vanban.org

Bản án 23/2025/HSST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Ngọc G phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Về điều luật áp dụng và mức hình phạt: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025. Xử phạt bị cáo Lê Ngọc G 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/4/2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Ngọc G phạm tội “Trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

KHU VỰC 14
TỈNH ĐỒNG NAI
Bản án số : 23/2025/HSST
Ngày: 17/9/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Văn T

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thành V

Ông Võ Đức T

- Thư ký phiên tòa: Ông Phùng Quyền L– Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14- Đồng Nai tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Th- Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 14, tỉnh Đồng Nai đưa ra xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 11 /2025/TLST-HS ngày 22 tháng 8 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2025/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 8 năm 2025 đối với bị cáo :

Lê Ngọc G, sinh ngày 20 tháng 04 năm 1986, tên gọi khác: Không; sinh tại: tỉnh Campuchia - Giới tính: Nam. Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Ấp Thắng Lợi, xã Lộc Quang, tỉnh Đồng Nai. Quốc tịch: Việt Nam - Dân tộc: Kinh - Tôn giáo: Không ; CCCD: 070086003880 cấp ngày 09/05/2024. Nghề nghiệp: Lao động tự do (Làm vườn). Trình độ học vấn: 4/12. Cha Lê Ngọc Hùng (đã chết). Mẹ Võ Thị Thường, sinh năm 1962. Bị cáo có 04 anh em, lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 1995.

Vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1983 (đã ly hôn).

Bị cáo có 01 con, sinh năm 2012

Tiền sự: Không

Tiền án: Ngày 08/04/2005, Lê Ngọc G bị Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh tuyên phạt tù 07 tháng 14 ngày về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 20/2005/HSST.

- Ngày 21/12/2005, Lê Ngọc G bị Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh tuyên phạt tù 12 tháng về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 71/2005/HSST.

- Ngày 20/03/2008, Lê Ngọc G bị Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh tuyên phạt tù 03 năm về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 12/2008/HSST.

- Ngày 22/05/2014, Lê Ngọc G bị Tòa án nhân dân Thị xã Bình Long tuyên phạt tù 04 năm về tội “Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo bản án số 19/2014/HSST

- Ngày 04/07/2014, Lê Ngọc G bị Tòa án nhân dân huyện Bù Đốp tuyên phạt tù 04 năm về tội “Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo bản án số 33/2014/HSST.

- Ngày 10/04/2015, Lê Ngọc G bị Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản tuyên phạt tù 04 năm về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 11/2015/HSST. Tổng hợp với 02 bản án 19/2014/HSST của Tòa án nhân dân Thị xã Bình Long và 33/2014/HSST của Tòa án nhân dân huyện Bù Đốp thành 11 năm tù. Đã chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa được xóa án tích.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 26/04/2025 đến nay .

Bị cáo có mặt tại phiên tòa. Bị hại : Ông Bùi Duy Cường, sinh năm 1983 (có đơn xin giải quyết vắng mặt) Nơi cư trú : Ấp 7, xã Lộc Thạnh, tỉnh Đồng Nai Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Võ Thị Thường, sinh năm 1963 (vắng mặt) Nơi cư trú : Ấp Thắng Lợi, xã Lộc Quang, tỉnh Đồng Nai

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ 00, ngày 24/04/2025, Lê Ngọc G đang ở nhà của chị Nguyễn Thị H (vợ cũ của Giang) sinh năm 1983 tại ấp Thắng Lợi, xã Lộc Quang, tỉnh Đồng Nai thì có Hải (không xác định được lai lịch) gọi điện và rủ Giang đi trộm cắp tài sản thì Giang đồng ý. Sau đó, Giang điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha, loại Jupiter, màu đỏ đen, biển số: 93F1-053.22 lên quán hủ tiếu “Kim Anh” của chị Phạm Thị Kim Anh, sinh năm 1986, thuộc ấp Hiệp Thành, xã Lộc Quang, tỉnh Đồng Nai thì gặp Hải, rồi Hải lấy xe của Giang điều khiển chở Giang đi đến khu vực ấp 7, xã Lộc Thạnh, tỉnh Đồng Nai thì Hải và Giang giấu xe mô tô vào bụi cây và đi bộ đến khu vực nhà của anh Bùi Duy Cường, sinh năm 1984, thường trú tại ấp 7, xã Lộc Thạnh, tỉnh Đồng Nai để trộm cắp tài sản. Đến khoảng 2 giờ 30 phút, ngày 25/04/2025, Hải và Giang đột nhập vào trong nhà anh Cường từ phía sau nhà và trộm đi 02 xe mô tô bao gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave Alpha, biển số: 93FA-030.17 và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, Loại Super Dream, biển số: 93F1-112.52. Sau khi trộm xong, Giang và Hải điều khiển 02 xe mô tô trộm cắp được đi theo đường tiểu ngạch qua biên giới giữa Việt Nam – Campuchia, Hải gọi điện cho 03 người đàn ông là người Campuchia (không rõ lai lịch) đến và bán 02 chiếc xe mô tô trộm cắp được với giá bao nhiêu thì Giang không biết (do Hải thỏa thuận và Hải chưa lấy tiền bán xe. Sau đó, Hải và Giang điều khiển xe mô tô Jupiter về quán hủ tiếu “Kim Anh”, lúc này Hải đi đâu thì Giang không biết, còn Giang điều khiển xe mô tô về lại nhà chị Hằng, để xe mô tô ở ngoài vườn bên hông nhà chị Hằng, cất áo khoác và nón vào trong phòng ngủ nhà chị Hằng. Sau khi bị hại là anh Bùi Duy Cường phát hiện bị mất trộm xe mô tô đã đi báo công an xã Lộc Hòa.

* Căn cứ bản kết luận định giá tài sản số 09/KL-HĐĐGTSTTHS ngày 26/04/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự Huyện Lộc Ninh, 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Super Dream, biển số: 93F1-112.52 có giá là 9.000.000đ (Chín triệu đồng); 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave Alpha, biển số: 93FA-030.17 có giá là 11.000.000đ (Mười một triệu đồng).

* Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, Bị cáo Giang đã có 7 tiền án và chưa được xóa án tích nên bị cáo phạm tội với tình tiết định khung “tái phạm nguy hiểm”.

- Tình tiết giảm nhẹ: bị cáo thành khẩn khai báo.

* Vật chứng thu giữ: 01 áo khoác màu đen phía trước ngực có chữ “MAR’ bên phải và chữ “DIA” bên trái, 01 nón vải, trên nón có chữ “PUMA” là quần áo Giang mặc khi thực hiện hành vi phạm tội.

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Jupiter, biển số: 93F1-053.22.

- Đối với 02 xe mô tô mà Giang và Hải trộm cắp của gia đình anh Cường đã áp dụng các biện pháp xác minh và thông báo truy tìm nhưng không thu hồi được.

* Trách nhiệm dân sự:

Về trách nhiệm dân sự : Bị hại là anh Bùi Duy Cường yêu cầu bồi thường số tiền 40.000.000đ (Bốn mươi triệu đồng), nhưng đến nay Lê Ngọc G chưa bồi thường số tiền nêu trên.

* Xử lý vật chứng:

- 01 áo khoác màu đen phía trước ngực có chữ “MAR’ bên phải và chữ “DIA” bên trái, 01 nón vải, trên nón có chữ “PUMA” là quần áo cá nhân của Giang.

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Jupiter, biển số: 93F1-053.22 có chủ sở hữu hợp pháp là bà Võ Thị Thường (mẹ ruột của Giang). Việc Giang sử dụng xe mô tô nêu trên để thực hiện hành vi phạm tội bà Thường không biết.

Tại bản cáo trạng số: 11/CT-VKS, ngày 22/8/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14, tỉnh Đồng Nai truy tố Lê Ngọc G về tội: “Trộm cắp tài sản”.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố đề nghị hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Ngọc G phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Lê Ngọc G từ 02 năm 6 tháng tù, đến 03 năm tù.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đối với Hải chưa bắt được cần tách ra xử lý sau.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Đồng Nai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14 Đồng Nai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Tại phiên toà, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra vụ án, có đủ cơ sở khách quan để kết luận:

Vào ngày 24/4/2025 bị cáo Lê Ngọc G cùng Hải lợi dụng đêm tối, lén nút vào nhà anh Cường trộm cắp tài sản 02 chiếc xe honda, đưa sang Campuchia bán lấy tiền tiêu sài, trị giá tài sản 20.000.000đồng.

Bị cáo Giang thực hiện hành trộm cắp tài sản với tình tiết định khung tái phạm nguy hiểm. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14-Đồng Nai truy tố bị cáo Lê Ngọc G về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến tài sản của người khác được luật pháp bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương, cần có một hình phạt nghiêm tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo.Tại thời điểm phạm tội và tại phiên tòa, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự.

Tiền án: Ngày 10/04/2015, Lê Ngọc G bị Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản tuyên phạt tù 04 năm về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 11/2015/HSST. Tổng hợp với 02 bản án 19/2014/HSST của Tòa án nhân dân Thị xã Bình Long và 33/2014/HSST của Tòa án nhân dân huyện Bù Đốp bị cáo chấp hành 11 năm tù. Đã chấp hành xong ngày 06/01/2024 nhưng chưa được xóa án tích.

Xét nhân thân bị cáo xấu, cho nên ý thức chấp hành phát luật của bị cáo chưa tốt, không tu trí làm ăn, lẽ ra bị cáo phải tự nhận thức tìm công việc làm thích hợp để làm và nuôi sống bản thân, lo cho gia đình vợ con, bị cáo coi thường pháp luật ngày càng đi sâu vào con đường phạm tội. Hội đồng xét xử thiết nghĩ cần xử hình phạt nghiêm khắc là tù có thời hạn nhằm giúp bị cáo có thời gian cải tạo tự sửa chữa bản thân để trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, được Hội đồng xét xử xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14 - Đồng Nai đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo như trong bản luận tội là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử .

Đối với Hải chưa bắt được xử lý sau.

Về trách nhiệm dân sự : Ông Bùi Duy Cường yêu cầu đòi bồi thường 40.000.000đồng, căn cứ vào kết quả Hội đồng định giá thì giá trị tài sản 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Super Dream, biển số: 93F1-112.52 có giá là 9.000.000đ (Chín triệu đồng); 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave Alpha, biển số: 93FA-030.17 có giá là 11.000.000đ (Mười một triệu đồng) tổng cộng là 20.000.000đồng cần buộc bị cáo phải bồi thường là phù hợp.

Đối với các tài sản như 01 điện thoại di động Iphone X, 01 nhẫn vàng trọng lượng 02 chỉ vàng 18k, 01 vòng tay bằng gỗ trầm có đính vàng 18k, 01 ví da và căn cước công dân, giấy phép lái xe mô tô, ô tô, 01 thẻ ngân hàng Agribank mang tên Bùi Duy Cường và số tiền khoảng 1 triệu đồng, bị cáo không thừa nhận, hiện nay chưa bắt được Hải nên cơ quan điều tra chưa xác minh được, nên chưa có cơ sở buộc bị cáo phải bồi thường.

Về vật chứng vụ án: Đối với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Jupiter, biển số: 93F1-053.22 có chủ sở hữu hợp pháp là bà Võ Thị Thường (mẹ ruột của Giang). Việc Giang sử dụng xe mô tô nêu trên để thực hiện hành vi phạm tội bà Thường không biết cần trả cho bà Thường.

- Đối với biển số: - 01 áo khoác màu đen phía trước ngực có chữ “MAR’ bên phải và chữ “DIA” bên trái, 01 nón vải, trên nón có chữ “PUMA” là quần áo cá nhân của Giang tại phiên toà bị cáo Giang không nhận lại do đó cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Ngọc G phạm tội “Trộm cắp tài sản”

2.Về điều luật áp dụng và mức hình phạt: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.

Xử phạt bị cáo Lê Ngọc G 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/4/2025.

Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày tính từ ngày tuyên án để đảm bảo việc thi hành án.

3. Về trách nhiệm dân sự : Buộc bị cáo Lê Ngọc G bồi thường cho Bùi Duy Cường số tiền 20.000.000đồng (Hai mươi triệu đồng).

4. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Trả cho bà Võ Thị Thường 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Jupiter, biển số: 93F1- 053.22 .

Tịch thu tiêu hủy 01 áo khoác màu đen phía trước ngực có chữ “MAR’ bên phải và chữ “DIA” bên trái, 01 nón vải, trên nón có chữ “PUMA” .

( Vật chứng được thống kê, mô tả như trong biên bản giao vật chứng, tài sản phiếu nhập : NK 2025/013 ngày 17/9/2025 giữa Công an tỉnh Đồng Nai và Phòng Thi hành án khu vực 14- Đồng Nai).

5. Về án phí: Áp dụng điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Lê Ngọc G phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và số tiền 1.000.000đồng án phí DSST.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể tử ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại chính quyền địa phương nơi cư trú để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ