- Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Thạch H, phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 100/2015/QH13 Phê duyệt chủ trương đầu tư các…; Nghị quyết số 144/2016/QH13 Về lùi hiệu lực thi hành của Bộ…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VC TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2017/HSST Ngày: 11/9/2017 Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Vũ Phƣơng. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Quốc Vinh. Nghề nghiệp: Giáo viên. Sóc Trăng. 2. Ông Lê Quang Nhật. Nghề nghiệp: Cán bộ. Nơi công tác: Thị đoàn thị xã VC, tỉnh Sóc Trăng. xã VC, tỉnh Sóc Trăng. Mỹ, Kiểm sát viên. sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 27/2017/HSST ngày 25 tháng 8 năm 2017 đối với bị cáo: Liêu; Nghề nghiệp: Làm công; Trình độ học vấn: không biết chữ; Dân tộc: Khmer; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Con ông Thạch O (c) và bà Sơn T (s); Anh chị em ruột có: 03 người; Tiền án: không; Tiền sự: Có 01 tiền sự: Vào ngày 10/3/2017 bị Công an huyện HB, tỉnh Bạc Liêu xử phạt vi phạm hành chính về trộm cắp tài sản; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 20/6/2017 cho đến nay; (Bị cáo có mặt). VC, tỉnh Sóc Trăng; (có mặt). đơn xét xử vắng mặt). Nơi cư trú: Ấp BT A, xã VTĐ, thành phố BL, tỉnh Bạc Liêu. xã VC, tỉnh Sóc Trăng; (có mặt). | Trong ngày 11 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã VC xét xử |
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Bị cáo Thạch H bị Viện kiểm sát nhân dân thị xã VC truy tố với hành vi phạm tội như sau:
Vào ngày 12/5/2017, bị cáo Thạch H và Danh B đến chơi nhà anh của H là Thạch V tại khóm SC, phường 2, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng. Đến khoảng 21 giờ ngày 16/5/2017 H cùng với V và B đến nhà của ông Thạch P (gần nhà của V) chơi và ông P có tổ chức uống rượu trước cửa nhà. Qúa trình uống rượu diễn ra đến khoảng 01 giờ ngày 17/5/2017 thì ông P vào nhà ngủ trước, còn H, V và B tiếp tục ngồi uống rượu đến khoảng 03 giờ cùng ngày thì nghĩ uống và cùng ngủ trước cửa nhà ông P. Đến khoảng 04 giờ cùng ngày thì H thức dậy quan sát mọi người còn ngủ và thấy bên hong nhà ông P có chiếc xe mô tô Wave màu đỏ biển số 94H5–1528 không có chìa khóa nên H lén lúc dẫn chiếc xe nêu trên của ông P ra đường đê được khoảng 50 mét thì dùng tay bứt dây điện trên xe mở được khóa xe và một mình chạy về nhà bị cáo tại ấp ĐL1, xã VM B, huyện HB, tỉnh Bạc Liêu để sử dụng.
Đến ngày 20/5/2017 bị cáo Thạch H chạy chiếc xe nêu trên đến gửi nhà ông Lâm M tại ấp ĐL 1, xã VM B, huyện HB, tỉnh Bạc Liêu. Ông M nghi ngờ xe do H trộm cắp nên trình báo Công an xã VM B. Sau khi nhận được tin báo, Công an xã VM B tiến hành xác minh và thu giữ vật chứng là chiếc xe mô tô nêu trên. Tại Công an xã VM B, huyện HB, tỉnh Bạc Liêu, bị cáo Thạch H khai nhận đã trộm cắp chiếc xe nêu trên của ông Thạch P nên Công an xã VM B, huyện HB chuyển giao cho Công an thị xã VC để giải quyết theo thẩm quyền. Sau khi phát hiện bị trộm cắp tài sản, bị hại Thạch P đến trình báo với Công an phường 2, thị xã VC.
- Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 27/KL-HĐĐGTS ngày 07/6/2017 của Hội đồng định giá tài sản kết luận: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONLEI, biển số 94H5-1528, số máy 2FMH-VB00657, số khung H9MN7H10657 của bị hại Thạch P giá trị còn lại là 2.500.000 đồng.
- Tại cơ quan điều tra Công an thị xã VC bị cáo Thạch H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
- Tại bản Cáo trạng số: 26/QĐ-KSĐT ngày 22 tháng 8 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã VC truy tố: Bị cáo Thạch H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự năm 1999, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009.
- Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:
Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Thạch H thừa nhận hành vi phạm tội “Trộm cắp tài sản” của bị hại Thạch P. Bị cáo Thạch H có nhân thân xấu: Ngày 24/8/2016 bị cáo H bị Tòa án nhân dân huyện HB, tỉnh Bạc Liêu xử phạt 05 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt vào ngày 15/11/2016. Đến ngày 27/12/2016, bị cáo Thạch H tiếp tục trộm cắp tài sản của người khác tại huyện HB, tỉnh Bạc Liêu. Tuy nhiên, do không đủ định lượng, cơ quan điều tra Công an huyện HB căn cứ vào Nghị quyết 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 thực hiện các quy định có lợi cho người phạm tội tại khoản 3 Điều 7 của Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 và điểm b khoản 1 Điều 1 Nghị quyết 109/2015/QH13 về việc thi hành Bộ luật hình sự thì Thạch H không bị xem là có án tích (vì thời điểm phạm tội trước Thạch H là người chưa thành niên) nên H không bị khởi tố mà chỉ bị Công an huyện HB, tỉnh Bạc Liêu xử phạt vi phạm hành chính vào ngày 10/3/2017. Tiếp tục đến ngày 17/5/2017 bị cáo Thạch H trộm chiếc xe mô tô biển số 94H5-1528 có giá trị còn lại là 2.500.000 đồng. Xét thấy hành vi của bị cáo Thạch H đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại Điều 138 của Bộ luật hình sự năm 1999, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thị xã VC vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Thạch H về tội “Trộm cắp tài sản”. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
Khoản 1 Điều 138; điểm g, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009, xử phạt bị cáo Thạch H mức án từ 06 tháng tù đến 12 tháng tù;
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Thạch P đã nhận lại đủ tài sản bị mất trộm và không có yêu cầu bồi thường gì khác, nên không đặt ra xem xét.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã xử lý xong, nên không xem xét.
- Tại phiên tòa, bị cáo Thạch H thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng truy tố, thống nhất với ý kiến của Kiểm sát viên; Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
- Tại phiên tòa, bị hại Thạch P thừa nhận có mất trộm chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONLEI, biển số 94H5-1528 đúng như nội dung cáo trạng đã nêu và lời nhận tội của bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại P đã nhận lại tài sản bị mất trộm và không có yêu cầu gì khác; Về trách nhiệm hình sự: Bị hại Phol đề nghị xử phạt bị cáo theo quy định của pháp luật.
- Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh C có đơn xét xử vắng mặt và tại Cơ quan điều tra ông Huỳnh C trình bày: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONLEI, biển số 94H5-1528 đúng là do ông Huỳnh C đứng tên chủ sở hữu hợp pháp, nhưng chiếc xe này ông C đã bán cho người khác vào năm 2009 nhưng không làm thủ tục sang tên. Hiện nay ông Huỳnh C không có yêu cầu gì đối với chiếc xe này.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
* Về tố tụng:
+ Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã VC, Viện kiểm sát nhân dân thị xã VC, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan xuất trình tài liệu, chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật; bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
+ Tại phiên tòa hôm nay: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh C có đơn xin xét xử vắng mặt và những người làm chứng gồm Lâm M, Thạch V, Danh B và Sơn Thị K vắng mặt. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra đã có lời khai đầy đủ và rõ ràng. Đồng thời, tại phiên tòa vị Kiểm sát viên, bị cáo và bị hại cũng đề nghị xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng nêu trên. Xét thấy sự vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng nêu trên không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 191 và Điều 192 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 tiến hành xét xử vắng mặt đối với những người nêu trên theo quy định của pháp luật.
* Về nội dung:
Tại phiên toà hôm nay bị cáo Thạch H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình là: Vào khoảng 04 giờ ngày 17/5/2017 có lấy trộm chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONLEI, biển số 94H5-1528 của bị hại Thạch P có giá trị còn lại là 2.500.000 đồng. Mục đích lấy trộm chiếc xe nêu trên để làm phương tiện sử dụng cho cá nhân bị cáo H.
Xét thấy lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người bị hại, các biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, vật chứng thu được cũng như các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, Cáo trạng số: 26/QĐ-KSĐT ngày 22/8/2017 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã VC truy tố: Bị cáo Thạch H phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự năm 1999, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai cho bị cáo.
Hành vi phạm tội của bị cáo Thạch H là nguy hiểm cho xã hội và có nhân thân xấu, cụ thể là: Bản số: 29/2016/HSST ngày 24/8/2016 Tòa án nhân dân huyện HB, tỉnh Bạc Liêu xử phạt 05 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và đến ngày 15/11/2016 chấp hành xong hình phạt. Tiếp tục vào ngày 27/12/2016 thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. căn cứ vào Nghị quyết 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 thực hiện các quy định có lợi cho người phạm tội tại khoản 3 Điều 7 của Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 và điểm b khoản 1 Điều 1 Nghị quyết 109/2015/QH13 về việc thi hành Bộ luật hình sự thì Thạch H không bị xem là có án tích (vì thời điểm phạm tội trước Thạch H là người chưa thành niên) theo quy định của pháp luật hiện hành thì không bị coi là có án tích. Do đó vào ngày 10/3/2017 Thạch H bị Công an huyện HB, tỉnh Bạc Liêu xử phạt vi phạm hành chính về “Trộm cắp tài sản”. Đến ngày 17/5/2017 bị cáo Thạch H tiếp tục thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản” của bị hại Thạch P. Xét thấy trong quá trình cải tạo bị cáo Thạch H không ăn năn hối cải và sửa chữa lỗi lầm của mình. Chỉ vì bản chất lười biếng lao động, nhằm thoả mãn cho nhu cầu cá nhân, nên bị cáo H đã lợi dụng sự sơ hở mất cảnh giác của người quản lý tài sản để thực hiện hành vi lén lút trộm cắp chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONLEI, biển số 94H5-1528 của bị hại P. Xét thấy hành vi của bị cáo Thạch H gây dư luận xấu trong xã hội và gây ra sự lo sợ cho quần chúng nhân dân trong việc quản lý tài sản. Do vậy, bị cáo Thạch H cần phải xử phạt thật nghiêm để làm gương cho người khác và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
Tuy nhiên, cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo như: Sau khi bị khởi tố bị cáo Hiệp có thành khẩn khai báo; Phạm tội gây thiệt hại không lớn và tài sản được thu hồi trả lại cho bị hại; Bị cáo có trình độ học vấn thấp và là người dân tộc Khmer nên nhận thức pháp luật cũng có phần hạn chế. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm g, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự 1999, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009 để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Thạch P đã nhận lại tài sản xong và không có yêu cầu bồi thường gì khác, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã xử lý xong, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Tại phiên tòa xét thấy đề nghị của vị Kiểm sát viên là có cơ sở, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người bị hại, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Thạch H, phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
Áp dụng: khoản 1 Điều 138; điểm g, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009.
Tuyên xử:
1. Xử phạt bị cáo Thạch H: 09 (chín) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam là ngày 20/6/2017.
3. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Thạch P đã nhận lại tài sản xong và không có yêu cầu bồi thường gì khác, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Thạch H phải nộp là 200.000 đồng.
Báo cho bị cáo, bị hại biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.
“Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014)”.
| Nơi nhận: - VKSND TXVC; - CA TXVC; - THA TXVC; - Sở TP TST; - BC, BH; Người có QLNVLQ; - Phòng KTNV&THA TAND tỉnh ST; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Vũ Phƣơng |