vanban.org

Bản án 23/2018/HSST — Hình sự

TAND Q. Tân Phú, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 14/03/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Thị Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Xử phạt: Lê Thị Thanh T 12 (mười hai) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 183/2017/HSST ngày 09/11/2017 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án l… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thị Thanh Tâm - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Thị Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN TÂN PHÚ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2018/HSST
Ngày: 14/3/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - TP. HỒ CHÍ MINH

Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Huỳnh Hoàng Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Phạm Đức Hoan

2/ Bà Nguyễn Thị Thanh Phượng

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh là Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Túy Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 15/2018/HSST ngày 22 tháng 01 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử đối với bị cáo:

Họ và tên: LÊ THỊ THANH T; Giới tính: Nữ; Sinh năm: 1974 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 144/134 H, Phường 1, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: B14/19 ấp 2C, xã Vĩnh Lộc B, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 7/12; Con ông Nguyễn Văn K (đã chết) và bà Nguyễn Thị H; Chồng: Phạm Thái D (đã ly hôn); con: có một con sinh năm 1993; Tiền sự: Không; Tiền án: Ngày 09/11/2017 bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng về tội “Trộm cắp tài sản”; Tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/11/2017.

(bị cáo có mặt tại phiên tòa)

Bị hại:

Chị Hoàng Thị Minh H, sinh năm 1971

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 353 N, Phường N, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh;

Chỗ ở: 64 G, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh;

(vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 10/8/2017 do không có tiền tiêu xài nên Lê Thị Thanh T nảy sinh ý định đi trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài. Tâm đi bộ từ phòng trọ địa chỉ số B14/19 ấp 2C, xã Vĩnh Lộc B, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh qua nhiều tuyến đường tìm tài sản để trộm cắp. Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, khi đi đến trước số nhà 64 G, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh thì Tâm phát hiện chiếc xe gắn máy hiệu Honda Dream màu nâu, biển số 51U1-4744 của chị Hoàng Thị Minh H đang dựng trước cửa nhà, không khóa cổ xe và không có người trông coi. Tâm đi tới dùng hai tay dắt xe xuống đường và đi bộ về hướng đường Tân Sơn Nhì, khi đến trước số nhà 76 Gò Dầu thì bị anh Nguyễn Hữu K nhìn thấy truy hô và bắt giữ.

Tại Cơ quan điều tra, Lê Thị Thanh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

Theo bản kết luận định giá tài sản số 263/KL-HĐĐGTS-TTHS ngày 31/8/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Tân Phú thì chiếc xe gắn máy hiệu Honda Dream màu nâu biển số 51U1-4744 trị giá 7.000.000 đồng.

* Vật chứng thu giữ:

- Một (01) xe gắn máy hiệu Honda Dream màu nâu, biển số 51U1-4744, số máy C100ME 0230621, số khung C100M 0230621. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh đã trả lại cho bị hại;

- Một (01) điện thoại di động hiệu ZESZ1 màu trắng có số Imei: 355062112161147. Bị cáo Tâm khai mua để dùng liên lạc cá nhân;

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Thị Thanh T đã thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu và khai nhận: Do không có tiền tiêu xài nên bị cáo đi bộ trên nhiều tuyến đường tìm tài sản sơ hở để trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài. Khi đi đến số nhà 64 G, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị cáo phát hiện có một xe gắn máy hiệu Honda Dream dựng bên đường, không có khóa cổ nên bị cáo đi bộ đến gần, dùng hai tay dắt chiếc xe đi khoảng 15 mét thì bị người dân phát hiện và bắt giữ.

Bản cáo trạng số 27/CT-VKS ngày 18 tháng 01 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Lê Thị Thanh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Căn cứ lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay cũng như xem xét các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lê Thị Thanh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009) đồng thời đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 09 (chín) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: bị hại – chị Hoàng Thị Minh H đã nhận lại tài sản và không có thắc mắc, yêu cầu gì nên không có gì để giải quyết.

Về vật chứng: Một (01) điện thoại di động hiệu ZESZ1 màu trắng có số Imei: 355062112161147. Bị cáo khai đây là tài sản cá nhân, dùng để liên lạc cá nhân. Xét thấy đây là tài sản riêng của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo;

Bị cáo Lê Thị Thanh T nói lời sau cùng: Bị cáo hối hận về việc làm của mình, mong Hội đồng xét xử xét xử một mức án nhẹ để bị cáo có cơ hội sửa sai.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với bản kết luận điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra, bản cáo trạng của Viện kiểm sát, lời khai của người bị hại, người làm chứng, cùng tang vật, các tài liệu chứng cứ khác thu được trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở kết luận bị cáo Lê Thị Thanh T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt một xe gắn máy hiệu Honda Dream qua định giá có giá trị 7.000.000 đồng của chị Hoàng Thị Minh H đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009).

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nó vừa trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu, quản lý tài sản hợp pháp của công dân được Nhà nước và pháp luật bảo hộ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo đã thành niên, đủ khả năng nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác bị pháp luật ngăn cấm và bị trừng trị nhưng do động cơ tham lam, muốn có tiền tiêu xài nên bị cáo đã cố tình thực hiện tội phạm một cách liều lĩnh, bất chấp sự trừng trị của pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết áp dụng hình phạt tù có thời hạn, tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định nhằm mục đích giáo dục, cải tạo bị cáo đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.

Do bị cáo hiện đang chấp hành hình phạt 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng tại bản án hình sự sơ thẩm số 183/2017/HSST ngày 09/11/2017 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh nên cần tổng hợp hình phạt buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án.

Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xét các tình tiết: Tài sản mà bị cáo chiếm đoạt đã được thu hồi lại trả cho người bị hại đầy đủ nên chưa gây ra thiệt hại, tại cơ quan điều tra và trước phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải do đó cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm h, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiên tòa, bị hại là bà Hoàng Thị Minh H vắng mặt nhưng căn cứ vào hồ sơ vụ án xét thấy bị hại đã nhận lại tài sản và không còn có yêu cầu, thắc mắc, khiếu nại gì nên Hội đồng xét xử không có gì phải giải quyết.

Về xử lý vật chứng:

- Một (01) điện thoại di động hiệu ZESZ1 màu trắng có số Imei: 355062112161147, bị cáo khai đây là tài sản cá nhân dùng để liên lạc cá nhân. Hội đồng xét xử xét thấy đây là tài sản riêng của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo;

Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại Khoản 5 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”, do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định và phạm tội ít nghiêm trọng. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009); Điều 38, điểm h, s Điều 51, Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106, Khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên bố bị cáo Lê Thị Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Xử phạt: Lê Thị Thanh T 12 (mười hai) tháng tù.

Tổng hợp với hình phạt 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 183/2017/HSST ngày 09/11/2017 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 21 (hai mươi mốt) tháng tù.

Thời hạn tù được tính từ ngày 10/11/2017.

Miễn khoản tiền phạt bổ sung cho bị cáo.

Trả lại cho bị cáo một điện thoại di động hiệu ZESZ1 màu trắng có số Imei: 355062112161147

(Tình trạng vật chứng theo biên bản thu giữ vật chứng ngày 10 tháng 8 năm 2017 của Công an phường Tân Quý, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh)

Án phí Hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu là 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ