- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ph T Th - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? [1].Tuyên bố: Bị cáo Ph T Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| _______________ Bản án số: 23/2018/HS-ST Ngày 13-03-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Tấn Vinh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Thắm
2. Ông Huỳnh Hoài Nam
- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Văn Như là Thư ký Tòa án nhân dân thành
phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Ánh Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 03 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 07/2018/TLST-HS ngày 08 tháng 02 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2018/QĐXXHS-ST ngày 02 tháng 03 năm 2018 đối với bị cáo:
Ph T Th, Sinh năm: 1987. Nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam. Đăng ký thường trú: số 00, đường 35, phường 9, quận Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh. Tạm trú: ấp Phú Lợi, xã Tân Phú Thạnh, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang. Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: hớt tóc. Con ông: Ph V C, sinh năm: 1955 và bà Ph Th Đ, sinh năm: 1963. Anh, chị em ruột: không. Họ và tên vợ: L H H, sinh năm 1994. Con L P Th Â, sinh năm 2015. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 19 tháng 12 năm 2017 và chuyển tạm giam cho đến nay. (có mặt)
- Người bị hại: Ch B X, sinh năm 1984; Đăng ký thường trú: ấp Tâm Thọ, xã Đại Tâm, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng; Tạm trú:, khóm 1, Phường 7, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: V Tr G, sinh năm 1982; Đăng ký thường trú:, xã Đại Thành, thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 16 giờ 00 phút, ngày 06 tháng 3 năm 2017 các anh C B X cùng với T V H và Ng Th L đến tiệm hớt tóc nam nữ G H của chị Ng T M T, tại, khóm 3, phường 2, Thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng để gội đầu. Khi đi anh Xuân có mang theo túi đựng máy tính xách tay (Laptop) nhãn hiệu sony Vaio Core I7, Ram 8GB, màu xám. Đến tiệm anh X có để túi xách trong góc tiệm hớt tóc, trong tiệm có 02 nhân viên là P T Th và Ph Th H Tr tiếp khách. Khi cắt tóc xong thì cả ba người X, H, L đi nhậu tại quán Hùng Mai trên đường Nguyễn Văn Linh, nhậu được khoảng 30 phút thì X nhớ mình còn quên túi xách đựng Laptop ở tiệm hớt tóc, X nhờ L điện thoại cho T nhờ giữ giùm, khi gọi vào máy của T thì Tr nghe máy và Tr có hỏi Th có thấy túi xách của khách để quên không thì Th trả lời là có. L nói nhờ giữ giùm một lát sau quay lại lấy. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, thì Th lấy túi đồ của Th để đi về thì thấy túi xách của anh X vẫn còn và thấy có Laptop, nên nảy sinh ý định lấy Laptop đem đi bán lấy tiền tiêu xài cá nhân, Th mới lấy Laptop để lên trước ngực và dùng túi đồ che lại. Th đi xe ôm đến ngã ba Trà Men, Th ghé vào quán của bà H Th T M, tại số, phường 6, Thành phố Sóc Trăng uống cafe. Tại đây Th gặp một người thanh niên không rõ tên địa chỉ uống cafe cặp bên, Th hỏi người này có mua Laptop không Th bán, người này ra giá 3.000.000 đồng và Th đồng ý bán, sau khi bán Laptop Th bỏ đi và tiêu xài hết tiền.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 62, ngày 24 tháng 3 năm 2017 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Sóc Trăng kết luận: 01(một) cái Laptop hiệu sony Vaio Core 17, Ram 8GB, màu xám, đã qua sử dụng, giá trị sử dụng còn lại 50%, có giá là 9.250.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 09/CT-VKS.TPST ngày 07 tháng 02 năm 2018 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng đã truy tố bị cáo Ph T Th về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).
Tại tòa, bị cáo thừa nhận cáo trạng truy tố đúng với hành vi bị cáo thực hiện.
Tại toà, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị tuyên bố bị cáo Phạm Tuấn Than phạm tội “Trộm cắp tài sản”; đề nghị áp dụng Khoản 1 Điều 138; điểm b,h,p khoản 1,2 Điều 46; Điều 33 của Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009); đề nghị xử phạt bị cáo từ 06 tháng đến 09 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra gia đình bị cáo Th đã khắc phục cho bị hại số tiền là 12.950.000đồng, nên bị hại X không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm, nên không đặt ra xem xét.
Xử lý vật chứng áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 90 của Bộ luật tố tụng hình sự: Giao Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sóc Trăng tiếp tục quản lý để làm rõ: 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu AIRBLADEFI, biển số 62L1-02235, số máy F27E-0397450, số khung 808AY-349777 và 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô biển số 62L1-02235 đứng tên là Cao Châu Việt Nga Mỹ.
Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Ngoài ra, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Đối với việc vắng mặt người bị hại đã có lời khai làm rõ trong hồ sơ vụ án, không trở ngại đến việc bồi thường thiệt hại, tính quyết định hình phạt. Căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đối với người bị hại.
.Tại phiên tòa bị cáo Ph T Th khai nhận: Bị cáo vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân, nên ngày 06 tháng 3 năm 2017, người bị hại Ch B X bỏ quên túi xách, bị cáo thấy túi xách của anh X có Laptop, nên bị cáo lấy Laptop bán cho người thanh niên không rõ nhân thân, địa chỉ, với giá 3.000.000 đồng, bị cáo tiêu xài hết. Qua định giá tài sản là 01 (một) máy tính xách tay hiệu sony Vaio Core I7, Ram 8GB, màu xám của bị hại Châu Bửu Xuân, có giá là 9.250.000 đồng.
Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại, các chứng cứ và tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định bị cáo đã lợi dụng người bị hại bỏ quên túi xách, bị cáo lấy tài sản của người bị hại có giá trị là 9.250.000 đồng. Nên Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Ph T Th phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009),
Như vậy, Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng truy tố đối với hành vi của bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Xét về nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Xét các tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Sau khi phạm tội, bị cáo đã thành khẩn khai báo; Bị cáo đã khắc phục cho bị hại số tiền là 12.950.000 đồng; Bị cáo có cậu là ông Ph Nh N là liệt sĩ. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b,h,p khoản 1, 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự cần được áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
.Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã được bồi thường xong nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
. Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sóc Trăng thu giữ: 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu AIRBLADEFI, biển số 62L1-02235, số máy F27E-0397450, số khung 808AY-349777 và 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô biển số 62L1-02235 đứng tên là Cao Châu Việt Nga Mỹ. Xét thấy, đây không phải là vật chứng của vụ án nên Hội đồng xét xử giao trả lại cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sóc Trăng để giải quyết theo quy định pháp luật.
. Đối với ông V Tr G qua xét hỏi công khai tại phiên tòa xác định được ông V Tr G không có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gì trong vụ án, ông G là người cho bị cáo mượn xe mô tô nhãn hiệu AIRBLADEFI, biển số 62L1-022.35 sử dụng, Cơ quan Công an phát hiện xe có số khung, số máy không có đăng ký theo giấy đăng ký xe mô tô biển số 62L1-022.35. Nên Hội đồng xét xử đề nghị ông V Tr G liên hệ với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sóc Trăng để giải quyết quyền lợi ích của ông theo quy định pháp luật.
. Xét lời đề nghị của kiểm sát viên về việc áp dụng pháp luật là có căn cứ. Tuy nhiên Kiểm sát viên nhận định xe mô tô biển số 62L1-022.35 và giấy đăng ký là vật chứng vụ án là không phù hợp với Điều 89 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 nên không có căn cứ chấp nhận. Về hình phạt cần xử phạt bị cáo mức án khởi điểm như Kiểm sát viên đề nghị là phù hợp.
.Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 138; điểm b,h,p khoản 1,2 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009)
[1].Tuyên bố: Bị cáo Ph T Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
[2]. Xử phạt bị cáo Ph T Th 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19 tháng 12 năm 2017.
[3].Trách nhiệm dân sự:
Người bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[4]. Giao trả lại cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sóc Trăng để xử lý theo quy định pháp luật: 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu AIRBLADEFI, biển số 62L1-02235, số máy F27E-0397450, số khung 808AY-349777 và 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô biển số 62L1-02235 đứng tên là Cao Châu Việt Nga Mỹ.
[5]. Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải nộp là 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng);
Báo cho bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng người bị hại vắng mặt được kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án được tống đạt hợp lệ, để yêu cầu Tòa án tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo trình tự phúc thẩm. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Sở tư pháp tỉnh Sóc Trăng;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND tỉnh Sóc Trăng;
- Viện kiểm sát nhân dân TP. Sóc Trăng;
- Cơ quan thi hành án hình sự CATP Sóc Trăng;
- Chi Cục thi hành án dân sự TP. Sóc Trăng;
- Bị cáo;
- Người bị hại; Người có QL,NV liên quan;
- Lưu HSVA.
Lâm Tấn Vinh
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Các Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thắm
Huỳnh Hoài Nam
Lâm Tấn Vinh
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sóc Trăng; - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng; - VKSND TPST; - CAND TPST; - Chi Cục THA Dân sự TP. Sóc Trăng; - Bị cáo; - Bị hại; Người có QL, NV liên quan; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Quốc Định |