- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn D - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Bị cáo Nguyễn Văn D: 13 (Mười ba) năm tù về tội “Huỷ hoại tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày tạm giữ - ngày 27/7/2022.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 178 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2023/HS-ST Ngày 22-02-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Minh Phương
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Mạnh Hùng
Bà Cao Thị Hạ
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Hương Trà - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 23/2023/TLST-HS ngày 19 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn D, sinh ngày 25 tháng 9 năm 1989, tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn Đồng Tâm, xã TD, huyện VB, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ và bà Lê Thị H, gia đình có hai anh em, bị cáo là con thứ nhất; có vợ là Nguyễn Thị Vân A (đã ly thân) và 01 con sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ từ ngày 27/7/2022 đến ngày 05/8/2022 chuyển tạm giam; có mặt.
Người bào chữa: Ông Nguyễn Văn C – Luật sư Văn phòng Luật sư LS thuộc Đoàn luật sư thành phố Hải Phòng; có mặt;
- Bị hại: Ngân hàng A; địa chỉ trụ sở: Số 2 LH, phường ThC, quận Ba, thành phố Hà Nội;
- Người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng A: Ông Nguyễn Đình T, chức vụ: Phó Giám đốc Ngân hàng A - Chi nhánh NA Đông Hải Phòng (Giấy uỷ quyền ngày 20/02/2023); có mặt.
- Người làm chứng: Ông Vũ Trung T, sinh năm 1960; địa chỉ: Thôn 2, xã VT, huyện VB, thành phố Hải Phòng; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do bực tức về việc không rút được tiền tại cây ATM của Ngân hàng A (viết tắt Ngân hàng) nên Nguyễn Văn D nảy sinh ý định đốt cây ATM. Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 25/7/2022, D mua 35.000 đồng xăng, đựng trong 03 chai nhựa (khoảng 330ml/chai). Trên đường đi, D nhặt 01 viên gạch (loại gạch bê tông, kích thước khoảng 10cm), để vào giỏ xe rồi đi đến trước cửa cây ATM (thuộc thôn NA, xã TC, huyện VB, thành phố Hải Phòng). D dựng xe đạp ở cửa, lấy gạch và các chai xăng đi vào trong cabin có cây ATM. D đổ 02 chai xăng lên 02 cây ATM, còn một chai để gần đó. D đi ra ngoài, dùng áo thấm vào xăng vừa đổ ra cây ATM, bật lửa châm vào áo rồi ném vào cây ATM. Thấy lửa cháy to, D đạp xe về nhà thì thấy chân bị bỏng nên đã lấy lá cây sơ cứu cho bản thân.
Cơ quan Công an tiến hành khám nghiệm hiện trường nơi xảy ra vụ việc cháy ghi nhận các dấu vết liên quan.
Tại Kết luận giám định số 59 ngày 31/7/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an TP Hải Phòng kết luận: Điểm xuất phát cháy là vị trí khu vực đặt cây ATM số 1 (ký hiệu theo biên bản khám nghiệm hiện trường), cách cửa ra vào 1,7m, cách tường phía nam 0,65m, sau đó cháy lan sang các vị trí khác của nhà bảo vệ. Tìm thấy dấu vết xăng có trong mẫu tàn than tro thu ở vị trí cây ATM số 1 và cây ATM số 2. Nguyên nhân cháy là do con người dùng xăng đốt gây nên vụ cháy.
Quá trình điều tra, Ngân hàng đã giao nộp 02 (hai) tập video có phần mở rộng “MP4” dung lượng 78,7 MB được lưu trong 01 USB nhãn hiệu Kingston 32G, nội dung ghi lại hình ảnh vụ cháy. Qua giám định không bị cắt ghép, chỉnh sửa; trong đó có 01 tập tin bị lỗi định dạng không xác định được nội dung. Đồng thời cơ quan điều tra tiến hành giám định 03 (ba) thiết bị thu hình (thu giữ khi khám nghiệm hiện trường) đã bị tác động nhiệt gây cháy, hỏng các linh kiện trên bo mạch điện tử, hỏng nguồn do đó không trích xuất được dữ liệu. Các hình ảnh liên quan đến vụ việc được trích xuất trên bản ảnh kèm theo.
Tại Kết luận định giá tài sản số 37/KL-HĐĐGTS ngày 26/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản - Ủy ban nhân dân huyện VB kết luận:
- 01 máy rút tiền tự động (ATM 01), năm sản xuất 2015, loại NCR P77 Lobby, Seri 42885248, bị hư hỏng hoàn toàn, giá trị thiệt hại là: 141.779.500 đồng.
- 01 máy rút tiền tự động (ATM 02), năm sản xuất 2022, loại Wincor Nixdorf Cineo C2070, Seri 5310107143, bị hư hỏng hoàn toàn, giá trị thiệt hại là: 637.505.000 đồng.
- 02 ca bin ATM, xây mới và đưa vào sử dụng năm 2022, bị hư hỏng hoàn toàn, giá trị thiệt hại là: 157.122.000 đồng.
- 01 hệ thống camera an ninh gồm 04 camera, độ phân giải 4MP, cảm biến CMOS 1/3 bị hư hỏng hoàn toàn, giá trị thiệt hại là: 137.398.800 đồng.
- 01 điều hòa treo tường Gree, Seri 02AA/19P, công suất 9000 BTU mua mới, đưa vào sử dụng ngày 01/4/2022, bị hư hỏng hoàn toàn, giá trị thiệt hại là: 8.417.700 đồng.
- 01 màn hình TV Samsung 32 inch, Seri QG/2009B, năm sản xuất 2022, mua mới, đưa vào sử dụng ngày 01/4/2022, bị hư hỏng hoàn toàn, giá trị thiệt hại là: 3.568.800 đồng.
- 01 màn hình TV Samsung 43 inch, Seri 02/AA/17P, năm sản xuất 2022, mua mới, đưa vào sử dụng ngày 01/4/2022, bị hư hỏng hoàn toàn, giá trị thiệt hại là: 5.353.200 đồng.
- 01 cục UPS, seri HP/20E năm sản xuất 2022, mua mới, đưa vào sử dụng ngày 01/4/2022, bị hư hỏng hoàn toàn, giá trị thiệt hại là: 5.353.200 đồng.
- 01 cửa ra vào chống cháy nổ, bằng thép, kích thước 2,8m x 2,2m bị hư hỏng hoàn toàn, giá trị thiệt hại là: 17.844.000 đồng.
- Giá trị nhà bảo vệ chi phí vật liệu và nhân công trát tường, sơn dầm, trần, cột, tường trong nhà; làm trần phẳng bằng tấm thạch cao và khung xương là: 17.123.595 đồng.
Tổng giá trị thiệt hại là 1.131.465.795 đồng.
Ngày 26/7/2022, Nguyễn Văn D đến Công an huyện VB đầu thú.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn D khai nhận hành vi phạm tội như nội dung trên. D khai nguyên nhân dẫn đến việc mua xăng đốt cây ATM là do D bực tức vì trước đó đến rút tiền nhưng không rút được. Hiện tại, D chưa bồi thường cho Ngân hàng.
Lời khai nhận tội của Nguyễn Văn D phù hợp với lời khai của bị hại, của những người làm chứng; phù hợp với nội dung Biên bản khám nghiệm hiện trường; nội dung các bản Kết luận định giá tài sản, Kết luận giám định và vật chứng thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Vật chứng của vụ án: 03 đầu thu camera thu khi khám nghiệm hiện trường; 01 vật bằng nhựa màu xanh lá cây (dạng nắp chai) bị nhiệt tác động mạnh làm nóng chảy bám dính vào sản phẩm cháy; 01 xe đạp mini màu trắng đã qua sử dụng chuyển Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng chờ xử lý.
Về dân sự: Ngân hàng yêu cầu D phải bồi thường số tiền thiệt hại là: 1.131.465.795 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 33/CT-VKSHP-P3, ngày 17 tháng 01 năm 2023, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Nguyễn Văn D về tội Hủy hoại tài sản theo quy định tại khoản 4 Điều 178 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn D khai nhận hành vi phạm tội như nội dung tại bản Cáo trạng đã truy tố. Khoảng 20h45’ ngày 25/7/2022, do bực tức về việc không rút được tiền tại cây ATM, D đã dùng xăng để đốt cây ATM và nhiều tài sản khác tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh NA Đông Hải Phòng. Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình do suy nghĩ nông nổi, bột phát, nên bị cáo đã hành động như vậy và rất hối hận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên toà người bào chữa nhất trí với nội dung bản Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo. Tuy nhiên, sau khi phạm tội bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội nên đã ra đầu thú, thành khẩn khai báo; bị cáo có bác ruột là liệt sỹ; bố bị cáo tham gia quân đội là các tình tiết giảm nhẹ nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức hình phạt thấp hơn đề xuất của Kiểm sát viên.
Tại phiên toà bị hại trình bày, cho đến thời điểm hiện tại thì bị cáo và gia đình chưa bồi thường thiệt hại cho Ngân hàng. Ngân hàng đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải bồi thường cho Ngân hàng số tiền là 1.131.465.795 đồng.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên trình bày quan điểm luận tội: Giữ nguyên nội dung truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn D về tội Huỷ hoại tài sản theo quy định tại khoản 4 Điều 178 của Bộ luật Hình sự, đồng thời phân tích hành vi, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự ( bị cáo thành khẩn khai báo; sau khi phạm tội đã đầu thú; có bác ruột là liệt sỹ, bố bị cáo tham gia quân đội); đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại khoản 4 Điều 178, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D mức án từ 13 năm tù đến 14 năm tù. Về dân sự: Buộc bị cáo D phải bồi thường cho Ngân hàng số tiền là 1.131.465.795 đồng. Về vật chứng: 03 đầu thu camera; 01 vật bằng nhựa màu xanh lá cây (dạng nắp chai) không còn giá trị sử dụng do nhiệt tác động nên tịch thu, tiêu huỷ; 01 xe đạp mi ni màu trắng đã qua sử dụng tại phiên toà bị cáo và mẹ của bị cáo khai là của mẹ bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên trả cho bà Lê Thị Hiền – Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Phòng, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh:
Tại phiên toà, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, của người làm chứng; phù hợp với Biên bản khám nghiệm hiện trường lập hồi 09h00’ ngày 26/7/2022; Bản Kết luận định giá tài sản số 37/KL-HĐĐGTS ngày 26/8/2022 và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ về thời gian, địa điểm phạm tội cũng như các tình tiết khác của vụ án. Lời khai của bị cáo còn được chứng minh bằng tài sản, đồ vật thu giữ tại hiện trường; bản Kết luận giám định số 399/KL-KTHS (KTS) ngày 05/8/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng; Kết luận giám định số 59/KL-KTPL (CN) ngày 31/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng, kết luận: Điểm xuất phát cháy là vị trí khu vực đặt cây ATM số 01, cách cửa ra vào 1,7m, cách tường phía nam 0,65m, sau đó cháy lan sang các vị trí khác của nhà bảo vệ. Tìm thấy dấu vết xăng có trong mẫu tàn than tro thu ở vị trí cây ATM số 1 và cây ATM số 2. Nguyên nhân cháy là do con người dùng xăng đốt gây nên. Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận bị cáo D đã phạm tội Huỷ hoại tài sản. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 4 Điều 178 của Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo đầu thú. Tại phiên toà, mẹ bị cáo xuất trình tài liệu, bị cáo có bác ruột là liệt sỹ, bố bị cáo tham gia quân đội là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng
Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, lần này phạm tội là lần đầu.
- Về hình phạt:
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo D là nguy hiểm cho xã hội vì đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh NA Đông Hải Phòng, làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của Ngân hàng, gây thiệt hại với giá trị tài sản lớn, gây mất trật tự trị an chung nên cần thiết phải cách ly bị cáo D với xã hội một thời gian dài để giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung. Khi lượng hình, Hội đồng xét xử sẽ xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần - Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 37/KL-HĐĐGTS ngày 26/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản Uỷ ban nhân dân huyện VB đã xác định tổng giá trị thiệt hại do bị cáo gây ra là: 1.131.465.795 đồng. Bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường số tiền này cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh NA Đông Hải Phòng – khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 589 của Bộ luật Dân sự.
Về xử lý vật chứng: 03 đầu thu camera; 01 vật bằng nhựa màu xanh lá cây (dạng nắp chai) bị nhiệt tác động mạnh làm nóng cháy bám dính vào sản phẩm cháy không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ - khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Đối với chiếc xe đạp mi ni trắng đã qua sử dụng là của mẹ bị cáo – bà Lê Thị Hiền, không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bà Lê Thị Hiền (Quyết định chuyển vật chứng số 34/QĐ-VKSHP-P3 ngày 17/01/2023).
Về án phí: Bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự bồi thường theo quy định pháp luật - điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 4 Điều 178, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử:
1. Bị cáo Nguyễn Văn D: 13 (Mười ba) năm tù về tội “Huỷ hoại tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày tạm giữ - ngày 27/7/2022.
Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 589 của Bộ luật Dân sự;
2. Buộc bị cáo Nguyễn Văn D phải bồi thường cho Ngân hàng A - Chi nhánh NA Đông Hải Phòng số tiền là 1.131.465.795 đồng (Một tỷ một trăm ba mươi mốt triệu bốn trăm sáu mươi lăm nghìn bảy trăm chín mươi lăm đồng).
Kể từ ngày Ngân hàng A - Chi nhánh NA Đông Hải Phòng có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong khoản tiền nêu trên, hàng tháng bị cáo Nguyễn Văn D còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chưa thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
3.1. Tịch thu tiêu huỷ 03 đầu thu camera; 01 vật bằng nhựa màu xanh lá cây (dạng nắp chai).
3.2. Trả lại cho bà Lê Thị H chiếc xe đạp mi ni trắng đã qua sử dụng.
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn D phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 45.943.973 đồng (Bốn mươi lăm triệu chín trăm bốn mươi ba nghìn chín trăm bảy mươi ba đồng) tiền án phí dân sự bồi thường.
Trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo Nguyễn Văn D và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn - Chi nhánh NA Đông Hải Phòng đều có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
Trường hợp Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a,9 của Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
| Nơi nhận: - TANDCC; VKSNDCC; - Vụ 1 – TANDTC; - VKSND TP Hải Phòng; - PV06 Công an TP Hải Phòng; - Cục THADS TP Hải Phòng; - Sở Tư pháp TPHP; - Bị cáo; Bị hại; - UBND xã TD, huyện VB, TP.Hải Phòng; - Người tham gia tố tụng; - Phòng KTNV và THA; - Lưu: HS, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Minh Phương |