàng, thể tích 35 ml chứa bên trong 01 (một) cốc nhựa trong suốt.
- Không tìm thấy chất ma túy, tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy trên 01 (một) bát nhựa bên ngoài màu đen, lòng bát màu đỏ và 01 (một) chiếc đũa nhựa màu tím, một đầu uốn cong.
- Chất tinh thể màu trắng chứa trong 01 (một) túi nilon trong suốt kích thước (3x3) cm thu giữ của Nguyễn M K là ma túy, loại Ketamine, khối lượng 0,299 gam.
- Tìm thấy chất ma túy Methamphetamine, MDMA, Dehydronorketamine trong mẫu nước tiểu của Vũ D T, Phan D N T, Nguyễn T S, Nguyễn T T, Nguyễn T A, Lê T O, Trần Q Đ, Lê V H, Vũ T L, Đỗ T P, Phạm V P, Nguyễn M K, Hà X T, Lê T N, Nguyễn V T, Phạm T P; tìm thấy chất ma túy Methamphetamine, MDMA trong mẫu nước tiểu của Lê T T, Bùi T H H, Bùi D K; tìm thấy chất Dehydronorketamine trong mẫu nước tiểu của Triệu M A; tìm thấy chất Morphine, Methadone trong mẫu nước tiểu của Vũ M H; không tìm thấy chất ma túy Methamphetamine, MDMA, Ketamine, Heroine và sản phẩm chuyển hóa trong nước tiểu của Nguyễn C M, Cao C S (Dehydronorketamine là sản phẩm chuyển hóa của chất ma túy Ketamine trong mẫu nước tiểu; Morphine là sản phẩm chuyển hóa của Heroine (Diacetymorphine) trong mẫu nước tiểu).
Tại các Kết luận giám định số 1617/KL-KTHS và 1618/KL-KTHS ngày 15/11/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận như sau:
- Trong 02 bình kim loại hình trụ tròn màu xanh gửi giám định có: 01 bình kim loại bên trong có khí, chất khí trong bình là khí dinitrogen monoxide (nitrous oxide, N2O) hay còn gọi là “khí cười”. Khối lượng khí N2O trong bình là 0,22 kg; 01 bình kim loại bên trong đã hết khí nên không tiến hành giám định.
- Tìm thấy chất ma túy loại Ketamine bám dính trên 01 tờ tiền Việt Nam loại 2000 đồng, mã số hiệu ZB 1616980 do Hà X T giao nộp ngày 21/10/2023; tìm thấy chất ma túy loại Ketamine bám dính trong 01 xô nhựa màu trắng có quai xách thu giữ tại cơ sở Pub Lai Zai, khu A, V, huyện Đ, ngày 21/10/2023; không tìm thấy chất ma túy Methamphetamine, MDMA, Ketamine, Heroine và sản phẩm chuyển hóa trong mẫu nước tiểu thu giữ của Phạm T B.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Tr Th khai nhận: khoảng 21 giờ 30 phút ngày 20/10/2023, bị cáo cùng Vũ T L, Nguyễn T A, Nguyễn T T, Nguyễn T T, Lê V H, Lê T O, Phạm V Ph, Nguyễn T T, Hà X T, Nguyễn M K, Nguyễn T S (là vợ bị cáo), Nguyễn A T, Hoàng T T, Phạm T P, Trần Q Đ, Đỗ T P, Nguyễn V T, Bùi T H H, Phạm T B, Vũ D T, Nguyễn T T và Đỗ T V đến nghe nhạc, uống bia tại quán Hey Pub ở khu V, đặc khu Đ, tỉnh Quảng Ninh. Sau đó, do bị say nên bị cáo nằm ngủ trong quán. Đến sáng ngày 21/10/2023, bị cáo tỉnh dậy thì thấy đang ở quán Lai Zai. Lúc này, Trần Q Đ nói với bị cáo về việc Hà X T có để 03 gói ma tuý nước vui trong túi quần của bị cáo nhưng Đ đã lấy 01 gói đưa cho Nguyễn V T. Khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, T đưa cho bị cáo 01 túi ma túy Ketamine và bảo bị cáo đưa cho Phạm T P để pha chế cho mọi người sử dụng. Bị cáo đưa lại túi ma tuý Ketamine và 01 gói ma tuý nước vui cho P, rồi cùng P vào trong phòng bếp quán Lai Zai pha chế ma túy. P lấy 01 chiếc xô nhựa trong bếp để lên mặt bàn, bị cáo rót nước từ ấm siêu tốc vào xô rồi xé 01 gói ma túy nước vui (do T để vào túi quần bị cáo trước đó tại quán Hey Pub) đổ vào xô. P lấy 01 que nhựa trên giá bếp đưa cho bị cáo để bị cáo khuấy nước trong xô, khuấy xong bị cáo rót hết ma túy nước vui trong xô nhựa vào 01 chiếc cốc rồi cầm ra ngoài đưa cho Hà X T. Khoảng 10 phút sau, T đưa cho bị cáo 01 gói ma túy nước vui và bảo bị cáo đi pha chế cho T. Lúc này, bị cáo đang cầm cốc to bên trong còn một ít ma túy nước vui nên đã rót hết vào cốc nhỏ hơn T đang cầm để bị cáo lấy cốc to. Sau đó, bị cáo vào phòng bếp pha chế 01 cốc ma túy nước vui, rồi đưa lại cho T mang ra ngoài. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, khi bị cáo đang nằm ngủ trong khu vực quầy thu ngân thì có người đến gọi, nên bị cáo đi về bằng lối cửa sau của quán.
Những người làm chứng Hà X T, Phạm T P, Trần Q Đ trong quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày 21/01/2025 có lời khai cơ bản phù hợp với nhau về việc sử dụng trái phép chất ma tuý tại Pub Lai Zai vào ngày 21/10/2023.
Hà X T còn khai thêm: nguồn gốc số ma túy nước vui và ma túy Ketamine mà T đưa cho bị cáo Th để tổ chức cho mọi người sử dụng tại Pub Lai Zai vào ngày 21/10/2023 là do T mua của Nguyễn D H và Hoàng V H. Sau mỗi lần pha chế ma tuý nước vui xong, bị cáo Th đều đưa lại cho T và T trực tiếp mang đi mời mọi người sử dụng.
Phạm T P còn khai thêm: sau khi bị cáo Th đưa Phong 01 túi ma tuý Ketamine và 01 gói ma tuý nước vui, Phong đã trực tiếp pha chế rồi tự sử dụng và mời những người khác sử dụng.
Cáo trạng số 40/CT-VKSKV3 ngày 11/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực A - Quảng Ninh truy tố bị cáo Lê Tr Th về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Quảng Ninh giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 2 Điều 54; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Lê Tr Th từ 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng đến 06 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/7/2025, về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Bị cáo không tranh luận với luận tội của đại diện Viện kiểm sát và lời nói sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của những người làm chứng anh Hà X T, anh Phạm T P, anh Trần Q Đ; phù hợp với biên bản kiểm tra hành chính, biên bản niêm phong đồ vật tài liệu bị tạm giữ, biên bản khám nghiệm hiện trường, do Công an huyện Đ (nay là Công an đặc khu Đ) lập cùng ngày 21/10/2023, phù hợp với Kết luận giám định số 1569/KL-KTHS và 1570/KL-KTHS ngày 29/10/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh, phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: vào ngày 21/10/2023 tại cơ sở kinh doanh Pub Lai Zai, thuộc khu A, thị trấn C, huyện Đ (nay là đặc khu Đ), tỉnh Quảng Ninh, bị cáo Lê Tr Th đã giúp sức cho Hà X T tổ chức, đưa trái phép chất ma túy nước vui (Methamphetamine, MDMA) vào cơ thể của Phạm T P, Hoàng T T, Nguyễn T T, Phạm V P, Trần Q Đ, Nguyễn T A, Vũ T L, Vũ D T, Nguyễn T T, Nguyễn M K, Nguyễn A T, Đỗ T P, Bùi T H H, Phạm T B, Lê T N, Nguyễn V T, Phan D N T, Lê T T, Lê T O, Lê V H, Bùi D K; tổ chức, đưa trái phép chất ma túy Ketamine cho Phạm T P, Phạm V P, Nguyễn V T, Vũ D T, Vũ T L, Nguyễn M K, Phạm N T A, Triệu M A, Lê T N.
Do hành vi của bị cáo xảy ra vào ngày 21 tháng 10 năm 2023, nên căn cứ điểm c khoản 1 Điều 4 Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự thì hành vi nêu trên của bị cáo Lê Tr Th đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định:
“1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
…….
b) Đối với 02 người trở lên;”
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý các chất ma túy của nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội. Việc bị cáo tổ chức cho những người khác sử dụng trái phép chất ma túy không chỉ tiếp tay cho những đối tượng buôn bán ma túy mà còn gây tổn hại cho sức khỏe của chính những người sử dụng, reo rắc tệ nạn xã hội. Bị cáo đã thành niên, hiểu rõ tác hại của chất ma túy, nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội; do vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của mình gây ra. Hội đồng xét xử thấy cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đảm bảo mục đích răn đe riêng và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tặng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; trong thời gian sinh sống tại nước ngoài, dưới sự vận động của gia đình và sự nhận thức của bản thân, bị cáo đã tự nguyện từ Campuchia trở về Việt Nam qua Cửa khẩu quốc tế Mộc Bài (tỉnh Tây Ninh) đầu thú, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét vai trò của bị cáo trong vụ án thấy: đây là vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn, trong đó bị cáo là người tiếp nhận ý chí của Hà X T (là bị cáo có vai trò đầu vụ đã bị xử phạt tại Bản án hình sự sơ thẩm số 08/2025/HS-ST ngày 21/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh) pha chế ma túy nước vui cho Hà X T đem ra mời mọi người sử dụng, nên là đồng phạm với vai trò giúp sức.
Sau khi xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và đề nghị của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử thấy: bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, phạm tội là người giúp sức trong vụ án đồng phạm, có vai trò không đáng kể; bị cáo đã bị kết án nhưng đã được xoá án tích. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được áp dụng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự, thể hiện chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước ta.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với Hà X T, Phạm T P, Nguyễn V T, Trần Q Đ, Nguyễn C M, Phạm Ng T A, Đỗ T P, Nguyễn T T, Vũ T L, Trương M H, Nguyễn M K, Phạm V P, Vũ D T và Nguyễn D H đã bị xét xử theo Bản án hình sự sơ thẩm số 08/2025/HS-ST ngày 21/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh (nay là Tòa án nhân dân khu vực A - Quảng Ninh), nên không đề cập xử lý trong vụ án này.
Về vật chứng của vụ án: đã được giải quyết tại Bản án hình sự sơ thẩm số 08/2025/HS-ST ngày 21/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh (nay là Tòa án nhân dân khu vực A - Quảng Ninh), nên không đề cập xử lý.
[10 Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: bị cáo Lê Tr Th phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 2 Điều 54; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
- Xử phạt bị cáo Lê Tr Th 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bị tạm giữ 05/7/2025.
- Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng áp phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Lê Tr Th phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: căn cứ khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 04/02/2026.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND tỉnh Quảng Ninh; - VKSND khu vực A - Quảng Ninh; - TAND tỉnh Quảng Ninh; - Phòng PV 06, CQCSĐT, CQTHAHS, Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh; - PTHADS khu vực A - Quảng Ninh; - Lưu HS-VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA (Đã ký) Lưu Minh Đoàn |