vanban.org

Bản án 23/2018/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 05/01/2018 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 05/01/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Lại Thế D - Đào Văn U"
  • Căn cứ chính? Điều 124 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 29 Luật Hôn nhân và gia đình

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TOØA AÙN NHAÂN DAÂN
THAØNH PHOÁ HOÀ CHÍ MINH
Bản án số: 23/2018/DS-PT
Ngày: 05/01/2018

V/v!tranh!chấp!hợp!đồng!vay!tài!sản.!

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thaåm phaùn - Chuû toïa phieân toøa: Baø Pâan Tâx Lieân

Caùc thaåm phaùn :

Ông Đỗ Giang

Ông Bùi Liên Minh

-!Thư ký phiên tòa : Ông Lê Trọng Luân - cán bộ Tòa án nhân dân Thành phố

Hồ Chí Minh.

- Ñaïi dieän Vieän kieåm saùt nhaân daân Thaønh phoá Hoà Chí Minh: Ông Tào

Minh Quân - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 05/01/2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh

số 131 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường Bến Thành, Quận 1, Thành phố Hồ Chí

Minh đã xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 528/2017/TLPT - DS

ngày 25/10/2017 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” do bản án dân

sự sơ thẩm số 410/2017/DSST ngày 14/9/2017 của Tòa án nhân dân Quận A

bị kháng cáo.

Tâeo qïyegt ñxnâ ñö a vïï aùn ra xeùt xö û sog 3249/QÑPT-DS ngaøy

27/12/2017 giö õa caùc ñö ông sö ï:

Nguyên!đơn: Ông Lại Thế D, sinh năm 1977

Trú tại: Đường N, tổ M, khu phố B, Phường T, Quận A, Thành phố Hồ

Chí Minh.

Bị!đơn: Ông Đào Văn U, sinh năm 1963

Trú tại: Đường HT, khu phố C, Phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí

Minh.

Người!có!quyền!lợi,!nghĩa!vụ!liên!quan:

1. Bà Nguyễn Thị Minh H, sinh năm 1981

Trú tại: Đường N, tổ M, khu phố B, Phường T, Quận A, Thành phố Hồ

Chí Minh.

2. Bà Đào Thị T, sinh năm 1965

Trú tại: Đường HT, khu phố C, Phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí

Minh.

Người!làm!chứng:!

1. Ông Đào Văn T, sinh năm 1927

Địa chỉ: 515/1 Phạm Văn Chiêu, khu phố 7, Phường 13, Quận Gò Vấp,

Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bà Đào Thị Hồng T, sinh năm 1986

Trú tại: Đường HT, khu phố C, Phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí

Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong! đơn! khởi! kiện! ngày! 25/10/2013,! bản! tự! khai,! biên! bản! hòa! giải!

ngày! 04/3/2014,! biên! bản! không! tiến! hành! hòa! giải! được! ngày! 11/7/2017! nguyên!đơn!ông!Lại!Thế!D!trình!bày:!

Vào thời điểm trước ngày 23/11/2011 ông có vay của ông Đào Văn U số

tiền 4 lượng vàng và 100.000.000 đồng với lãi suất là 3%/tháng nhưng do không nhớ rõ nên ông ghi trong đơn khởi kiện và bản tự khai là 110.000.000 đồng. Ngày 23/11/2011 ông cho ông U vay lại 510.000.000 đồng với lãi suất 2%/tháng.

Nay ông có những yêu cầu sau:

Ông đồng ý trả cho ông U số tiền ông vay của ông U là 4 lượng vàng SJC

và 100.000.000 đồng.

Yêu cầu ông U trả cho ông số tiền ông U đã vay của ông là 510.000.000

đồng và tiền lãi suất tạm tính từ ngày 23/11/2011 đến ngày 14/9/2017 là 69,7 tháng. Lãi suất theo quy định là 1,125%/tháng bằng tổng số tiền lãi là 399.903.750 đồng. Tổng cộng cả gốc và lãi là 909.903.750 đồng.

Ngoài ra, ông không yêu cầu giám định chữ ký của ông Đào Văn U trong

giấy vay tiền ngày 23/11/2011 tại Viện khoa học hình sự Bộ Công an, tại Hà Nội.

Bị!đơn!ông!Đào!Văn!U!trình!bày!tại!bản!tự!khai,!biên!bản!hòa!giải!và!

đơn!phản!tố!như!sau:!

Ông Lại Thế D là cháu bà con bên vợ ông. Do thấy ông D ở quê nghèo

khó nên ông đã đưa ông D từ quê vào Sài Gòn làm ăn và cưu mang, lo công ăn việc làm cho ông D những ngày đầu mới vào Sài Gòn.

Vì là họ hàng nên khi ông D cần tiền kinh doanh cầm đồ, ông đã cho ông

D vay tất cả 4 lần tiền và vàng. Cụ thể như sau:

Ngày 17/8/2011 cho ông D vay 40.000.000 đồng

Ngày 22/9/2011 cho ông D vay 3 lượng vàng SJC

Ngày 28/11/2011 cho ông D vay 50.000.000 đồng

Ngày 01/01/2012 cho ông D vay 10.000.000 đồng và 1 lượng vàng SJC

nhưng khi làm giấy vay tiền ông D ghi ngày 30/9/2011. Ông có hỏi ông D tại sao không ghi đúng ngày mà lại lùi ngày thì ông D trả lời ghi vậy để dễ tính toán với vợ. Vì tin tưởng nên ông không nghi ngờ gì về việc này.

Như vậy, tổng cộng 4 lần ông cho ông D vay là 100.000.000 đồng và 4

lượng vàng SJC, cả 4 lần đều làm giấy vay viết tay, không ghi thời hạn vay nhưng hai bên thỏa thuận miệng khi nào cần thì báo cho ông D biết trước 1 tháng, thỏa thuận miệng lãi suất là 3%/tháng.

Sau khi vay 2 lần đầu, đến ngày 23/11/2011 ông D trả cho ông

10.000.000 đồng tiền lãi, ông D đưa cho ông tờ giấy trắng có ghi 10.000.000

đồng, phía dưới ghi dòng chữ “ Người nhận tiền” và yêu cầu ông ký nhận vì là

người nhà tin tưởng ông D nên ông đã ký tên.

Đến ngày 28/11/2011 ông D tiếp tục vay 50.000.000 đồng, ngày

01/01/2012 ông D vay thêm 10.000.000 đồng và 1 lượng vàng. Từ đó đến nay

ông D không trả thêm cho ông đồng tiền lãi nào, cũng không trả nợ gốc. Ông

đến nhà đòi nợ nhưng ông D cố tình lánh mặt không trả, vì vậy không có việc

ông lại đi vay tiền của ông D.

Ông khẳng định giấy vay tiền ngày 23/11/2011 là hoàn toàn giả mạo bởi

các lý do:

Thứ nhất: Ngày 17/8/2011 và ngày 22/9/2011 ông cho ông D vay hai lần

tiền tổng cộng là 40.000.000 đồng và 3 lượng vàng, giả sử ngày 23/11/2011 ông

D có tiền tại sao không trả cho ông mà lại cho ông vay.

Không thể có chuyện ông cho ông D vay rồi ông lại đi vay của ông D rồi

đến ngày 28/11/2011 ông lại cho ông D vay 50.000.000 đồng và ngày 01/01/2012

cho ông D vay tiếp 10.000.000 đồng và 1 lượng vàng SJC.

Thứ hai: Không thể có chuyện ông D vay của ông với lãi suất 3%/tháng

mà lại cho ông vay với lãi suất 2%/tháng trong khi đó ông D làm nghề cầm đồ

không thể có chuyện vô lý như thế.

Thứ ba: Theo đơn khởi kiện ông D không thừa nhận việc vay tiền của

ông có lãi suất thì cũng không thể có chuyện ông cho ông D vay không lãi suất

mà lại vay của ông D với lãi suất 2%/tháng. Nếu như thế thì ngày 28/11/2011 và

ngày 01/01/2012 có tiền ông phải trả cho ông D để bớt nợ, bớt lãi suất chứ tại

sao ông D vay thêm 60.000.000 đồng của ông và 1 lượng vàng.

Thứ tư: Nếu ông nợ ông D số tiền trên thì tại sao từ ngày vay đến nay dù

chưa trả nợ gốc và lãi mà ông D chưa một lần đòi nợ ông ? Trong khi đó nhiều

lần ông đến nhà đòi nợ thì ông D cố ý lánh mặt.

Thứ năm: Nếu ông và ông D có nợ qua lại với nhau thì tại sao trong đơn

khởi kiện ông D không xác định trả số vàng vay của ông bằng vàng mà lại quy

ra tiền với giá 44.500.000 đồng/lượng trong khi đó giá vàng SJC tại thời điểm

khởi kiện chỉ khoảng 35.000.000 đồng/lượng .

Vì vậy, từ những lý do hết sức mâu thuẫn như đã nói ở trên ông khẳng

định giấy vay tiền ngày 23/11/2011 là hoàn toàn giả mạo, ông không vay tiền

của ông D. Có thể ngày 23/11/2011 khi ông D trả cho ông 10.000.000 đồng tiền

lãi và đưa cho ông tờ giấy trắng có ghi số 10.000.000 đồng phía dưới ông ghi

dòng chữ người nhận tiền và yêu cầu ông ký nhận. Sau khi ông ký nhận, ông D

đã ghi thêm các nội dung khác vào.

Nay ông D đòi nợ 510.000.000 đồng và tiền lãi từ 23/11/2011 cho đến

ngày xử sau khi cấn trứ số tiền vàng mà ông D vay của ông thì ông phải trả cho

ông D 222.000.000 đồng và lãi thì ông không đồng ý vì ông không vay của ông

D và cũng không ký tên trên giấy vay tiền ngày 23/11/2011, giấy vay này do

ông D cung cấp hoàn toàn là giả mạo.

Vợ chồng ông D còn nợ vợ chồng ông 100.000.000 đồng và 4 lượng vàng

SJC nay ông yêu cầu vợ chồng ông D phải trả cho ông số tiền nêu trên và tiền lãi của khoản tiền ông đã cho ông D vay, riêng số vàng ông không yêu cầu tính lãi. Ông yêu cầu Tòa án giám định tờ giấy vay nợ ngày 23/11/2011.

Bà!Nguyễn!Thị!Minh!H!có!ý!kiến!trình!bày!như!ý!kiến!chồng!bà!là!ông!

Lại!Thế!D.!

Bà Đào Thị T có ý kiến trình bày như ý kiến chồng bà là ông Đào Văn U.

Bà còn trình bày thêm tại bản tự khai ngày 06/01/2014 như sau: Bà là vợ ông U, ông Lại Thế D là cháu của bà. Việc ông U cho ông D vay 4 lần tiền bà đều được ông U báo cho bà biết. Sau khi vay, ông D không trả nên nhiều lần ông U đến nhà đòi nợ trong đó có lần đòi nợ ngay trước mặt cha mẹ bà và đòi đánh ông D. Còn việc ông D cho ông U vay tiền là hoàn toàn không có vì vợ chồng bà không làm ăn gì, cũng không nợ ai nên không có nhu cầu cần số tiền lớn như vậy. Hơn nữa, nếu ông U vay thì ông D là cháu bà phải báo cho bà biết. Khi ông U không trả nợ thì ông D phải đến đòi nhưng hoàn toàn không có. Nay ông D đòi bà không đồng ý và cũng không chịu trách nhiệm liên đới trả cùng với ông U vì không biết ông U vay tiền của ông D. Bà yêu cầu ông D phải trả số tiền và vàng vay của vợ chồng bà.

Người! làm! chứng! ông! Đào! Văn! T! trình! bày! tại! bản! tự! khai! nagỳ!

13/5/2016:!

Trưa ngày 05/2/2013 ông Lại Thế D đến nhà ông chơi chưa kịp ngồi thì

vô tình con rể của ông tên Đào Văn U cũng đến. Thấy ông U đến ông D bỏ ra về, ông U yêu cầu ông D ở lại nói chuyện trả tiền và vàng cho ông U. Trong lúc nói chuyện do bức xúc nên ông U có đánh ông D , ông D quỳ lại và ôm vào ông xin ông U tha cho để về thu xếp trả tiền và vàng cho ông U . Lúc này ông U đã buông không đánh ông D nữa. Ngày hôm sau ông D viết đơn thưa ông U ra công an Phường 17, Quận G, công an đã đến nhà ông để điều tra sự việc. Sau đó công an có mời hai bên ra phường điều tra, hòa giải. Ông nhận thấy ông D mới là người vay tiền của ông U, ông U không mượn tiền của ông D.

Người! làm! chứng! bà! Đào! Thị! Hồng! T! trình! bày! tại! bản! tự! khai! ngày

16/8/2016:!

Ông U là bố của bà, ông U có cho ông D vay 100.000.000 đồng và 4

lượng vàng SJC từ tháng 11/2011 đến tháng 01/2012, ông U đã nhiều lần đến nhà ông D đòi nhưng ông D không tiếp và cố tình lẩn tránh để không gặp. Ngày 01/01/2013 bà tới nhà ông D nói chuyện và yêu cầu ông D trả lại tiền cho bố bà. Lúc đầu ông D không thừa nhận là có vay của bố bà. Sau một hồi tranh cãi, đôi co, thuyết phục khi bà chuẩn bị ra về thì ông D có nói với bà là gia đình ông thù bố bà không cho ông ngoại bà mua mảnh đất gần nhà ông D nên ông không trả tiền và vàng cho bố bà

Viện kiểm sát nhân dân Quận A phát biểu quan điểm: Trong quá trình

giải quyết vụ án thẩm phán và hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng

đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án

cho đến trước thời điểm hội đồng xét xử nghị án. Về nội dung: Đề nghị không

chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không chấp nhận lời trình bày của

nguyên đơn là nguyên đơn đã trả bị đơn số tiền 50.000.000 đồng và chấp nhận

yêu cầu phản tố của bị đơn.

Tại bản án sơ thẩm số 410/2017/DSS ngày 14/9/2017 của Tòa án nhân

dân Quận A đã quyết định:

Căn cứ Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Căn cứ các Điều 124, 471, 472, 474, 476, 477 Bộ luât Dân sự năm 2005.

Căn cứ Quyết định số 2868/QĐ-NHNN ngày 29/11/2010 của Thống đốc

Ngân hàng nhà nước Việt Nam.

Căn cứ Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án.

1. Không có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lại Thế D là

buộc ông Đào Văn U phải trả cho ông số tiền 510.000.000 đồng và tiền lãi suất

tạm tính từ ngày 23/11/2011 đến ngày 14/9/2017 là 69,7 tháng. Lãi suất theo

quy định là 1,125%/tháng tổng số tiền lãi là 399.903.750 đồng. Tổng cộng cả

gốc và lãi là 909.903.750 đồng.

2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Đào Văn U. Buộc ông Lại Thế D

và bà Nguyễn Thị Minh H phải trả cho ông Đào Văn U và bà Đào Thị T số tiền

lãi và gốc là 164.617.375 đồng và 4 lượng vàng SJC tương đương số tiền là

146.680.000 đồng. Tổng cộng là 311.297.375 đồng. Trả ngay khi bản án có

hiệu lực pháp luật.

Việc giao nhận tiền do các bên tự nguyện thực hiện hoặc thực hiện tại cơ

quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên nghĩa vụ chậm thi hành án, quyền kháng

cáo của các đương sự và phần án phí các đương sự phải chịu.

Ngày 25/9/2017 ông Lại Thế D nộp đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ

thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Ông Lại Thế D cho là các chữ ký của ông Đào Văn U gửi đi giám định

không giống nhau nên làm cho cơ quan giám định không giám định được nên

ông yêu cầu cho giám định lại tại Bộ công an. Còn giấy nợ ngày 17/8/2011 do

ông đã trả vốn 40.000.000 đồng cho ông U nên hai bên đã thỏa thuận đốt. Vậy

nếu ông có trả nợ cho ông U ông chỉ trả 60.000.000 đồng, lãi và 4 lượng vàng

SJC

Ông Đào Văn U trình bày: Giấy nợ 40.000.000 đồng ngày 17/8/2011

ông để trên bàn cho bạn coi nhưng bạn ông quên để điếu thuốc lên nên cháy

một lỗ ở giữa chứ không phải dấu vết đốt bỏ đi, không có việc ông D trả vốn

40.000.000 đồng tại cấp sơ thẩm ông khai trả tới 50.000.000 đồng. Ông U yêu

cầu ông D trả đủ số nợ như án sơ thẩm đã xử. Về yêu cầu đòi giám định lại giấy

nợ 510.000.000 đồng do ông D giả mạo, đã được Công an giám định 5 lần và không kết luận chữ ký tên của ông nên ông không đồng ý dừng phiên tòa để cho giám định lại nữa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quá

trình tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, của những người tham gia tố tụng trong giai đoạn xét xử phúc thẩm đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Về nội dung: Có cơ sở để không chấp nhận yêu cầu của ông Lại Thế D đòi bị đơn trả 510.000.000 đồng và lãi suất vì giấy nợ không được bị đơn thừa nhận, kết quả trưng cầu giám định chữ ký và chữ viết họ tên không phải của bị đơn ký và viết ra như kết quả trả lời của cơ quan giám định. Về yêu cầu phản tố của bị đơn đòi nguyên đơn số nợ được nguyên đơn thừa nhận, án sơ thẩm xử có căn cứ nên được giữ nguyên. Tại cấp sơ thẩm đã có lời khai nguyên đơn chốt lại không yêu cầu giám định nữa nhưng nay lại đòi dừng phiên tòa cho đi giám định lại là không cần thiết, vì đã được giám định 5 lần, nội dung kết luận không có điểm gì mâu thuẫn nên đề nghị bác yêu cầu xin giám định lại của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra các chứng cứ tại

phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Lại Thế D nộp trong

thời hạn luật định, thực hiện theo đúng quy định tại Điều 272, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và nộp tạm ứng án phí đúng thời hạn quy định nên được chấp nhận đơn kháng cáo hợp lệ.

[2] Về nội dung: xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Lại Thế D

Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy: theo yêu cầu của ông D, ông D đòi ông Đào Văn U trả cho ông số tiền vay của ông D là 510.000.000 đồng ngày vay 23/11/2011, lãi suất vay 2%/tháng, thời hạn vay 2 tháng. Ông D đòi ông U chưa trả vốn và lãi cho ông D từ ngày vay đến ngày xét xử sơ thẩm. Nên nay ông D yêu cầu trả lãi theo quy định của luật, thời gian trả lãi tính từ ngày 23/11/2011 cho đến ngày Tòa xét xử sơ thẩm.

Ông U không thừa nhận có vay của ông D số tiền 510.000.000 đồng

như ông D khởi kiện mà ông U còn kiện ngược lại ông D còn nợ vợ chồng ông số tiền 100.000.000 đồng và 4 lượng vàng SJC do ông D vay mượn làm 4 lần với lãi suất 3%/tháng, có làm 4 giấy nợ.

Xét thấy: Vào ngày 17/8/2011 và 22/9/2011 ông D vay của ông U

40.000.000 đồng và 3 lượng vàng SJC, lãi suất thỏa thuận là 3%/tháng nhưng ông D khai cho ông U vay lại 510.000.000 đồng vào ngày 23/11/2011 lãi suất là 2%/tháng, lời khai của ông D vô lý vì nếu có tiền cho vay lại tại sao không cấn trừ ngay số tiền ông D đang nợ ông U vay mà ông U phải vay lại của ông D, và càng vô lý hơn khi ông U cho ông D vay với lãi suất 3% mà ông D lại cho ông U vay với lãi suất 2% ông D bị thiệt 1%. Sau đó ngày 28/11/2011 ông D vay của ông U 50.000.000 đồng nếu có nợ 510.000.000 đồng tại sao không trừ vào số nợ này mà phải ghi giấy nợ 50.000.000 đồng. Điều đó càng thể hiện sự vô lý

như lời khai đòi nợ của ông D ông cho mượn lại mà không cấn trừ nợ mình

đang thiếu.

Do giấy vay nợ ngày 23/11/2011 ông D xuất trình cho là giấy nợ ông U

ký nhưng ông U không công nhận nên theo yêu cầu của hai ông, Tòa án nhân

dân Quận A đã trưng cầu giám định 5 lần tại Phân viện Khoa học Hình sự tại

Thành phố Hồ Chí Minh và Viện khoa học hình sự thuộc Tổng cục cảnh sát.

!

Kết!luận!giám!định!ngày!25/7/201của!Viện!khoa!học!hình!sự:!“!Không!

đủ!kết!luận!chữ!ký!mang!tên!Đào!Văn!U!trên!tài!lệu!ký!hiệu!A!so!với!chữ!ký!của!

ông!Đào!Văn!U!trên!các!tài!liệu!ký!hiệu!từ!M1!đến!M12!có!phải!do!cùng!một!

người!ký!ra!hay!không.!!

!

Không!xác!định!được!chữ!viết!tại!mặt!trước!và!mặt!sau!trên!tài!liệu!ký!

hiệu!A!có!phải!viết!cùng!thời!đểm!hay!không!

!

Không!đủ!cơ!sở!kết!luận!chữ!viết!tại!mặt!trước!và!mặt!sau!trên!tài!liệu!

ký!hiệu!A!có!phải!cùng!một!bút!viết!ra!hay!không”.!

!

Kết!luận!giám!định!ngày!16/02/2017của!Phân!viện!khoa!học!hình!sự:!“!

Không!đủ!cơ!sở!kết!luận!chữ!ký!mang!tên!Đào!Văn!U,!chữ!viết!họ!tên!“Đào!Văn!

U”!dưới!mục!“!người!nhận!tiền”!trên!tài!liệu!cần!giám!định:!“Giấy!vay!tiền”!

đề!ngày!23/12/2011!(Ký!hiệu!A)!so!với!chữ!ký!chữ!viết!đứng!tên!Đào!Văn!U!trên!

các!mẫu!so!sánh!ký!hiệu!từ!M1!đến!M7!có!phải!do!cùng!một!người!ký!và!viết!ra!

hay!không.!

Sau đó có công văn điều chỉnh vì ghi sai tháng: Giấy vay tiền ngày

23/11/2011 chứ không phải 23/12/2011.

!

Kết!luận!giám!định!ngày!20/4/2017!của!Phân!viện!khoa!học!hình!sự:!

Không!kết!luận!được!chữ!ký,!chữ!viết!tên!“Đào!Văn!U”!dưới!mục!“Người!nhận!

tiền”!trên!“!giấy!vay!tiền”!đề!ngày!23/11/2011!(ký!hiệu!A)!so!với!chữ!ký!chữ!

viết!đứng!tên!Đòa!Văn!U!trên!5!tài!liệu!mẫu!so!sánh!(!ký1hiệu!từ!M1!đến!M5)!!

là!có!phải!do!cùng!một!người!ký!và!viết!ra!hay!không”!

Như vậy qua kết quả trả lời giám định của Phân viện khoa học hình sự

tại Thành phố Hồ Chí Minh và Viện khoa học hình sự thuộc Tổng cục cảnh sát

đều kết luận không có cơ sở để kết luận chữ ký và chữ viết họ tên Đào Văn U

giống với chữ ký mẫu so sánh do ông Đào Văn U viết ra cung cấp làm mẫu so

sánh để giám định.

Án sơ thẩm nhận định không có cơ sở để cho là ông U có vay của ông

D 510.000.000 đồng vào ngày 23/11/2011. Ông D cho là ông U đã thừa nhận do

ông khai có ký trong khi nhận tiền lãi 10.000.000 đồng và ghi bên người nhận

tiền, xét thấy lời khai này của ông U cho là ký nhận trong giấy nhận lãi

10.000.000 đồng chứ không phải trong giấy nợ 510.000.000 đồng và không ký

tên dưới dòng chữ người nhận tiền của giấy 510.000.000 đồng này cho nên án sơ

thẩm nhận định ông D đòi nợ ông U 510.000.000 đồng là không có cơ sở nên

không chấp nhận yêu cầu này là đúng nên Hội đồng xét xử phúc thẩm quyết định

giữ nguyên phần này của bản án sơ thẩm.

[3] Về yêu cầu phản tố của bị đơn Đào Văn U, Hội đồng xét xử xét

thấy: Ông U đòi vợ chồng ông D phải trả cho ông 100.000.000 đồng và 4 lượng vàng SJC do ông D vay của ông U vào các ngày 17/8/2011, 22/9/2011, 28/11/2011, 30/9/2011( nhưng thực tế vay ngày 01/01/2012 ông D bảo ghi ngày như vậy để tính toán với vợ). Giấy nợ không ghi thời hạn vay nhưng ghi khi cần đòi thì báo trước 1 tháng, lãi suất hai bên thỏa thuận miệng là 3%/tháng. Ông D đã trả được 15.000.000 đồng tiền lãi. Như nhận định của án sơ thẩm, mức lãi suất ông U cho ông D vay 3%/tháng là quá cao so với quy định của luật, quy định tại khoản 1 Điều 476 Bộ luật Dân sự năm 2005 “ Lãi!suất!do!các!bên!thỏa! thuận!nhưng!không!được!vượt!quá!150%!của!lãi!suất!cơ!bản!do!Ngân!hàng!Nhà! nước!công!bố!đối!với!loại!cho!vay!tương!ứng”. Lãi suất cơ bản theo quy định tại Quyết định số 2868/QĐ-NHNN ngày 29/11/2010 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định lãi suất cơ bản 9%/năm như vậy lãi trong hạn của ông U cho ông D vay được tính 9%/năm x 1,5 = 13,5%/năm, tương ứng 1,125%/tháng. Số lãi được tính là:

Ngày 17/8/2011 vay 40.000.000 đồng, tính đến ngày xét xử sơ thẩm

14/9/2017 là 72 tháng 27 ngày , lãi suất 1,125%/tháng , tiền lãi là 32.805.000 đồng, cộng cả gốc và lãi là 72.805.000 đồng.

Ngày 28/11/2011 vay 50.000.000 đồng, tính đến ngày xét xử sơ thẩm là

69 tháng 16 ngày, lãi suất 1,125%/tháng , tiền lãi là 39.112.500 đồng, cộng cả gốc và lãi là 89.112.500 đồng.

Ngày 01/01/2012 vay 10.000.000 đồng, tính đến ngày xét xử sơ thẩm

14/9/2017 là 68 tháng 14 ngày , lãi suất 1,125%/tháng , tiền lãi là 7.702.500 đồng, cộng cả gốc và lãi là 17.702.500 đồng.

Tổng cộng vốn lãi là 179.620.000 đồng. Án sơ thẩm tính 179.617.375

đồng sai số không đáng kể nên giữ nguyên.

Ông U đã nhận của ông D tiền lãi là 15.000.000đ nên còn lại là

164.620.000 đồng.

Lãi suất vàng ông U cho vay không được tính lãi; số vàng 4 lượng cho

vay khi thanh toán sẽ được quy đổi ra tiền đồngViệt Nam như quy định của Nghị định số 24/2012/NĐ-CP ngày 03/4/2012 của Chính Phủ.

Giá vàng ngày 14/9/2017 là 36.670.000 đồng/lượng (theo Trang Thông

tin điện tử của Công ty TNHH một thành viên vàng bạc đá quý Sài Gòn –SJC). Như vậy 4 lượng x 36.670.000 đồng/lượng = 146.680.000 đồng.

Cộng vốn và lãi của số tiền cho vay và 4 lượng vàng thì ông D phải trả

cho ông U tổng cộng là 311.300.000 đồng. do ông D sử dụng tiền này để kinh doanh tạo thu nhập trong gia đình nên bà Nguyễn Thị Minh H là vợ ông D cũng phải liên đới chịu chung trách nhiệm với ông D trả nợ cho vợ chồng ông U như quy định của luật Hôn nhân gia đình năm 2014.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm, tòa án cấp sơ thẩm đã tính đúng nên được

giữ nguyên. Án phí dân sự phúc thẩm: do nguyên đơn kháng cáo nhưng không được chấp nhận nên phải chịu án phí phúc thẩm là 300.000 đồng. !

Vì!các!lẽ!trên:! !

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 27, 29, 30, 33, 37 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;

Căn cứ các Điều 124, 471, 472, 474, 476, 477 Bộ luật Dân sự năm 2005;

Căn cứ Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án và Mức thu án phí, lệ phí;

Tuyên!xử:!

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Lại Thế D

Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lại Thế D đòi ông Đào

Văn U phải trả cho ông số tiền 510.000.000 đồng và tiền lãi suất tạm tính từ

ngày 23/11/2011 đến ngày 14/9/2017 là 69,7 tháng. Lãi suất theo quy định là

1,125%/tháng, tổng số tiền lãi là 399.903.750 đồng. Tổng cộng cả gốc và lãi là

909.903.750 đồng.

2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Đào Văn U đòi ông Lại Thế D và

bà Nguyễn Thị Minh Hải H nợ cho vợ chồng ông.

Buộc ông Lại Thế D và bà Nguyễn Thị Minh H phải trả cho ông Đào

Văn U và bà Đào Thị T số tiền lãi và gốc là 164.620.000 đồng và 4 lượng vàng

SJC tương đương số tiền là 146.680.000 đồng. Tổng cộng là 311.300.000 đồng

(Ba trăm mười một triệu ba trăm ngàn đồng). Trả ngay khi bản án có hiệu lực

pháp luật.

Việc giao nhận tiền do các bên tự nguyện thực hiện hoặc thực hiện tại cơ

quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Kể từ ngày vợ chồng ông U có đơn yêu cầu thi hành án mà vợ chồng

ông D chưa giao trả hết số tiền nêu trên, thì vợ chồng ông D còn phải trả lãi đối

với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do

chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được

vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự năm

2015; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân

sự năm 2015.

3. Án phí dân sự sơ thẩm: ông Lại Thế D và bà Nguyễn Thị Minh H phải

nộp là 54.862.000 đồng (năm mươi tư triệu tám trăm sáu mươi hai nghìn đồng).

Cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông D đã nộp là 6.700.000 đồng (sáu triệu bảy

trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2012/00715 ngày

05/11/2013 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận A, ông D và bà H còn phải nộp

thêm 48.162.000 đồng (bốn mươi tám triệu một trăm sáu mươi hai nghìn đồng).

Nộp ngay khi bản án có hiệu lực thi hành.

Hoàn trả cho ông Đào Văn U số tiền tạm ứng án phí đã nộp là

8.991.250 đồng (tám triệu chín trăm chín mươi mốt nghìn hai trăm năm mươi

đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AD/2014/0006709 ngày

22/10/2015 của Chi cục thi hành án dân sự Quận A.

Án phí dân sự phúc thẩm: ông Lại Thế D phải nộp án phí là 300.000

đồng (ba trăm nghìn đồng) được cấn trừ số tiền tạm ứng án phí ông D đã

nộp theo biên lai thu số 003426 ngày 25/9/2017.

3.Trường hợp bản án,quyết định được thi hành theo quy định tại Điều

2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ