vanban.org

Bản án 23/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh Tuyên án 13/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Hồng N phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trần Hồng N 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24 tháng 9 năm 2022. Xử phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo Trần Hồng N số tiền 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Hồng N phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 255 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẦU KÈ
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2023/HS-ST
Ngày: 13-4-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU KÈ, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Trúc Linh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Thanh Xuân;

Bà Huỳnh Thị Thu Nhiệm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Đức Trọn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Kè tham gia phiên tòa: Bà Thái Thị Thể - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh, Tòa án nhân dân huyện Cầu Kè xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 16/2023/TLST-HS ngày 03/3/2023 theo Q định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2023/QĐXXST-HS ngày 29/3/2023 đối với bị cáo:

Trần Hồng N, sinh ngày 22/7/1980 tại tỉnh Vĩnh Long; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT: Số 3, tổ 7, ấp Khu Phố, xã Hựu Thành, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long; Chỗ ở hiện nay: Khóm 6, thị trấn Cầu Kè, huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Hoa; Tôn giáo: Phật giáo; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Trần Tỷ, sinh năm 1956 và bà Nhan Sóc Huệ, sinh năm 1950; Anh, chị, em ruột: Có 03 người, lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 1983; Vợ: Trương Ngọc Kiều, sinh năm 1992; Tiền án: Không; Tiền sự: 02 tiền sự (ngày 05/01/2022 bị Công an huyện Cầu Kè xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy và Sử dụng trái phép chất ma túy với tổng số tiền 2.250.000đ (hai triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) và ngày 29/6/2022 bị Công an thị trấn Cầu Kè xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy với số tiền 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng). Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 24/9/2022 đến ngày 30/9/2022 chuyển giam cho đến nay.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1975.

Trú tại: Ấp X, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Người làm chứng: Ông Nguyễn Khắc L, sinh năm 1987.

Trú tại: Khóm 5, thị trấn C, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 23/9/2022, bị cáo Trần Hồng N gọi điện thoại cho Nguyễn Văn Q cư trú ấp K, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh để hỏi mượn xe mô tô, loại xe Dream, màu nâu, biển kiểm soát 52N4-5021 đi công việc cá nhân thì được Q đồng ý. Sau đó, Q điều khiển xe mô tô trên đến nhà trọ của bị cáo N tại khóm 6, thị trấn Cầu Kè, huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh giao xe cho bị cáo N mượn. Khi nhận được xe, bị cáo N một mình điều khiển xe đến khu vực ấp Khu P, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long để tham gia đánh bạc dưới hình thức chơi tài xỉu, còn Q ở lại nhà trọ của bị cáo N cùng với Nguyễn Khắc L cư trú khóm 5, thị trấn Cầu Kè, huyện Cầu Kè (L đã đến nhà trọ bị cáo N trước đó). Tại đây, Q và L phát hiện trong bộ dụng cụ sử dụng ma túy của bị cáo N có sẵn một ít ma túy nên cả hai cùng nhau sử dụng hết. Đối với bị cáo N, tại điểm đánh bạc bị cáo gặp được người thanh niên tên Vàng (giới tính nam, khoảng hơn 20 tuổi, người ốm cao, nước da ngâm, không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể), biết được Vàng có bán trái phép chất ma túy nên bị cáo N hỏi mua 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) ma túy đá thì được Vàng đồng ý bán ma túy cho bị cáo N. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, bị cáo N điều khiển xe mô tô mang theo túi ma túy vừa mua được về nhà trọ gặp L và Q vẫn còn đang ở tại nhà trọ của mình. Lúc này, bị cáo N cho Q biết vừa mua được 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) ma túy đá và sẽ cho Q mang về nhà để sử dụng nhưng Q không đồng ý nên bị cáo N lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 (một) cây kéo bằng kim loại, 01 (một) hột quẹt gas, 01 (một) chai nhựa màu trắng, nắp chai màu đỏ, trên nắp chai gắn với một ống nhựa màu trắng hồng của bị cáo N, mang xuống khu vực nhà bếp rủ L và Q cùng sử dụng chất ma túy. Tại đây, bị cáo N dùng kéo kim loại cắt rời một đầu của túi ma túy rồi cho tất cả ma túy vào trong phiễu thủy tinh trên bộ dụng cụ, bật lửa đun nóng phần ma túy trong phiễu rồi sử dụng. Sau khi bị cáo N sử dụng xong thì đến Q và L sử dụng, cả 03 người cùng nhau sử dụng hết phần ma túy trong phiễu rồi ở lại nhà trọ của bị cáo N đến khi lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện.

Quá trình kiểm tra tại khu vực các đối tượng đã sử dụng trái phép chất ma túy, lực lượng Công an đã thu giữ: 01 (một) cây kéo bằng kim loại màu trắng, chiều dài 10,5cm; 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng, chiều dài 10,5cm; 01 (một) túi nhựa màu trắng (loại túi zip, viền miệng túi màu đỏ), kích thước 4,1cm x 4,5cm; 01 (một) túi nhựa màu trắng, kích thước 04cm x 1, cm đã bị cắt rời một đầu; 01 (một) túi nhựa màu trắng, kích thước 03cm x 01cm đã bị cắt rời một đầu; 01 (một) túi nhựa màu trắng, kích thước 03cm x 1,8cm đã bị cắt rời một đầu; 02 (hai) bật lửa và 01 (một) bộ dụng cụ dùng để sử dụng trái phép chất ma túy. Ngoài ra, lực lượng Công an còn thu giữ 01 (một) túi nhựa màu trắng được hàn kín, kích thước 4,2cm x 3,7cm bên trong chứa nhiều hạt tinh thể rắn, màu trắng và 01 (một) cân điện tử, màu trắng, chứa trong vỏ bao thuốc lá, nhãn hiệu HERO được cất giấu tại vị trí chậu cây phía trước, bên phải chỗ ở của bị cáo N.

Qua làm việc, bị cáo N thừa nhận cùng với Nguyễn Văn Q và Nguyễn Khắc L có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Qua kiểm tra chất ma túy trong cơ thể của bị cáo N, Nguyễn Văn Q và Nguyễn Khắc L cho kết quả đều dương tính với chất ma túy, loại Methamphetamine.

Tại Phiếu trả lời kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 24/9/2022 của Trung tâm y tế huyện Cầu Kè xác định bị cáo Trần Hồng N không nghiện ma túy.

Tại Bản kết luận giám định số 522/KL-KTHS ngày 27/9/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Trà Vinh kết luận:

- Bên trong 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng; 01 (một) túi nhựa màu trắng (loại túi zip, viền miệng túi màu đỏ); 02 (hai) túi nhựa màu trắng bị cắt rời một đầu; 01 (một) ống nhựa màu trắng bị cắt rời một đầu; 01 (một) ống thủy tinh không rõ hình dạng được niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định đều có tìm thấy thành phần ma túy, loại Methamphetamine, dạng vết, không xác định được khối lượng.

- Tinh thể rắn màu trắng chứa trong 01 (một) túi nhựa được niêm phong ký hiệu M4 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 1,3679 gam.

Ngày 23/9/2022 qua kiểm tra chỗ ở của bị cáo N, lực lượng Công an thu giữ nhiều túi nhựa màu trắng bị cắt rời một đầu, qua giám định bên trong các túi nhựa này chứa chất ma túy, loại Methamphetamine, dạng vết. Do không xác định được khối lượng ma túy nên Cơ quan điều tra không đủ căn cứ xử lý đối với bị cáo N về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Đối với Nguyễn Văn Q và Nguyễn Khắc L có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên Công an huyện Cầu Kè đã ra Q định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Văn Q và Nguyễn Khắc L về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1, Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng chống tệ nạn xã hội, mỗi đối tượng số tiền 2.000.000đ (hai triệu đồng).

Đối với người thanh niên tên “Vàng” có dấu hiệu của tội mua bán trái phép chất ma túy, quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa xác định được lai lịch và địa chỉ cụ thể nên chưa đủ cơ sở để xử lý.

Đối với địa điểm bị cáo Trần Hồng N tổ chức cho Nguyễn Văn Q và Nguyễn Khắc L sử dụng trái phép chất ma túy là nhà trọ do bị cáo Trần Hồng N thuê của ông Chiêm Huyên, sinh năm 1968, cư trú khu 1-6, phường Bình Trị Đông, quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh, qua xác minh ông Huyên cho bị cáo N thuê nhà trọ để ở và toàn quyền quản lý, sử dụng từ năm 2020, hiện ông Huyên đã xuất cảnh đi nước ngoài nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không làm việc được.

Đối với 01 (một) túi nhựa màu trắng được hàn kín, kích thước 4,2cm x 3,7cm bên trong chứa chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 1,3679 gam và 01 (một) cân điện tử màu trắng trên cân có dòng chữ “Digital Scale”, tất cả chứa trong vỏ bao thuốc lá, nhãn hiệu HERO, được cất giấu tại vị trí chậu cây phía trước, bên phải chỗ ở của bị cáo Trần Hồng N. Qua điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa xác định được của ai nên không có căn cứ xử lý.

Đối với xe mô tô biển kiểm soát 52N4-5021, Nguyễn Văn Q không biết bị cáo dùng phương tiện của mình để thực hiện hành vi phạm tội nên không có cở sở để xử lý.

Đối với hành vi Đánh bạc của bị cáo Trần Hồng N tại khu vực ấp Khu Phố, xã Hựu Thành, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long, do không xác định được vị trí, các đối tượng tham gia đánh bạc cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xem xét, xử lý đối với bị cáo N.

Tại Bản cáo trạng số 17/CT-VKS-HS ngày 03/3/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh đã truy tố bị cáo Trần Hồng N phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích các chứng cứ buộc tội bị cáo, phân tích các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, Vị đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên cáo trạng đã truy tố và đề nghị:

Tuyên bố bị cáo Trần Hồng N phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm b, khoản 2, Điều 255 Bộ luật Hình sự, Điều 38, điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Hồng N từ 07 năm đến 08 năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt đối với các bị cáo tính kể từ ngày 24/9/2022. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Ngoài ra, Vị Kiểm sát viên còn đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết về vật chứng, án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận những hành vi phạm tội của bị cáo như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh truy tố cũng như lời luận tội của vị Kiểm sát viên, bị cáo không có ý kiến tranh luận, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo đúng như nội dung Cáo trạng đã mô tả, hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, và còn phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Khoảng 18 giờ ngày 23/9/2022, tại nhà trọ của bị cáo Trần Hồng N thuộc khóm 6, thị trấn Cầu Kè, huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh, Cơ quan Công an kiểm tra phát hiện bị cáo Trần Hồng N có hành vi dùng chổ ở, cung cấp dụng cụ, ma túy, loại Methamphetamin để cùng sử dụng trái phép chất ma túy với Nguyễn Văn Q và Nguyễn Khắc L. Do đó, đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Trần Hồng N đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái pháp chất ma túy” theo quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 255 Bộ luật Hình sự như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đảm bảo đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thẩm tra các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, thấy rằng các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều đúng quy định của pháp luật, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại hoặc có ý kiến nào khác phản đối các Q định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Hành vi của bị cáo Trần Hồng N là rất nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức rõ hành vi của bị có là vi phạm pháp luật nhưng với mong muốn thỏa mãn nhu cầu sử dụng chất ma túy của bản thân nên bị cáo đã sử dụng chỗ ở của mình và cung cấp chất ma túy và bộ dụng cụ sử dụng ma túy, rủ rê để Nguyễn Văn Q và Nguyễn Khắc L cùng nhau sử dụng ma túy trái phép. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, góp phần làm gia tăng các tệ nạn xã hội, ảnh hưởng đến đến đời sống cộng đồng. Trong thời gian gần đây, nổi lên tình trạng tàng trữ, vận chuyển, mua bán, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy gia tăng một cách nghiêm trọng, đây là một vấn nạn của xã hội, và cũng chính từ ma túy mà nảy sinh nhiều tệ nạn xã hội khác. Vì vậy, để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với các hành vi phạm tội của bị cáo, để giáo dục bị cáo để bị cáo có điều kiện học tập và cải tạo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Đồng thời cũng nhằm mục đích răn đe, phòng chống tội phạm cho toàn xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Xử phạt bổ sung tiền đối với bị cáo Trần Hồng N.

Song, khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét, bị cáo Trần Hồng N không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo thể hiện thái độ ăn năn hối cải. Do đó, cần xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự. Tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) phong bì niêm phong số 522/M1 ghi ngày 27/9/2022, tại mép dán phong bì đóng dấu tròn màu đỏ đề Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Trà Vinh, trên phong bì có chữ ký, họ tên Nguyễn Văn Mạnh và Nguyễn Văn Thiện, trong phong bì có 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng; 01 (một) túi nhựa màu trắng (túi zip) có viền màu đỏ; 02 (hai) túi nhựa màu trắng bị cắt rời một đầu; 01 (một) ống nhựa màu trắng bị cắt rời một đầu và 01 (một) ống thủy tinh không rõ hình dạng.

- 01 (một) hộp giấy được niêm phong ký hiệu M2, trên giấy niêm phong có chữ ký, họ tên của Huỳnh Văn Phúc, Nguyễn Hoàng Thân, Huỳnh Duy Cẩn, Trần Hồng N, có đóng dấu tròn màu đỏ đề Công an thị trấn Cầu Kè, trong hộp giấy có 01 (một) cây kéo bằng kim loại màu trắng, chiều dài 10,5cm; 01 (một) hột quẹt gas màu vàng; 01 (một) hột quẹt gas tự chế màu trắng; 01 (một) chai nhựa màu trắng, nắp chai màu đỏ, chiều cao 13cm, đường kính đáy 04cm, trên nắp chai gắn với một ống nhựa màu trắng hồng kích thước 17,6cm.

- Đối với 01 (một) xe mô tô (loại xe Dream), nhãn hiệu FASHION, màu nâu, số khung FS100-14000905, số máy FMG3-10087795, biển số 52N4-5021, xe đã qua sử dụng của Nguyễn Văn Q. Xét thấy, Q không biết bị cáo dùng phương tiện của mình để thực hiện hành vi phạm tội nên tuyên trả lại cho Nguyễn Văn Q.

- Đối với 01 (một) phong bì niêm phong số 522/M4 ghi ngày 27/9/2022, tại mép dán phong bì đóng dấu tròn màu đỏ đề Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Trà Vinh, trên phong bì có chữ ký, họ tên Nguyễn Văn Mạnh và Nguyễn Văn Thiện, trong phong bì có tinh thể rắn màu trắng (sau giám định) có khối lượng 1,3363 gam và 01 (một) phong bì được niêm phong ký hiệu M3, trên phong bì có chữ ký, họ tên của Huỳnh Văn Phúc, Nguyễn Hoàng Thân, Huỳnh Duy Cẩn, Trần Hồng N, trên phong bì có đóng dấu tròn màu đỏ đề Công an thị trấn Cầu Kè, trong phong bì có 01 (một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu HERO; 01 (một) cân điện tử màu trắng, trên cân có dòng chữ “Digital Scale”. Xét thấy đây là những tang vật mà Cơ quan Cảnh sát điều tra thu giữ được tại vị trí chậu cây phía trước, bên phải chỗ ở của bị cáo N, Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa xác định được chủ sở hữu nên không phải và vật chứng của vụ án này Hội đồng xét xử tuyên trả lại cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cầu Kè để xử lý theo quy định.

Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị Q số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Từ những phân tích nêu trên, xét thấy quan điểm của Vị đại diện Viện kiểm sát về việc giải Q vụ án là phù hợp nên được chấp nhận.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 255, điểm s khoản 1, Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Trần Hồng N phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trần Hồng N 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24 tháng 9 năm 2022.

Xử phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo Trần Hồng N số tiền 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng).

Về vật chứng vụ án:

Tuyên tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) phong bì niêm phong số 522/M1 ghi ngày 27/9/2022, tại mép dán phong bì đóng dấu tròn màu đỏ đề Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Trà Vinh, trên phong bì có chữ ký, họ tên Nguyễn Văn Mạnh và Nguyễn Văn Thiện, trong phong bì có 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng; 01 (một) túi nhựa màu trắng (túi zip) có viền màu đỏ; 02 (hai) túi nhựa màu trắng bị cắt rời một đầu; 01 (một) ống nhựa màu trắng bị cắt rời một đầu và 01 (một) ống thủy tinh không rõ hình dạng.

- 01 (một) hộp giấy được niêm phong ký hiệu M2, trên giấy niêm phong có chữ ký, họ tên của Huỳnh Văn Phúc, Nguyễn Hoàng Thân, Huỳnh Duy Cẩn, Trần Hồng N, có đóng dấu tròn màu đỏ đề Công an thị trấn Cầu Kè, trong hộp giấy có 01 (một) cây kéo bằng kim loại màu trắng, chiều dài 10,5cm; 01 (một) hột quẹt gas màu vàng; 01 (một) hột quẹt gas tự chế màu trắng; 01 (một) chai nhựa màu trắng, nắp chai màu đỏ, chiều cao 13cm, đường kính đáy 04cm, trên nắp chai gắn với một ống nhựa màu trắng hồng kích thước 17,6cm.

- Tuyên trả lại cho Nguyễn Văn Q 01 (một) xe mô tô (loại xe Dream), nhãn hiệu FASHION, màu nâu, số khung FS100-14000905, số máy FMG3-10087795, biển số 52N4-5021, xe đã qua sử dụng.

Tất cả số vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh đang quản lý theo quy định.

- Tuyên trả lại cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cầu Kè để xử lý theo quy định pháp luật đối với 01 (một) phong bì niêm phong số 522/M4 ghi ngày 27/9/2022, tại mép dán phong bì đóng dấu tròn màu đỏ đề Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Trà Vinh, trên phong bì có chữ ký, họ tên Nguyễn Văn Mạnh và Nguyễn Văn Thiện, trong phong bì có tinh thể rắn màu trắng (sau giám định) có khối lượng 1,3363 gam và 01 (một) phong bì được niêm phong ký hiệu M3, trên phong bì có chữ ký, họ tên của Huỳnh Văn Phúc, Nguyễn Hoàng Thân, Huỳnh Duy Cẩn, Trần Hồng N, trên phong bì có đóng dấu tròn màu đỏ đề Công an thị trấn Cầu Kè, trong phong bì có 01 (một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu HERO; 01 (một) cân điện tử màu trắng, trên cân có dòng chữ “Digital Scale”.

Về án phí: Buộc bị cáo Trần Hồng N nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ