- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Thị X và đồng phạm - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 322 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 322 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2025/HS-PT Ngày 08-4-2025 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Nguyệt
Các Thẩm phán: Ông Phùng Đức Chính
Ông Lộc Sơn Thái
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Cẩm Nhung - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Bà Lục Thị Hoàng Lan - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 18/2025/TLPT-HS ngày 19 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo Vũ Thị X và đồng phạm, do có kháng cáo của các bị cáo Vũ Thị X, Phan Thị T, Nguyễn Thị Ngọc Q đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 105/2024/HS-ST ngày 26-12-2024 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn.
- Các bị cáo có kháng cáo:
1. Vũ Thị X, sinh ngày 10-5-1977 tại huyện B, tỉnh Hải Dương; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Khối 8, phường V, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Vũ Kim C (đã chết) và bà Hoàng Thị P; có chồng là Mai Văn L và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 1544/HSST ngày 29/11/1997, bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 04 năm tù về tội Mua bán phụ nữ (đã xóa án tích), tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 43/QĐ-XPHC ngày 17/3/2004, bị Công an huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương xử phạt 500.000 đồng về hành vi đánh bạc (đã xóa). Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08-01-2024 đến ngày 05-02-2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh, hiện nay tại ngoại; có mặt.
2. Phan Thị T, sinh ngày 20-8-1961 tại huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn K, xã H, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Chỗ ở: Tổ 1, khối 5, xã H, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/10; dân tộc: Tày; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Phan Kiến T và bà Đinh Thị H (đều đã chết); có chồng là Đỗ Minh S (đã chết) và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 55/2020/HSST ngày 22/6/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 10 tháng cải tạo không giam giữ về tội Đánh bạc (đã xóa án tích). Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08-01-2024 đến ngày 07-02-2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh, hiện nay tại ngoại; có mặt.
3. Nguyễn Thị Ngọc Q, sinh ngày 18-3-1983 tại thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Khối 5, phường Đ, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Xuân T và bà Chu Thị H (đều đã chết); có chồng là Phạm Ánh Q và có 02 con; tiền án: Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 322/HSPT ngày 28/5/2007, bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, ngày 26-11-2024 chấp hành xong án phí hình sự; tiền sự: Không có; nhân thân: Chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08-01-2024 đến ngày 06-4-2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện nay tại ngoại; có mặt.
Ngoài ra, còn có 02 bị cáo khác và 03 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có công việc ổn định nên khoảng từ tháng 12-2023, Vũ Thị X móc nối với Phan Thị T để Phan Thị T làm thư ký ghi số lô, đề từ những khách đến uống nước có nhu cầu chơi số lô, số đề sau đó chuyển các số lô đề cho Vũ Thị X để hưởng tiền chênh lệch.Việc ghi số đề của Vũ Thị X và Phan Thị T dựa trên kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng hàng ngày.
Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn đã làm rõ hành vi tổ chức đánh bạc và đánh bạc bằng hình thức ghi số lô, đề của Vũ Thị X cùng đồng phạm cụ thể như sau:
1. Hành vi tổ chức đánh bạc của Vũ Thị X và Phan Thị T: Hàng ngày, Phan Thị T nhận ghi số lô đề cho khách có nhu cầu, sau đó tổng hợp số lô, đề vào tờ giấy trong quyển vở rồi chụp ảnh gửi tin nhắn Zalo cho Vũ Thị X trước 18 giờ. Sau khi nhận được tin nhắn ảnh tổng hợp số lô đề của Phan Thị T gửi vào tài khoản Zalo “Bông lau” (số thuê bao 0383.047.265 trên điện thoại Realme C20), Vũ Thị X tự chép số rồi gửi tin nhắn vào tài khoản Zalo khác tên “Vũ Thị X” (số thuê bao 0375.191.640 trên điện thoại OPPO A92). Sau khi có kết quả xổ số miền Bắc, dựa trên các số lô đề nhận được của Phan Thị T, Vũ Thị X sẽ so sánh, tính toán và thanh toán số tiền thắng thua mỗi ngày để Phan Thị T trực tiếp trả thưởng cho khách.
Đối với số lô Phan Thị T ghi cho khách 22.500đ/điểm chuyển cho Vũ Thị X 21.800đ/điểm, hưởng lợi 700đ/điểm. Đối với số đề, ba số, lô xiên (2,3,4) Phan Thị T ghi cho khách 1.000đ/điểm chuyển cho Vũ Thị X 730đ/điểm, hưởng lợi 270đ/điểm.
- Ngày 06-01-2024, Phan Thị T ghi được của khách 483 điểm lô thành tiền là 10.867.500 đồng; 1.368 điểm đề thành tiền là 1.368.000 đồng; 225 điểm ba số thành tiền là 225.000 đồng; 20 điểm xiên 3 thành tiền là 20.000 đồng. Trong đó trúng thưởng 133 điểm lô thành tiền là 10.640.000 đồng. Tổng số tiền Phan Thị T đánh bạc trong ngày 06-01-2024 là 23.120.500 đồng. Số tiền đánh bạc Phan Thị T chuyển cho Vũ Thị X trong ngày 06-01-2024 là 22.346.890 đồng. Phan Thị T được hưởng lợi 773.610 đồng.
- Ngày 07-01-2024, Phan Thị T ghi được 658 điểm lô thành tiền 14.805.000 đồng; 1014 điểm đề thành tiền là 1.014.000 đồng; 45 điểm ba số thành tiền là 45.000 đồng; 300 điểm xiên 2 thành tiền là 300.000 đồng; 20 điểm xiên 3 thành tiền là 20.000 đồng. Trong đó trúng thưởng 166 điểm lô thành tiền là 13.280.000 đồng. Tổng số tiền Phan Thị T đánh bạc trong ngày 07-01-2024 là 29.464.000 đồng. Số tiền đánh bạc Phan Thị T chuyển cho Vũ Thị X trong ngày 07-01-2024 là 28.631.070 đồng. Phan Thị T được hưởng lợi 832.930 đồng.
- Ngày 08-01-2024, Phan Thị T nhận ghi số lô đề cho Trần Kim O, Nguyễn Thị Ngọc Q, Bùi Thị H, Nguyễn Văn T, Trần Văn H, Hứa Văn D và một số khách vãng lai (không rõ tên tuổi, địa chỉ). Số tiền Phan Thị T đánh bạc trong ngày 08-01-2024 là 763 điểm lô (ghi cho khách) thành tiền là 17.167.500 đồng; 735 điểm lô (ghi cho Bùi Thị H) thành tiền là 16.170.000 đồng; 1002 điểm đề thành tiền là 1.002.000 đồng; 80 điểm ba số thành tiền là 80.000 đồng; 640 điểm xiên 2 thành tiền là 640.000 đồng; 600 điểm xiên 3 thành tiền là 600.000 đồng. Trong đó trúng thưởng 295 điểm lô thành tiền là 23.600.000 đồng.
Tổng số tiền Phan Thị T đánh bạc trong ngày 08-01-2024 là 59.259.500 đồng. Số tiền Phan Thị T chuyển cho Vũ Thị X trong ngày 08-01-2024 là 57.951.460 đồng, Phan Thị T được hưởng lợi 1.308.040 đồng.
2. Hành vi đánh bạc của Nguyễn Thị Ngọc Q: Ngày 08-01-2024, Nguyễn Thị Ngọc Q dùng tài khoản Zalo “Quầy gà Nguyễn Q Lê Đại H” nhắn tin ghi số lô, đề với Phan Thị T nội dung “Lô 00, 07, 27, 72 x 50 điểm, xiên 2 76-41x 500 điểm” và gửi 01 ảnh chụp màn hình chuyển khoản 5.000.000 đồng từ tài khoản của Nguyễn Thị Ngọc Q sang tài khoản của Phan Thị T. Số tiền Nguyễn Thị Ngọc Q đánh bạc trong ngày 08-01-2024 cụ thể: 200 điểm lô thành tiền là 4.500.000 đồng; 500 điểm xiên 2 thành tiền là 500.000 đồng. Ngày 08-01-2024 Nguyễn Thị Ngọc Q không trúng thưởng. Tổng số tiền Nguyễn Thị Ngọc Q đánh bạc bằng hình thức ghi số lô đề với Phan Thị T ngày 08-01-2024 là 5.000.000 đồng.
3. Hành vi đánh bạc của Trần Kim O: Ngày 08-01-2024, Trần Kim O sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax số thuê bao 0974.663.468 nhắn tin ghi số lô với Phan Thị T với nội dung: “Lô 393.040x 25”. Số tiền Trần Kim O đánh bạc trong ngày 08-01-2024 cụ thể: 100 điểm lô thành tiền là 2.250.000 đồng. Đối chiếu với kết quả xổ số miền Bắc ngày 08-01-2024, Trần Kim O trúng 50 điểm lô (lô 39, 40), số tiền trúng thưởng của Trần Kim O ngày 08-01-2024 là 4.000.000 đồng bị cáo Phan Thị T đã thanh toán cho bị cáo Trần Kim O. Tổng số tiền bị cáo Trần Kim O đánh bạc ngày 08-01-2024 xác định là 6.250.000 đồng.
4. Hành vi đánh bạc của Bùi Thị H: Ngày 08-01-2024 Bùi Thị H sử dụng tài khoản Zalo tên “Bùi H” gửi tin nhắn hình ảnh chụp các số lô gửi đến tài khoản Zalo “Cỏ May” của Phan Thị T. Số tiền Bùi Thị H mua số lô với Phan Thị T ngày 08-01-2024 là 735 điểm lô thành tiền là 16.170.000 đồng. Đối chiếu với kết quả xổ số miền Bắc ngày 08-01-2024, Bùi Thị H trúng 175 điểm lô thành tiền là 14.000.000 đồng. Tổng số tiền Bùi Thị H đánh bạc ngày 08-01-2024 là 30.170.000 đồng.
Quá trình điều tra còn xác định trong ngày 08-01-2024, Phan Thị T còn ghi số lô đề cho một số đối tượng, cụ thể:
- Nguyễn Văn T 15 điểm lô thành tiền là 337.500 đồng. Trúng thưởng 05 điểm lô thành tiền là 400.000 đồng. Tổng số tiền Nguyễn Văn T đánh bạc trong ngày 08-01-2024 là 737.500 đồng. Khoảng 18 giờ 35 phút ngày 08-01-2024, khi Nguyễn Văn T đang nhận thưởng tại bàn ghi xổ số của Phan Thị T; địa chỉ: Tổ 1, khối 5, xã H, huyện C, tỉnh Lạng Sơn thì bị lực lượng công an phát hiện.
- Trần Văn H 30 điểm lô thành tiền là 675.000 đồng. Trúng thưởng 10 điểm lô thành tiền là 800.000 đồng. Tổng số tiền Trần Văn H đánh bạc trong ngày 08-01-2024 là 1.475.000 đồng.
- Hứa Văn D 50 điểm lô thành tiền là 1.125.000 đồng, tuy nhiên Hứa Văn D không trúng thưởng. Tổng số tiền Hứa Văn D đánh bạc trong ngày 08-01-2024 là 1.125.000 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 105/2024/HS-ST ngày 26-12-2024 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn: Tuyên bố các bị cáo Vũ Thị X, Phan Thị T phạm tội Tổ chức đánh bạc, bị cáo Nguyễn Thị Ngọc Q phạm tội Đánh bạc. Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 3 Điều 322; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Thị X 02 năm tù, bị cáo Phan Thị T 01 năm 06 tháng tù. Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Ngọc Q 01 năm tù. Ngoài ra, Bản án còn xử phạt bị cáo Trần Kim O 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, xử phạt bị cáo Bùi Thị H 01 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, tuyên về hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo Vũ Thị X, Phan Thị T, Nguyễn Thị Ngọc Q kháng cáo xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa: Các bị cáo Vũ Thị X, Phan Thị T, Nguyễn Thị Ngọc Q thay đổi nội dung kháng cáo, các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Đơn kháng cáo của các bị cáo làm trong hạn luật định là hợp lệ, Bản án sơ thẩm kết án các bị cáo Vũ Thị X, Phan Thị T phạm tội Tổ chức đánh bạc; bị cáo Nguyễn Thị Ngọc Q phạm tội Đánh bạc là đúng người, đúng tội, không oan. Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng vai trò, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo và áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo Vũ Thị X cung cấp các tài liệu thể hiện bị cáo đã thi hành xong khoản tiền án phí 200.000 đồng, tiền phạt bổ sung 25.000.000 đồng theo Quyết định của Bản án sơ thẩm, bị cáo có tham gia ủng hộ Cơ sở bảo trợ xã hội số tiền 1.000.000 đồng. Bị cáo Phan Thị T cung cấp tài liệu mới thể hiện bị cáo đã thi hành xong khoản tiền án phí 200.000 đồng, tiền truy thu và tiền phạt bổ sung là 35.136.060 đồng, bị cáo là lao động duy nhất trong gia đình phải trực tiếp nuôi con học có xác nhận của chính quyền địa phương, ủng hộ xoá nhà tạm, nhà dột nát số tiền 1.000.000 đồng. Bị cáo Nguyễn Thị Ngọc Q cung cấp tài liệu mới thể hiện bị cáo đã thi hành số tiền phạt bổ sung 10.000.000 đồng, tham gia ủng hộ quỹ vì người nghèo năm 2025 số tiền 1.000.000 đồng, ủng hộ quỹ nạn nhân chất độc màu da cam, tết nhân ái, quỹ nhân đạo số tiền 500.000 đồng; bị cáo Vũ Thị X xuất trình thêm hồ sơ bệnh án điều trị ung thư tử cung giai đoạn Ib1, biên bản giám định y khoa tỷ lệ tổn thương cơ thể là 65%. Các bị cáo có tình tiết mới được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Vũ Thị X, Phan Thị T, Nguyễn Thị Ngọc Q; sửa một phần Bản án sơ thẩm về phần hình phạt tù đối với các bị cáo, cụ thể:
Xử phạt bị cáo Vũ Thị X 18 tháng đến 20 tháng tù về tội Tổ chức đánh bạc. Xử phạt bị cáo Phan Thị T 13 tháng đến 14 tháng tù về tội Tổ chức đánh bạc. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Ngọc Q 07 tháng đến 08 tháng tù về tội Đánh bạc. Xác nhận đối với số tiền mà các bị cáo đã thi hành được.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Vũ Thị X, Phan Thị T, Nguyễn Thị Ngọc Q thừa nhận hành vi phạm tội đúng như Bản án sơ thẩm đã tuyên. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Vũ Thị X, Phan Thị T về tội Tổ chức đánh bạc theo khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự năm 2015 và xét xử bị cáo Nguyễn Thị Ngọc Q về tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và không oan.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo, thấy rằng:
Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét khách quan, toàn diện, đánh giá đúng tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo; mức hình phạt của Bản án sơ thẩm đã tuyên đối với các bị cáo là phù hợp.
Tại cấp phúc thẩm: Bị cáo Vũ Thị X cung cấp các tài liệu thể hiện bị cáo đã nộp đủ tại Chi Cục Thi hành án dân sự khoản tiền án phí 200.000 đồng, tiền phạt bổ sung 25.000.000 đồng theo Quyết định của Bản án sơ thẩm, bị cáo có tham gia ủng hộ Cơ sở bảo trợ xã hội số tiền 1.000.000 đồng. Bị cáo Phan Thị T cung cấp tài liệu mới thể hiện bị cáo đã nộp đủ tại Chi Cục Thi hành án dân sự khoản tiền án phí 200.000 đồng, tiền truy thu và tiền phạt bổ sung là 35.136.060 đồng, bị cáo là lao động duy nhất trong gia đình phải trực tiếp nuôi con học có xác nhận của chính quyền địa phương, ủng hộ xoá nhà tạm, nhà dột nát số tiền 1.000.000 đồng. Bị cáo Nguyễn Thị Ngọc Q cung cấp tài liệu mới thể hiện bị cáo đã nộp đủ tại Chi Cục Thi hành án dân sự số tiền phạt bổ sung 10.000.000 đồng, tham gia ủng hộ quỹ vì người nghèo năm 2025 số tiền 1.000.000 đồng, ủng hộ quỹ nạn nhân chất độc màu da cam, tết nhân ái, quỹ nhân đạo số tiền 500.000 đồng. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới mà các bị cáo được hưởng theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Ngoài ra, bị cáo Vũ Thị X bị bệnh hiểm nghèo, sức khỏe yếu (ung thư tử cung giai đoạn Ib1, biên bản giám định y khoa tỷ lệ tổn thương cơ thể là 65%). Vì vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ để chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo, sửa Bản án sơ thẩm theo hướng giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn tại phiên tòa là phù hợp với nhận định trên nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Vũ Thị X, Phan Thị T và Nguyễn Thị Ngọc Q; sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 105/2024/HS-ST ngày 26-12-2024 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn đối với phần hình phạt tù của các bị cáo Vũ Thị X, Phan Thị T, Nguyễn Thị Ngọc Q, cụ thể như sau:
1. Về hình phạt:
1.1. Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 3 Điều 322; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Vũ Thị X 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Tổ chức đánh bạc. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án được trừ đi thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 08-01-2024 đến ngày 05-02-2024.
Phạt bổ sung bị cáo Vũ Thị X số tiền 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng, nộp Ngân sách Nhà nước. Xác nhận bị cáo đã nộp đủ số tiền 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng tại Biên lai thu tiền số 0001010 ngày 10-01-2025 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Lạng Sơn.
1.2. Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 3 Điều 322; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Phan Thị T 01 (một) năm 01 (một) tháng tù về tội Tổ chức đánh bạc. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án được trừ đi thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 08-01-2024 đến ngày 07-02-2024.
Phạt bổ sung bị cáo Phan Thị T số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng, nộp Ngân sách nhà nước. Xác nhận bị cáo đã nộp đủ số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng tại Biên lai thu tiền số 0001005 ngày 30-12-2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Lạng Sơn.
1.3. Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Ngọc Q 07 (bảy) tháng tù về tội Đánh bạc. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án được trừ đi thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 08-01-2024 đến ngày 06-4-2024.
Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Thị Ngọc Q số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng, nộp Ngân sách Nhà nước. Xác nhận bị cáo đã nộp đủ số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng tại Biên lai thu tiền số 0001046 ngày 25-3-2025 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Lạng Sơn.
2. Về biện pháp tư pháp:
- Truy thu đối với bị cáo Vũ Thị X 74.577.960 (bảy mươi tư triệu năm trăm bảy mươi bảy nghìn chín trăm sáu mươi) đồng, nộp Ngân sách Nhà nước.
- Truy thu đối với bị cáo Phan Thị T 15.136.060 (mười lăm triệu một trăm ba mươi sáu nghìn không trăm sáu mươi) đồng, nộp Ngân sách Nhà nước. Xác nhận bị cáo đã nộp đủ số tiền 15.136.060 (mười lăm triệu một trăm ba mươi sáu nghìn không trăm sáu mươi) đồng tại Biên lai thu tiền số 0001005 ngày 30-12-2024 và Biên lai thu tiền số 0001101 ngày 08-4-2025 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Lạng Sơn.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Các bị cáo Vũ Thị X, Phan Thị T, Nguyễn Thị Ngọc Q không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - PV06, PC10 Công an tỉnh Lạng Sơn; - TAND h. Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn; - VKSND h. Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn; - CCTHADS h. C, tỉnh Lạng Sơn; - Bị cáo; - Lưu: HS; Tòa HS; HCTP, KTNV&THA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lƣơng Thị Nguyệt |