- Tranh chấp gì? Tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân — án hôn nhân và gia đình — "Chia tài sản sau ly hôn"
- Tòa quyết gì? ăn cứ vào khoản 2 Điều 308 và Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 23/2022/HNGĐ-PT Ngày: 25/8/2022 V/v “Tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Nguyên Khoa.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hữu Tuấn
Bà Nguyễn Thị Tư.
- Thư ký phiên tòa: Bà Tô Thị Út – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long: Bà Bùi Thị Cẩm Linh - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 25 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 21/2022/TLPT-HNGĐ, ngày 19 tháng 7 năm 2022 về “Tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn”.
Do bản án dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình số: 40/2022/HNGĐ-ST ngày 08 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Vĩnh Long bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 29/2022/QĐ-PT ngày 11 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: hị D, sinh năm 1988 (có mặt)
Địa chỉ: ố 41 , kh m TQĐ, phư ng T , thành phố V, tỉnh Vĩnh ong.
Địa chỉ liên lạc: Số 49/1C, Hẻm 789, đư ng MT 1, Phư ng 3, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.
2. Bị đơn: Anh N, sinh năm 1982 (có mặt)
Địa chỉ: ố 41 , kh m TQĐ, phư ng T , thành phố V, tỉnh Vĩnh ong.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Bùi Văn K – Công ty luật TNHH MTV QT thuộc Đoàn luật sư thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
3. Người có quyền lợi, nghĩa v liên quan:
3.1. N n h n N Việ Na (Agribank).
Địa chỉ: Số 02, H, Phư ng TC, Quận BĐ, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Tiế Văn Th – Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Duy T – Giám đốc Agribank chi nhánh thành phố V. (Theo văn bản ủy quyền số 2965 ngày 27/12/2019).
Người được ủy quyền lại: Ông Lư Nhật B - Giám đốc Phòng giao dịch MT - Agribank chi nhánh thành phố V. (xin vắng mặt)
Địa chỉ: Số 270 , kh m TT , phư ng TN, TP V, tỉnh Vĩnh Long. (Theo văn bản ủy quyền số 01 ngày 05/01/2021).
3.2. hị han Th n N (xin vắng mặt)
Địa chỉ: số 47, kh m TQĐ, phư ng T , TP V, tỉnh Vĩnh ong.
3.3. Anh Tr n Thanh , sinh năm 1988 (vắng mặt)
3.4. Ông Tr n Văn T, sinh năm 1950 (có mặt)
ùng địa chỉ: ố 108, tổ 9, kh m TQT, phư ng TA, TP V, tỉnh Vĩnh ong.
4. Người kháng cáo: Nguyên đơn Lê Thị D.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo nguyên đơn chị D trình bày:
Tại Quyết định số 158/2020/QĐ T-HNGĐ ngày 27/7/2020 của Tòa án nhân dân thành phố V đ công nhận sự thỏa thuận của chị D và anh N với nội dung: Chị D và anh N thuận tình ly hôn với nhau; giao con chung là Trần Thế K, sinh ngày 08/02/2007 và Trần Lê Xuân K, sinh ngày 21/01/2013 cho anh N nuôi dưỡng và giao Trần Lê NY, sinh ngày 06/6/2019 cho chị D nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con; tài sản chung và n chung chưa y u cầu Tòa án giải quyết. Nay, chị D khởi ki n y u cầu Tòa án giải quyết chia tài sản chung và n chung của chị và anh N, cụ thể như sau:
Về tài sản chung:
ăn nhà cấp 4 gắn liền với quyền sử dụng đất thuộc thửa số 389 thửa mới là 43 , t bản đồ số 14 mới là 20 , di n t ch 227,7m2 t a lạc tại số 41 , kh m TQĐ, phư ng T , thành phố V, tỉnh Vĩnh ong.
Nguồn gốc nhà, đất do chị và anh N nhận chuyển như ng của ông M vào năm 2012 tại thửa đất số 389, t bản đồ số 14, loại đất trồng cây lâu năm. H p đồng chuyển như ng ghi giá 30.000.000đ nhưng giá thực tế là 250.000.000đ từ nguồn tiền của chị và anh N dành dụm và đư c ông Trần Văn T (là cha ruột anh N) cho chung chị và anh N là 150.000.000đ. au đ , chị và anh N xin chuyển mục đ ch sử dụng lên thổ cư 100m2 và cất 01 căn nhà cấp 4 tr n đất, hi n nay do anh N quản lý, sử dụng và sinh sống cùng với hai con chung là K và K. Các con đều còn nhỏ, không có công sức đ ng g p trong khối tài sản này và nơi đây anh N hành nghề sửa xe từ năm 2012 cho đến nay.
Năm 2012, chị và anh N nhận chuyển như ng đất với giá là 250.000.000đ, nhưng vào ngày 27/01/2021, Hội đồng định giá định b ng 124.479.000đ là thấp hơn so với giá chuyển như ng n n chị không đồng ý. hị yêu cầu Tòa án lấy giá nhà đất là 1.200.000.000đ làm giá thị trư ng để giải quyết vụ án. Hi n nay chị đang thu nhà sống với con chung là NY, nên yêu cầu anh N chia tài sản để chị tạo lập chỗ ở khác. Chị đồng ý giao anh N nhận nhà, đất và yêu cầu anh N hoàn lại cho chị giá trị nhà, đất b ng số tiền 600.000.000đ. Nếu anh N không đồng ý hoàn lại giá trị thì chị y u cầu anh N giao nhà, đất cho chị và chị hoàn lại cho anh N 600.000.000đ.
01 chiếc e mô tô hi u pord màu đỏ, biển số 64B2-157.05: Mua năm 2018 với giá giá 100.000.000đ, do anh N đứng t n sở hữu. Xe này anh N thừa nhận đ bán xe cho anh Trần Thanh H giá 50.000.000đ vào tháng 3/2020 n n chị chấp nhận giá xe là 50.000.000đ và y u cầu anh N chia chị số tiền 25.000.000đ.
Về n chung:
+ Chị và anh N n Agribank chi nhánh thành phố V - Phòng giao dịch MT số tiền 200.000.000đ, vay vào ngày 26/11/2019 theo H p đồng t n dụng số 7301-LAV-201901825. Khi vay có thế chấp tài sản là thửa đất số 389 thửa mới là 43). Chị yêu cầu chia đôi trách nhi m trả n trong đ , mỗi ngư i trả 100.000.000đ n gốc. Hi n tại anh N sử dụng nhà, nên phần lãi suất thì anh N có trách nhi m trả tiếp.
N chị Phan Thị Hồng N số tiền 50.000.000đ y u cầu chia đôi, mỗi ngư i trả 25.000.000đ. Nay chị D xin rút lại yêu cầu này và sẽ tự thỏa thuận với chị N.
- Bị đơn N trình bày:
nh thống nhất với l i trình bày của chị D về nguồn gốc hình thành các tài sản chung cũng như quá trình quản lý, sử dụng và công sức đ ng g p; số n của chị N là n riêng của chị D; số n Ngân hàng 200.000.000đ, anh đồng ý chia đôi n gốc theo yêu cầu của chị D, riêng phần lãi suất không yêu cầu chị D trả và anh sẽ tiếp tục đ ng l i cho đến khi nào thanh toán xong n gốc theo thỏa thuận h p đồng.
Đối với nhà, đất: nh N đồng ý nhận nhà, đất và hoàn lại ½ giá trị nhà, đất cho chị D, vì đây là nơi ở duy nhất của anh và hai con đồng th i cũng là nơi anh làm nghề sửa xe từ năm 2012 đến nay. Anh không đồng ý giá nhà, đất là 1.200.000.000đ theo y u cầu của chị D và chỉ thống nhất giá trị nhà là 170.129.247đ theo bi n bản định giá ngày 27/01/2021, còn về giá đất thì anh đề nghị lấy giá đất theo giá thẩm định của Ngân hàng năm 2019 là 300.432.000đ làm giá thị trư ng để giải quyết vụ án.
Đối xe mô tô: nh thừa nhận trong th i k hôn nhân thì v chồng c chiếc e theo như trình bày của chị nhưng không đồng ý chia đôi, vì tiền mua xe là tiền riêng của anh đ mư n tiền của bạn bè mua xe để bán lại và đ sử dụng số tiền này để trả cho bạn bè hết không còn.
Ngoài ra vào khoảng tháng 11/2021, anh có sửa chữa nhà tạm ph a trước là thay cửa trước và đập bức tư ng nới chiều rộng thêm 01m, chiều dài 8m để sửa xe và không có sửa chữa thêm gì khác. Về chi phí sửa chữa khoảng 30.000.000đ nhưng không y u cầu giải quyết trong vụ án này.
Đối với số tiền 150.000.000đ: Ông Trần Văn T là cha ruột anh cho ri ng anh để mua đất, không phải cho chung v chồng như l i trình bày của anh tại biên bản hòa giải ngày 10/7/2020 và ngày 17/7/2020 của Tòa án nhân dân thành phố V. Khi cho tiền thì ông Tho chỉ nói mi ng và không có làm giấy t nên anh không cung cấp tài li u, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án đư c.
- Người có quyền lợi, nghĩa v liên quan Ngân hàng N gọi t t là Ngân hàng do ông Lư Nhật B là người đại diện hợp pháp trình bày:
Vào ngày 26/11/2019, Ngân hàng cho anh N vay 200.000.000đ theo H p đồng t n dụng số 7301-LAV-201901825, ngày trả n cuối cùng là 15/10/2022. Mục đ ch vay chăn nuôi; lãi suất tại th i điểm ký h p đồng là 11%/năm; tài sản đảm bảo n vay là thửa đất số 43, t bản đồ số 20, di n t ch 229,8m2, lại đất ở và đất trồng cây lâu năm cùng tài sản gắn liền tr n đất, t a lạc tại số 41 , kh m Tân Quới Đông, phư ng Trư ng n, thành phố V, tỉnh Vĩnh ong theo h p đồng thế chấp số 7301 2019001743 ngày 26/11/2019.
Nay Ngân hàng y u cầu anh N và chị D thanh toán n gốc và lãi cho Ngân hàng tính đến ngày 06/6/2022 là 200.361.644đ trong đ (n gốc 200.000.000đ, n lãi là 361.644đ). Trư ng h p anh N và chị D không thực hi n trả n thì yêu cầu ơ quan Thi hành án dân sự phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi n . Phía Ngân hàng xin vắng mặt trong các phiên hòa giải, xét xử.
- Người có quyền lợi, nghĩa v liên quan chị han Thị H ng N trình bày:
Chị N không yêu cầu độc lập trong vụ án này đối với số tiền 50.000.000đ và sẽ tự thỏa thuận giải quyết với chị D, đồng th i in đư c vắng mặt trong các phiên tòa xét xử sơ thẩm, phúc thẩm.
- Người có quyền lợi, nghĩa v liên quan ông Trần Văn T trình bày:
Ông là cha của anh N và c cho ri ng anh N 150.000.000đ để mua thửa đất số 389. Nay ông yêu cầu Tòa án xem xét tính vào tỷ l đ ng g p phần cho riêng anh N và chia cho anh N 150.000.000đ khi phân chia tài sản sau khi ly hôn giữa chị D với anh N và giao cho anh N nhận nhà, đất để sinh sống và làm nghề sửa xe.
- Tại phiên tòa sơ thẩm: Chị D có cung cấp tài li u để chứng minh giá đất là 1.200.000.000đ theo thỏa thuận chuyển như ng đất và tài sản gắn liền với đất vào ngày 13/10/2021 giữa chị với anh Lê Hoàng D và H p đồng đặt c c chuyển như ng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất. Đối với các tài sản là vật dụng trong nhà thì chị và anh N sẽ tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết. Trư ng h p anh N không đồng ý hoàn lại ½ giá trị nhà, đất cho chị là 600.000.000đ thì chị yêu cầu chia b ng hi n vật, mỗi ngư i nhận ½ di n tích nhà, đất để chị và con có chỗ ở ổn định.
- Tại bản án sơ thẩm số 40/2022/HNGĐ-ST ngày 08/6/2022 của Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Vĩnh Long đã tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi ki n của chị D.
Buộc anh N hoàn ½ giá trị chiếc e mô tô hi u pord, màu đỏ, biển số 64B2-157.05 cho chị D b ng số tiền 25.000.000đ hai mươi lăm tri u đồng);
Buộc anh N hoàn ½ giá trị nhà, đất cho chị D b ng số tiền 250.000.000đ hai trăm năm mươi tri u đồng).
Buộc chị D giao anh N quyền sở hữu, quyền sử dụng 01 nhà ở cấp 4 gồm nhà chính có kết cấu khung bê tông cốt thép, mái tol, có trần, vách tư ng độc lập, nền lót gạch men, di n tích 79,79m2; nhà tạm ph a trước có kết cấu khung tiền chế, mái tole, không trần, vách tư ng chưa tô, nền gạch men, di n tích 15,68m2; nhà tiền chế bên hông nhà chính có kết cấu khung tiền chế, mái tole, không trần, khung vách, nền láng i măng, di n tích 20,2m2; nhà tiền chế phía sau có kết cấu khung tiền chế, mái tole, không trần, không vách, nền i măng, di n tích 6,32m2; quyền sử dụng đất di n t ch 227,7m2 đất ở 100m2, đất trồng cây lâu năm 127,7m2 thuộc thửa 43, t bản đồ số 20, t a lạc tại số 41 , kh m TQĐ, phư ng T , thành phố V, tỉnh Vĩnh ong.
Kèm theo tr ch đo bản đồ địa ch nh khu đất ngày 16/4/2021 của hi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố V; biên bản định giá ngày 27/01/2022 và biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 10/02/2022).
nh N đư c k khai, đăng ký quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở theo quy định của pháp luật.
2. Đình chỉ xét xử đối với vi c chị D yêu cầu anh N li n đới trả chị N n vay 50.000.000đ. ành cho chị N quyền khởi ki n một vụ ki n khác về số tiền cho chị D vay 50.000.000đ khi c y u cầu.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về phần yêu cầu độc lập của ngư i có quyền l i nghĩa vụ liên quan, án ph sơ thẩm, chi phí tố tụng, quyền yêu cầu và nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo luật định.
- Ngày 20/6/2022, nguyên đơn chị D kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giải quyết sửa án sơ thẩm theo hướng ác định giá trị tài sản chung là nhà, đất tính theo giá thị trư ng để buộc bị đơn anh N hoàn lại cho chị ½.
- Tại phiên tòa phúc thẩm:
Chị D không có cung cấp tài li u, chứng cứ mới, vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi ki n và yêu cầu kháng cáo chia cho chị ½ giá trị nhà, đất theo định giá tại cấp phúc thẩm đối với đất ở c đơn giá 6.500.000đ/m2, đất trồng cây lâu năm đơn giá 3.464.856đ/m2, giá nhà là 173.404.376đ nhưng trong đ c 30.000.000đ của anh N bỏ ra để sửa chữa nhà. Đồng th i, giao cho anh N tiếp tục quản lý, sử dụng nhà, đất.
- Quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày:
Án sơ thẩm giao cho anh N sở hữu và sử dụng nhà, đất tại số 41 , kh m TQĐ, phư ng T , thành phố V, tỉnh Vĩnh ong và hoàn lại giá trị nhà, đất cho chị D phù h p, nhưng chị D yêu cầu tăng giá trị tài sản theo định giá tại cấp phúc thẩm nên cần thiết tính đến công sức đ ng g p của anh N nhiều hơn chị . Đề nghị Hội đồng xét xử chia cho N 70% giá trị nhà, đất và chia cho chị D là 30%. Bị đơn anh N không có cung cấp tài li u, chứng cứ mới và thống nhất với quan điểm của ngư i bảo v quyền và l i ích h p pháp của anh và không có ý kiến bổ sung.
- Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân nhân tỉnh Vĩnh Long:
Về tính h p pháp của kháng cáo: Nguyên đơn kháng cáo đ thực hi n đúng thủ tục và th i hạn theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, nên Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long thụ lý giải quyết theo thủ tục phúc thẩm là phù h p.
Về tuân theo pháp luật của những ngư i tiến hành tố tụng và ngư i tham gia tố tụng đ thực hi n đầy đủ theo đúng thủ tục của pháp luật tố tụng dân sự quy định.
Về nội dung giải quyết vụ án: Áp dụng khoản 2 Điều 308 và Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn chị D. Sửa một phần Bản án sơ thẩm số 40/2022/HNGĐ-ST ngày 08/6/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.
Chia giá trị nhà, đất cho anh N đư c hưởng 70% và chia cho chị D đư c hưởng là 30%. Do sửa án sơ thẩm n n đương sự kháng cáo không phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm và riêng nghĩa vụ chịu án ph sơ thẩm đư c ác định lại theo quy định của pháp luật. Đối với các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị, có hi u lực pháp luật kể từ ngày hết th i hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Phần tranh luận: ác đương sự và ngư i bảo v quyền và l i ích h p pháp của đương sự không tranh luận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng:
- Bị đơn kháng cáo thực hi n đúng thủ tục và th i hạn theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, đư c Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long thụ lý giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
- Ngư i có quyền l i nghĩa vụ li n quan không c kháng cáo và c đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành phiên tòa xét xử vắng mặt h .
Xét nội dung kháng cáo:
2.1. Xét kháng cáo của nguyên đơn D:
Chị D kháng cáo yêu cầu anh N hoàn lại cho chị ½ giá trị nhà, đất theo định giá tại cấp phúc thẩm đối với đất ở c đơn giá 6.500.000đ/m2, đất trồng cây lâu năm c đơn giá 3.464.856đ/m2, giá nhà là 173.404.376đ.
Tại cấp phúc thẩm, chị đồng ý tiếp tục giao cho anh N sở hữu và sử dụng nhà, đất tại số 41 , kh m TQĐ, phư ng T , thành phố V, tỉnh Vĩnh ong và hoàn lại cho chị D ½ giá trị nhà, đất.
Xét án sơ thẩm, có xem xét công sức đ ng g p của v , chồng vào vi c tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung, nhưng tại phi n tòa sơ thẩm do anh N đưa ra tổng trị giá nhà, đất tính tròn là 500.000.000đ và không yêu cầu tính công sức đ ng g p, án sơ thẩm nhận định tổng giá trị nhà, đất là 500.000.000đ và buộc anh N hoàn lại cho chị D ½ giá trị nhà, đất là 250.000.000đ.
Tuy nhiên, chị D kháng cáo yêu cầu tăng giá trị nhà, đất theo kết quả định giá tại cấp phúc thẩm so với án sơ thẩm đ tuy n, đồng th i yêu cầu anh N hoàn lại cho chị ½ giá trị nhà đất. Anh N không có kháng cáo về giá trị nhà, đất và tại cấp phúc thẩm anh N thống nhất giá trị nhà, đất theo kết quả định giá tại cấp phúc thẩm nhưng phải t nh đến công sức đ ng g p của anh nhiều hơn chị D.
ăn cứ vào Biên bản định giá tài sản tại cấp phúc thẩm vào ngày 18/8/2002 ác định giá trị nhà, đất đư c t nh như sau:
Đất ở trị giá: (100m2 x 6.500.000đ/m2) = 650.000.000đ.
Đất trồng cây lâu năm trị giá: (127,7m2 x 3.464.856đ/m2) = 442.462.111đ, tính tròn là 442.462.000đ.
Tổng cộng đất: 1.092.462.000đ
+ Trị giá nhà: 173.404.376đ, tính tròn 173.404.000đ.
Như vậy, trị giá đất đư c định giá tại cấp phúc thẩm chênh l ch tăng so với cấp sơ thẩm là: (1.092.462.000đ – 500.000.000đ = 592.462.000đ. Tại cấp sơ thẩm, anh N đưa ra tổng trị giá nhà, đất là 500.000.000đ để chia cho mỗi bên ½ là chưa tính yếu tố công sức đ ng g p của v , chồng vào vi c tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung này.
Vì vậy, căn cứ kết quả định giá tại cấp phúc thẩm làm cơ sở để chia tài sản chung, đồng th i khi chia tài sản phải t nh đến các yếu tố như: Hoàn cảnh gia đình của v , chồng; công sức đ ng g p của v , chồng vào vi c tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung này; bảo v l i ch ch nh đáng của mỗi bên trong kinh doanh và nghề nghi p để các bên có điều ki n tiếp tục lao động tạo thu nhập là mới đảm bảo quyền l i của các bên và phù h p với quy định tại các điểm a, b, c khoản 2 Điều 59 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Xét về nguồn gốc nhà, đất: Anh N và chị đều thừa nhận vào năm 2012 có nhận chuyển như ng phần đất di n t ch 227,7m2 trong đ đất ở 100m2, đất trồng cây lâu năm 127,7m2 , thửa 43, t bản đồ số 20, t a lạc tại kh m TQĐ, phư ng T , thành phố V, tỉnh Vĩnh ong, với giá 250.000.000đ trong đ từ nguồn tiền của anh chị là 100.000.000đ, của ông Trần Văn T (cha ruột anh N) tặng cho chung là 150.000.000đ. au đ , chuyển mục đ ch sử dụng đất lên thổ cư 100m2 và cất 01 căn nhà cấp 4 tr n đất.
Như vậy, tại th i điểm này nguồn tiền đ ng g p của ông T là 60%, của anh N và chị D mỗi ngư i 20% để sang như ng đất, hi n nay giá trị đất tăng là do trư t giá và đư c tính theo giá thị trư ng. Sau khi ly hôn, anh N tiếp tục quản lý, sử dụng nhà đất cho đến nay và có sửa chữa xây dựng thêm chi phí là 30.000.000đ đư c chị D thừa nhận. Đồng th i, xét điều ki n hoàn cảnh hi n nay, anh N nuôi 02 con chung là Trần Thế K, sinh năm 2007 và Trần Xuân K, sinh năm 2013, hi n nay 02 con đang đi h c; chị D nuôi cháu Trần Lê NY, sinh năm 2019 và các bên không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Anh N mở ti m sửa chữa xe mô tô tại nhà là nguồn thu nhập ch nh để nuôi 02 con ăn h c, còn chị D mua bán nhỏ để nuôi con.
Với các yếu tố nêu trên, chia cho anh N tỷ l 2/3 và chia cho chị D tỷ l 1/3 đối với phần đất là thỏa đáng và phù h p luật định. Đới với căn nhà trị giá là 173.404.000đ, đư c trừ vào số tiền 30.000.000đ của anh N sửa chữa nhà, số tiền còn lại đư c chia đôi.
Từ những nhận định trên, xét kháng cáo của chị đư c chấp nhận một phần nên sửa một phần bản án sơ thẩm là giao cho anh N đư c quyền sở hữu và sử dụng nhà, đất. Anh N có trách nhi m hoàn lại cho chị D 1/3 giá trị đất b ng số tiền là: (1.092.462.000đ x 1/3) = 364.154.000đ và giá trị nhà b ng số tiền là: (173.404.000đ – 30.000.000đ : 2 = 71.702.000đ. Tổng cộng trị giá nhà, đất hoàn lại là 435.856.000đ.
Anh N đư c chia giá trị đất là: (1.092.462.000đ 2/3) = 728.308.000đ và giá trị nhà b ng số tiền là 71.702.000đ. Tổng cộng trị giá nhà, đất đư c chia là 800.010.000đ.
Về án phí:
Do cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm n n nguy n đơn kháng cáo không phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm, đồng th i đối với án phí dân sự sơ thẩm đư c ác định lại theo quy định tại khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và l phí Tòa án.
3.1. Anh N phải chịu tiền án phí dân sự tương ứng với giá trị phần tài sản đư c chia là 800.010.000đ cộng với số tiền đư c hưởng ½ giá trị xe mô tô là 25.000.000đ và đư c trừ đi khoản n trả cho Ngân hàng N là 100.361.644đ, cụ thể b ng số tiền là: 32.985.000đ.
3.1. Chị D phải chịu tiền án phí dân sự tương ứng với giá trị phần tài sản đư c chia là 435.856.000đ cộng với số tiền đư c hưởng ½ giá trị xe mô tô là 25.000.000đ và đư c trừ đi khoản n trả cho Ngân hàng N là 100.000.000đ, cụ thể b ng số tiền là: 18.042.000đ.
Về chi phí tố tụng:
Do không thỏa thuận đư c nên chị D và anh N mỗi bên phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản theo tỷ l giá trị phần tài sản đư c chia.
Chi phí tại cấp sơ thẩm là 2.300.000đ và tại cấp phúc thẩm là 2.585.000đ. Tổng cộng là: 2.300.000đ 2.585.000đ = 4.885.000đ, anh N phải chịu tỷ l 2/3 b ng số tiền: 4.885.000đ 2/3) = 3.257.500đ, hị D phải chịu tỷ l 1/3 b ng số tiền: 4.885.000đ 1/3) = 1.628.000đ. o chị đ nộp tạm ứng trước nên anh N phải hoàn lại cho chị D là 3.257.000đ.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm về nghĩa vụ hoàn giá trị xe mô tô, đình chỉ xét xử đối với yêu cầu li n đới trả n , ghi nhận sự tự nguy n của đương sự về cây trồng tr n đất và các vật dụng trong nhà, yêu cầu độc lập của Ngân hàng, trả tiền tạm ứng án phí cho Ngân hàng không bị kháng cáo, kháng nghị, có hi u lực pháp luật kể từ ngày hết th i hạn kháng cáo, kháng nghị.
Xét quan điểm của đại di n Vi n kiểm sát và quan điểm của ngư i bảo v quyền và l i ích h p pháp cho bị đơn là có cơ sở chấp nhận một phần.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
ăn cứ vào khoản 2 Điều 308 và Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Chấp nhận một phần kháng cáo của chị Lê Thị D về chia tài sản chung.
Sửa một phần Bản án sơ thẩm số 40/2022/HNGĐ-ST, ngày 08/6/2022 của Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.
ăn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 148, 157, 165, 186, 227, 228, 217 và 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 27 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000;
ăn cứ các Điều 33, 59, 60 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 2 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thư ng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, l phí Tòa án.
Tuyên xử:
[1] Chấp nhận một phần yêu cầu khởi ki n của chị D.
1.1. Giao cho anh N đư c quyền sử dụng phần đất di n t ch 227,7m2 trong đ đất ở 100m2, đất trồng cây lâu năm 127,7m2), thửa 43, t bản đồ số 20, tại số 41 , kh m TQĐ, phư ng T , thành phố V, tỉnh Vĩnh ong và đư c quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
Kèm theo trích đo bản đ địa chính khu đất ngày 16/4/2021 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Vĩnh Long và biên bản định giá ngày 11/8/2022).
Anh N đư c kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật.
1.2. Buộc anh N hoàn trả lại cho chị D giá trị nhà, đất b ng số tiền 435.856.000đ (bốn trăm ba mươi lăm triệu, tám trăm năm mươi sáu nghìn đ ng).
Kể từ ngày c đơn y u cầu thi hành án của ngư i đư c thi hành án, nếu ngư i phải thi hành án chưa thi hành xong khoản tiền có nghĩa vụ phải trả, thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với th i gian chậm trả theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
[2] Về án phí:
2.1. Chị D không phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm. Buộc chị D phải nộp 18.042.000đ mười tám triệu, không trăm bốn mươi hai nghìn đ ng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, đư c khấu trừ vào số tiền 13.000.000đ mười ba triệu đ ng) đ nộp tạm ứng án phí sơ thẩm theo biên lai thu số 0005829 ngày 04/11/2020 và số tiền 300.000đ ba trăm nghìn đ ng) đ tạm ứng án phí phúc thẩm theo biên lai thu số 0001315 ngày 24/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố V, nên buộc chị D phải nộp thêm số tiền 4.742.000đ (Bốn triệu, bảy trăm bốn mươi hai nghìn đ ng).
2.2. Buộc anh N phải nộp 32.985.000đ (ba mươi hai triệu, chín trăm tám mươi lăm nhìn đ ng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
[3] Về chi phí tố tụng:
Buộc anh N có trách nhi m hoàn trả lại cho chị D số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 3.257.000đ (ba triệu, hai trăm năm mươi bảy nghìn đ ng).
[4] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm về nghĩa vụ hoàn giá trị e mô tô, đình chỉ xét xử đối với yêu cầu li n đới trả n , ghi nhận sự tự nguy n của đương sự về cây trồng tr n đất và các vật dụng trong nhà, yêu cầu độc lập của Ngân hàng, trả tiền tạm ứng án phí cho Ngân hàng không bị kháng cáo, kháng nghị, có hi u lực pháp luật kể từ ngày hết th i hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trư ng h p bản án, quyết định đư c thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngư i đư c thi hành án dân sự, ngư i phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguy n thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; th i hi u thi hành án đư c thực hi n theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hi u lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TANDCC tại TP.HCM - VKSND tỉnh Vĩnh Long; - CA TAND tỉnh Vĩnh Long; - TAND TP V; - CC THADS TP V; - ác đương sự; - ưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Nguyên Khoa |