vanban.org

Bản án 23/2019/KDTM-ST — Tranh chấp về cung ứng dịch vụ

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.

Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về cung ứng dịch vụ — án kinh doanh thương mại — "Báo L kiện đòi tiền công ty M"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP Hướng dẫn một số quy định tại…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2019/KDTM-ST.
Ngày: 27/11/2019.
V/v tranh chấp: Hợp đồng dịch vụ quảng cáo

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Chu Tuấn Anh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Thế Kỷ

2. Bà Nguyễn Thị Hiền

Thư ký phiên toà: Ông Trần Anh Quang – Thư ký Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy tham gia phiên tòa: Ông Ngô Ngọc Quảng - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Cầu Giấy xét xử công khai sơ thẩm vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 33/2019/TLST-KDTM ngày 26 tháng 3 năm 2019 về tranh chấp: Hợp đồng dịch vụ quảng cáo, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 102/2019/QĐXX-ST ngày 22 tháng 10 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 95/2019/QĐST-KDTM ngày 11/11/2019, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Báo L

Địa chỉ: 51 đường H, phường H , quận Hoàn Kiếm, Hà Nội

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Ngọc H - Tổng biên tập

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Vũ T - Luật sư

Bị đơn: Công ty cổ phần Truyền thông M

Địa chỉ trụ sở theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh: 12 đường H , phường N , quận Cầu Giấy, Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Như H - Chủ tịch hội đồng quản trị.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Báo Lao Động trình bày:

Ngày 01/6/2016, Báo L và Công ty cổ phần truyền thông M (tắt là MC) ký kết hợp đồng nguyên tắc quảng cáo trên Báo L năm 2016 số 1352016/HĐKT. Theo đó, Báo L đăng quảng cáo của Công ty cổ phần truyền thông M trên Báo L từ ngày 01/01/2016 đến 31/12/2016 cho các khách hàng của Công ty cổ phần truyền thông M bao gồm quảng cáo trên báo in và các ấn phẩm khác. Tổng giá trị hợp đồng là: 2.500.000.000 đồng. Giá cả cụ thể của từng quảng cáo áp dụng theo biểu giá chính thức của Báo L tại từng thời điểm.

Theo biên bản đối chiếu công nợ ngày 08/6/2019, Công ty cổ phần truyền thông M còn nợ Báo L số tiền 565.495.805 đồng và Theo biên bản làm việc ngày 05/7/2017 số nợ còn lại là: 535.495.805 đồng. Căn cứ công văn 856-2017/CV ngày 10/11/2017, tính đến ngày 31.10.2017, tổng công nợ Công ty M phải thanh toán cho Báo L số tiền: 515.495.805 đồng. Báo L đồng ý bù trừ công nợ 94.355.100 đồng gồm: Thưởng năm 2016+1/4 trang QC màu; thưởng 2015 chưa đăng; Quy đổi 91 thùng sữa với điều kiện MC phải thanh toán toàn bộ số công nợ trên cho Báo L trước ngày 31.12.2017. Tuy nhiên đến nay MC không thực hiện yêu cầu của Báo L tại công văn này. Do vậy, Báo L chỉ đồng ý bù trừ khoản quy đổi 91 thùng sữa tương đương 16.661.700 đồng. Từ ngày 11/11/2017 đến ngày 29/8/2019, MC đã thanh toán cho Báo L số tiền 07 đợt với tổng số tiền là: 17.000.000 qua chuyển khoản. Như vậy tính đến ngày 29/8/2019, Công ty cổ phần truyền thông M còn nợ Báo L số tiền: 515.495.805 đồng – 16.661.700 đồng – 17.000.000 đồng = 481.834.105 đồng.

Mức lãi suất tiền gửi trung bình của Ngân hàng công thương Việt Nam tính từ ngày 01.01.2018 đến ngày 29.8.2018 (1 năm, 07 tháng, 29 ngày) là 6,8%/năm. Số tiền lãi phát sinh từ ngày 01.01.2018 tính đến ngày 29/8/2019 là: 481.834.105 đồng x 6,8%/năm x 1,65 = 54.061.787 đồng.

Tổng số công nợ và số tiền lãi Báo L yêu cầu Công ty cổ phần truyền thông M tính đến ngày 29/8/2019 là: 481.834.105+54.061.787 đồng = 535.895.892 đồng.

Từ ngày 30/8/2019 đến ngày 27/11/2019, MC không thanh toán bất kỳ khoản tiền nào cho Báo L . Do vậy, số tiền lãi phát sinh từ ngày 30/8/2019 đến ngày 27/11/2019 (89 ngày) là: 481.834.105 x 6,8% x (89:365) = 7.989.205 đồng.

Vậy tổng số công nợ và số tiền lãi phát sinh mà MC có nghĩa vụ phải thanh toán cho Báo L tính đến ngày 27/11/2019 là:

Tiền gốc: 481.834.105 đồng

Tiền lãi: 54.061.787 đồng + 7.989.205 đồng = 62.050.992 đồng

Tổng cộng: 481.834.105 đồng + 62.050.992 đồng = 543.885.097 đồng

Ngoài ra, kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử, nếu Công ty cổ phần truyền thông M không trả nợ thì nguyên đơn yêu cầu Công ty cổ phần truyền thông M còn phải chịu lãi suất 6,8% trên tổng số tiền gốc và lãi 543.885.097 đồng.

Báo L không biết trụ sở hoạt động hiện nay của Công ty cổ phần truyền thông M ở đâu mặc dù nhiều lần liên lạc nhưng không thể gặp được người đại diện theo pháp luật của bị đơn. Mặc dù thỉnh thoảng Công ty cổ phần truyền thông M có trả nợ (chuyển khoản) cho Báo L một số tiền rất ít như đã trình bày.

*Ngoài ra, Báo L không có bất kỳ yêu cầu nào khác.

* Quá trình giải quyết vụ án: Tòa án xác định bị đơn Công ty cổ phần truyền thông M có trụ sở theo đăng ký kinh doanh tại Số 12 đường Hoàng Quốc Việt, phường N , quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội nhưng không còn hoạt động tại địa chỉ này nữa. Ông Lê Như H là giám đốc Công ty cổ phần truyền thông M hiện không rõ cư trú ở đâu. Tuy nhiên, Công ty cổ phần truyền thông M thỉnh thoảng vẫn thanh toán cho Báo L một số tiền qua chuyển khoản, lần gần đây nhất là 20/8/2019 thanh toán 1.000.000 đồng.

Tại phiên tòa hôm nay:

- Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng có bản tự khai nộp tòa ngày 26/11/2019 và có đơn xin xét xử vắng mặt.

Tại bản tự khai ngày 26/11/2017, nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc công ty cổ phần truyền thông M trả cho Báo L :

Tiền gốc: 481.834.105 đồng

Tiền lãi: 54.061.787 đồng + 7.989.205 đồng = 62.050.992 đồng

Tổng cộng: 481.834.105 đồng + 62.050.992 đồng = 543.885.097 đồng

Ngoài ra, kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử, nếu Công ty cổ phần truyền thông M không trả nợ thì nguyên đơn yêu cầu Công ty cổ phần truyền thông M còn phải chịu lãi suất 6,8% trên tổng số tiền gốc và lãi 543.885.097 đồng.

- Bị đơn Công ty cổ phần truyền thông M vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa.

* Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy tham gia phiên tòa có ý kiến: Quá trình tiến hành tố tụng giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến phiên tòa xét xử hôm nay, thẩm phán và hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã tiến hành tố tụng theo đúng các trình tự thủ tục mà Bộ luật tố tụng dân sự quy định. Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng. Bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy đề nghị: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Báo L , Buộc Công ty cổ phần truyền thông M thanh toán trả cho B :

Tiền gốc: 481.834.105 đồng

Tiền lãi: 62.050.992 đồng

Tổng cộng: 481.834.105 đồng + 62.050.992 đồng = 543.885.097 đồng

Ngoài ra, kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử, nếu Công ty cổ phần truyền thông M không trả nợ thì nguyên đơn yêu cầu Công ty cổ phần truyền thông M còn phải chịu lãi suất 6,8% trên tổng số tiền gốc và lãi 543.885.097 đồng.

Bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Sau khi xem xét, đánh giá khách quan toàn diện các tài liệu chứng cứ được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Báo L khởi kiện đòi thanh toán tiền theo hợp đồng nguyên tắc quảng cáo đối với Công ty cổ phần truyền thông M có trụ sở theo đăng ký kinh doanh tại 12 đường , phường , quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội. Hợp đồng nguyên tắc quảng cáo trên Báo L số 135 ngày 01/01/2016 giữa Công ty cổ phần truyền thông M và Báo L thực chất là hợp đồng dịch vụ được quy định tại khoản 9 Điều 3 và Điều 74 Luật thương mại năm 2005. Nên quan hệ pháp luật được xác định là tranh chấp hợp đồng dịch vụ quảng cáo, thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy theo quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Quá trình giải quyết vụ án: tòa án xác định bị đơn Công ty cổ phần truyền thông M có trụ sở theo đăng ký kinh doanh (đồng thời là địa chỉ giao dịch thể hiện tại Hợp đồng nguyên tắc quảng cáo trên Báo L năm 2016) tại số 12 đường H, phường N, quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội nhưng không còn hoạt động tại địa chỉ này nữa. Ông Lê Như H là giám đốc Công ty cổ phần truyền thông M hiện không rõ cư trú ở đâu. Tuy nhiên, Công ty cổ phần truyền thông M thỉnh thoảng vẫn trả tiền cho Báo L theo hình thức chuyển khoản chứng tỏ Công ty cổ phẩn truyền thông M cố tình dấu địa chỉ. Do vậy, Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy đã tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung và niêm yết các văn bản tố tụng đối với Công ty cổ phần truyền thông M theo quy định tại Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao.

Báo L vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Công ty cổ phần truyền thông M vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do chính đáng nên tòa án xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về việc ký kết, thực hiện hợp đồng nguyên tắc quảng cáo trên Báo L số 135 ngày 01/01/2016 giữa Công ty cổ phần truyền thông M và Báo L.

Quá trình thực hiện hợp đồng, Báo L đã thực hiện đúng nghĩa vụ theo hợp đồng thể hiện tại các phụ lục hợp đồng năm 2016. Trên cơ sở đó, các bên đã nhiều lần ký xác nhận công nợ năm 2016.

Theo biên bản đối chiếu công nợ ngày 08/6/2019, Công ty cổ phần truyền thông M còn nợ Báo L số tiền 565.495.805 đồng và Theo biên bản làm việc ngày 05/7/2017 số nợ còn lại là: 535.495.805 đồng. Căn cứ công văn 856-2017/CV-ngày 10/11/2017, tính đến ngày 31.10.2017, tổng công nợ MC phải thanh toán cho Báo L số tiền: 515.495.805 đồng. Báo L đồng ý bù trừ công nợ 94.355.100 đồng gồm: Thưởng năm 2016+1/4 trang QC màu; thưởng 2015 chưa đăng; Quy đổi 91 thùng sữa với điều kiện MC phải thanh toán toàn bộ số công nợ trên cho Báo L trước ngày 31.12.2017. Tuy nhiên, MC không thực hiện yêu cầu của Báo L tại công văn này. Do vậy, Báo L chỉ đồng ý bù trừ khoản quy đổi 91 thùng sữa tương đương 16.661.700 đồng. Từ ngày 11/11/2017 đến ngày 29/8/2019, MC đã thanh toán cho Báo L số tiền 07 đợt với tổng số tiền là: 17.000.000 qua chuyển khoản. Như vậy tính đến ngày 29/8/2019, Công ty cổ phần truyền thông M còn nợ Báo L số tiền: 515.495.805 đồng – 16.661.700 đồng – 17.000.000 đồng = 481.834.105 đồng.

Như vậy có thể thấy rõ Công ty cổ phần truyền thông M đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán đối với Báo L được quy định tại Điều 85, 87 Luật thương mại năm 2005. Do vậy, Báo L yêu cầu Công ty cổ phần truyền thông M phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền theo hợp đồng với số tiền 481.834.105 đồng là có căn cứ chấp nhận.

Xét yêu cầu tính lãi của Báo L : Báo L có thiện chí nên đã tạo điều kiện cho Công ty cổ phần truyền thông M thanh toán trước ngày 31/12/2018 theo công văn 586 ngày 10/11/2017 nhưng bị đơn không thanh toán nên Báo L tính lãi suất từ 01/01/2018 là có căn cứ chấp nhận. Hơn nữa, số tiền gốc tính đến ngày 29/8/2019 là: 481.834.105 nhưng Báo L chỉ yêu cầu tính lãi suất trên số tiền gốc này thể hiện thiện chí của Báo L nên có căn cứ chấp nhận. Xét yêu cầu của Báo L chỉ yêu cầu lãi suất chậm trả là 6,8% hội đồng xét xử nhận thấy: Theo điểm 6.3 Điều 6 của hợp đồng nguyên tắc các bên có thỏa thuận: “Bên A thanh toán cho bên B đầy đủ chi phí đăng quảng cáo của năm 2016 (trước ngày 15/2/2017). Các mức thưởng mà bên A được hưởng sẽ nhận được kể từ khi bên A thanh toán hết các khoản nợ cho bên B. Nếu thanh toán chậm, bên A phải chịu thêm lãi suất cho vay của Ngân hàng Công thương Việt Nam theo mức lãi suất tại thời điểm trả nợ”.

Trên thực tế vào thời điểm các bên ký hợp đồng 01/01/2016 không có Ngân hàng Công thương Việt Nam mà chỉ có Ngân hàng thương mại cổ phần công thương Việt Nam, hơn nữa trong thỏa thuận các bên cũng không nói rõ lãi suất ngắn hạn, trung hạn hay dài hạn cho nên thỏa thuận giữa các bên về lãi suất như vậy là chưa rõ ràng. Việc tính lãi quá hạn về nguyên tắc sẽ thực hiện theo quy định tại Điều 306 Luật thương mại năm 2005: Công ty cổ phần truyền thông M phải trả lãi cho Báo L trên số tiền chậm trả theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán.

Tuy nhiên, dù áp dụng lãi suất cho vay (ngắn, trung hay dài hạn) của Ngân hàng TMCP công thương Việt Nam tại thời điểm từ 01/01/2018 đến nay hay lãi suất trung bình trên thị trường tại thời điểm từ 01/01/2018 đến nay thì các mức lãi suất này đều cao hơn 6,8%. Bởi thực tế mức lãi suất 6,8% là lãi suất trung bình gửi tiết kiệm tại Ngân hàng TMCP công thương Việt Nam từ 01/01/2018 đến nay. Điều này cũng thể hiện thiện chí của nguyên đơn nên việc áp dụng mức lãi suất quá hạn là 6,8% được chấp nhận. Số tiền lãi quá hạn từ 01/01/2018 đến ngày xét xử nguyên đơn yêu cầu là: 62.050.992 đồng.

Tổng số tiền gốc và lãi mà Công ty cổ phần truyền thông M phải trả cho Báo L là: 481.834.105 đồng + 62.050.992 đồng = 543.885.097 đồng

Về lãi suất chậm thi hành án cần áp dụng theo quy định tại Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015. Nguyên đơn cũng chỉ yêu cầu mức lãi suất quá hạn do chậm thi hành án là 6,8% thấp hơn mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 (vào thời điểm xét xử là 10%) cũng là thể hiện sự thiện chí của nguyên đơn nên được chấp nhận.

Về án phí: Công ty cổ phần truyền thông M phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là: 20.000.000 đồng + 4% x 143. 885.097 đồng = 25.755.403 đồng. Hoàn trả Báo L số tiền tạm ứng án phí đã nộp là: 12.609.000 đồng.

Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên!

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng:

- Khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 2 Điều 227, các Điều 228, 271, 273, 278, 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Các Điều 3, 74, 85, 87 Luật thương mại năm 2005

- Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.

- Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao.

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Báo L đối với Công ty cổ phần truyền thông M. Buộc Công ty cổ phần truyền thông M phải trả cho Báo L số tiền còn nợ theo Hợp đồng nguyên tắc quảng cáo trên Báo L năm 2016 được ký kết ngày 01/01/2016, cụ thể:

- Tiền nợ gốc: 481.834.105 đồng (Bốn trăm tám mươi mốt triệu, tám trăm ba mươi tư nghìn, một trăm linh năm đồng).

- Tiền nợ lãi quá hạn tính đến ngày 27/11/2019: 62.050.992 đồng (Sáu mươi hai triệu, không trăm năm mươi nghìn, chín trăm chín mươi hai đồng).

- Tổng nợ gốc và lãi: 543.885.097 đồng (Năm trăm bốn mươi ba triệu, tám trăm tám mươi lăm nghìn, không trăm chín mươi bẩy đồng).

2. Về án phí: Công ty cổ phần truyền thông M phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là: 25.755.403 đồng (Hai mươi lăm triệu, bẩy trăm năm mươi lăm nghìn, bốn trăm linh ba đồng). Hoàn trả Báo L số tiền tạm ứng án phí đã nộp là: 12.609.000 đồng (Mười hai triệu, sáu trăm linh chín nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số AA/2015/0006643 ngày 09/01/2019 của Chi cục thi hành án dân sự quận Cầu Giấy.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, Công ty cổ phần truyền thông M còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất 6,8% cho đến khi thi hành án xong.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm, vắng mặt Báo L , vắng mặt Công ty cổ phần truyền thông M. Báo L và Công ty cổ phần truyền thông M có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ