- Tranh chấp gì? án hình sự — "Truong Xuan Hoang - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trương Xuân H phạm tội "Trộm cắp tài sản".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự và Nghị; Điều 7 Bộ luật hình sự và Nghị; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN Q. HẢI CHÂU - TP ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2018/HS-ST |
Ngày: 26/4/2018
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU-TP ĐÀ NẴNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Loan
- Các Hội thẩm nhân dân:
+ Ông Lê Phú Cường
+ Bà Lê Lâm Phương
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Linh Phương - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, TP Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Đinh Ngọc Vĩnh - Kiểm sát viên.
Ngày 26/4/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu - 24 HVăn Thụ, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 15/2018/TLST- HS ngày 22/3/2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2018/QĐXXST-HS ngày 11/4/2018 đối với bị cáo:
1. Trương Xuân H. Sinh ngày: 08.11.2000 tại Đà Nẵng. Nơi cư trú: Thôn C, xã H, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam. Con ông : Trương Xuân H (sống) và bà Võ Thị Thanh Ng (sống). Bị cáo là con duy nhất trong gia đình;
- Người đại diện hợp pháp: Ông Võ Đ và bà Nguyễn Thị H; Cùng địa chỉ : Thôn C, xã H, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng, là ông bà ngoại của bị cáo (ông Đ vắng mặt, bà H có mặt).
Tiền án, tiền sự : Chưa.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 07.3.2018, có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Trương Thị Bích Thu – Luật sư cộng tác viên của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố Đà Nẵng. Địa chỉ: 468 Núi Thành, thành phố Đà Nẵng (có mặt).
+ Bị hại: Ông Trần Ngọc Qu. Sinh năm 1991. Hộ khẩu thường trú: Tổ 08 thôn T, xã D, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN :
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 22h30’ ngày 18/11/2017, Trương Xuân H sau khi chơi game tại quán internet Boss, số 152 Phan Đăng Lưu thuộc phường Hòa Cường Bắc, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng, ra về thì phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Exiter màu xanh trắng BKS 92F1-085.85 của ông Trần Ngọc Q không khóa cổ xe và không có người trông giữ nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. H dắt xe mô tô trên ra ngoài và đẩy bộ về nhà ông Võ Đậu tại xã Hòa Tiến, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng cất giấu, theo H khai: Trên đường đẩy bộ về thì có một số người đi đường giúp H đẩy xe, vì tưởng xe hết xăng. Đến sáng ngày hôm sau H dắt xe ra tiệm sửa xe (H không nhớ địa chỉ cụ thể) thuộc quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng mở khóa xe, H nói với thợ sửa khóa là xe bị mất chìa khóa nên muốn làm lại chìa khóa. Sau khi làm chìa khóa xong, H sử dụng xe mô tô trên để làm phương tiện đi lại, đến ngày 25/11/2017, trong lúc đang điều khiển xe mô tô trên đến ngã tư Trần Cao Vân và Ông Ích Khiêm, thành phố Đà Nẵng thì bị ông Q phát hiện, truy đuổi, cùng với quần chúng nhân dân giữ xe, người và trình báo Công an phường Tam Thuận, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đến làm việc. Qua làm việc Trương Xuân H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Quá trình điều tra, bị can Trương Xuân H bỏ trốn và bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hải Châu ra Quyết định truy nã số 01, đến ngày 07/3/2018, Hbị bắt. (các bút lục: 16-18; 30-38; 40-56; 80-91).
Vật chứng tạm giữ:
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Exiter màu xanh-trắng BKS 92F1-085.85.
- 01 (môt) USB dung lượng 4GB, nhãn hiệu Toshiba, màu trắng, bên trong có 02 (hai) video ghi nhận lại việc đối tượng đến trộm cắp xe máy, do ông Tạ Thái Dương giao nộp. (các bút lục: 19, 29).
Ngày 29/11/2017, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Hải Châu có Kết luận số 161, kết luận giá trị còn lại của xe mô tô BKS 92F1-085.85 là: 17.000.000 đồng (mười bảy triệu đồng). (các bút lục: 10, 12-13).
Về xử lý vật chứng:
- Ngày 21/12/2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hải Châu ra Quyết định xử lý vật chứng số 09, trả lại cho ông Trần Ngọc Q 01 (một) xe mô tô Exiter màu xanh trắng BKS 92F1-08585. Ông Q đã nhận lại tài sản trên và không yêu cầu gì thêm. (các bút lục:14-15).
- Quy trữ tại hồ sơ vụ án: 01 (một) USB dung lượng 4GB, nhãn hiệu Toshiba, màu trắng, bên trong có 02 (hai) video ghi nhận lại việc đối tượng đến trộm cắp xe máy.
Tại bản cáo trạng số 11/CT-VKSHC ngày 20/3/2018 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Trương Xuân H về tội “ Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên nội dung Cáo trạng truy tố và đề nghị HĐXX:
- Áp dụng khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009; khoản 3 Điều 7, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 90, 91 và Điều 101, Điều 38 của Bộ luật hình sự và Nghị quyết 41 của Quốc hội năm 2017 để xử phạt bị cáo Trương Xuân H mức án từ 03 (ba) tháng đến 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
+ Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong nên không đề cập đến.
+ Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Quy trữ tại hồ sơ vụ án 01 (một) USB dung lượng 4GB, nhãn hiệu Toshiba, màu trắng, bên trong có 02 (hai) video ghi nhận lại việc đối tượng đến trộm cắp xe máy.
+ Về án phí: Án phí HSST bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa hôm nay Luật sư Trương Thị Bích Thu bào chữa cho bị cáo Trương Xuân H phát biểu luận cứ bào chữa thống nhất với việc truy tố bị cáo về tội danh và đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009, các điểm i, s, h khoản 1 Điều 51, Điều 91 và Điều 101 của Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Trương Xuân H mức án 03 (ba) tháng tù.
- Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai trái. Bị cáo xin lỗi gia đình và người bị hại. Xin HĐXX cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Trương Xuân H đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu mà cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. HĐXX có đủ cơ sở để kết luận vào khoảng 22 giờ 30 ngày 18 tháng 01 năm 2017, tại quán Internet Boss, số 152 Phan Đăng Lưu, Đà Nẵng, Trương Xuân H đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của ông Trần Ngọc Q 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Exiter màu xanh trắng, biển kiểm soát 92F1-085.85 có trị giá 17.000.000 đồng.
Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội "Trộm cắp tài sản". Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.
Xét tính chất của vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Chỉ vì muốn có xe để sử dụng mà không phải lao động kiếm tiền mua xe nên đã dẫn bị cáo vào con đường phạm tội. Lợi dụng sơ hở của bị hại không khóa cổ xe và không có người trông giữ, bị cáo đã chiếm đoạt 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Exiter màu xanh trắng, biển kiểm soát 92F1-085.85 có trị giá 17.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn ảnh hưởng đến tình hình trật tự xã hội, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. HĐXX thấy cần phải xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo khai báo thành khẩn, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, khi phạm tội bị cáo chưa thành niên, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 91 và Điều 101 của Bộ luật hình sự. Xuất phát từ tính nhân đạo nhà nước ta đối với người phạm tội, HĐXX thấy cần áp dụng khoản 3 Điều 7 của Bộ luật hình sự, Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội để áp dụng một phần hình phạt nhẹ hơn cho bị cáo cũng có tác dụng giáo dục các bị cáo trở thành người lương thiện.
Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự là bị cáo phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại và tài sản có giá trị không lớn. HĐXX xét thấy bị cáo chiếm đoạt 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Exiter màu xanh trắng, biển kiểm soát 92F1-085.85 có trị giá 17.000.000 đồng là tài sản có giá trị lớn, mặt khác việc thu hồi được chiếc xe nêu trên trả lại cho bị hại là ngoài mong muốn của bị cáo. Vì vậy không có cơ sở chấp nhận lời đề nghị trên của người bào chữa.
Về trách nhiệm dân sự:
- Tài sản trộm cắp là 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Exiter màu xanh trắng, biển kiểm soát 92F1-085.85 có trị giá 17.000.000 đồng đã thu hồi trả lại cho bị hại. Tại phiên tòa bị hại vắng mặt, nhưng quá trình điều tra bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên HĐXX không đề cập đến.
- Về xử lý vật chứng: Vật chứng của vụ án là 01 (một) USB dung lượng 4GB, nhãn hiệu Toshiba, màu trắng, bên trong có 02 (hai) video ghi nhận lại việc đối tượng đến trộm cắp xe máy, HĐXX thấy cần áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự quy trữ 01 (một) USB nêu trên tại hồ sơ vụ án.
Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Trương Xuân H phạm tội "Trộm cắp tài sản".
1.Áp dụng khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009; khoản 3 Điều 7, các điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 91 và Điều 101 của Bộ luật hình sự và Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội.
Xử phạt: Bị cáo Trương Xuân H 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 07/3/2018.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tuyên quy trữ tại hồ sơ vụ án 01 (một) USB dung lượng 4GB, nhãn hiệu Toshiba, màu trắng, bên trong có 02 (hai) video ghi nhận lại việc đối tượng đến trộm cắp xe máy.
3. Án phí Hình sự sơ thẩm : 200.000 đồng bị cáo Trương Xuân H phải chịu.
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo và người bào chữa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của bị cáo và bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được (hoặc niêm yết) bản án.
| Nơi nhận: - VKSND Q. Hải Châu; - VKSNDTPĐN; - Công an Q. Hải Châu; - Công an TPĐN; - TAND TPĐN; - Người tham gia tố tụng; - Trại tạm giam; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Phạm Thị Hồng Loan |