vanban.org

Bản án 229/2022/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 22/06/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 22/06/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Thị Thu N, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 51/2021/HS-ST ngày 21/12/2021 của Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.

TAND Cấp cao tại TP.HCM; VKSND TP. HCM; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tấn Th - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Thị Thu N, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 51/2021/HS-ST ngày 21/12/2021 của Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 229/2022/HS-PT
Ngày: 30/5/2022.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Mai Tâm Quyên.

Các Thẩm phán:

1. Ông Lê Công Huân.

2. Ông Phan Thanh Nguyễn.

Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Minh Phước – Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Hoàn - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 64/2022/HSPT ngày 10/02/2022 đối với bị cáo Đỗ Thị Thu N do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 51/2021/HS-ST ngày 21/12/2021 của Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị cáo có kháng cáo:

Đỗ Thị Thu N, tên gọi khác: Hồng, sinh năm 1966 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: Số 834W1 Đ, Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: nhà không số, Tổ 3, Khu phố C, thị trấn N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh; trình độ học vấn: 01/12; nghề nghiệp: không; dân tộc: kinh; tôn giáo: Phật; giới tính: nữ; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T và bà Đỗ Thị T; có chồng Võ Văn C và 01 con sinh năm 1991; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo tại ngoại (có mặt).

Trong vụ án này, còn có các bị cáo Đỗ Thị Thu Tâm, Lâm Hoàng Phi, Nguyễn Thị Tiếng, Đặng Thị Ngọc Hiền, Phùng Thị Thu Trang, Nguyễn Văn Tám, Ngô Văn Thanh, Tạ Minh Trung không có kháng cáo và không bị kháng nghị. Xét thấy không cần thiết phải có mặt tại phiên tòa phúc thẩm nên Tòa án Thành phố Hồ Chí Minh không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 19 giờ 00 ngày 18/3/2017, Đỗ Thị Thu N cung cấp bài tây, chiếu và sử dụng hẻm 1982/100 khu phố 7, thị trấn Nhà Bè, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh, làm nơi tổ chức cho những người khác đánh bạc dưới hình thức đánh bài bửu thắng thua bằng tiền để thu tiền xâu. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, Lâm Thị Thanh Thùy, Lâm Hoàng Phi, Nguyễn Thị Tiếng đến chơi và tham gia làm cái thắng thua bằng tiền với Đỗ Thị Thu N, Đỗ Thị Thu Tâm, Trần Thị Được, Phùng Thị Thu Trang, Đặng Thị Ngọc Hiền, Nguyễn Thị Kim Chi, Nguyễn Văn Tám, Ngô Văn Thanh, Tạ Minh Trung, Nguyễn Đặng Tuyết Lam, Nguyễn Hữu Khanh và Nguyễn Thị Dung. Thùy và Tiếng thay phiên nhau làm nhà cái ăn thắng thua trực tiếp bằng tiền với 07 tụ bài do N, Tâm, Được, Trang, Hiền, Tám và Trung tham gia. Phi hùn tiền và giúp sức chia bài cho Thùy và Tiếng, mỗi ván Phi hùn với Thùy và Tiếng 100.000 đồng. Chi, Lam, Khanh và Dung tham gia ké tụ, Thanh không tham gia đặt tụ hay ké tụ mà bắt tụ cái đá ăn tiền với tụ của Hiền. Đến khoảng 21 giờ 00 cùng ngày, khi Phi đang làm cái chuẩn bị chia bài cho những người khác tham gia đánh bài thắng thua bằng tiền thì bị Công an phát hiện bắt quả tang, thu giữ trên chiếu bạc số tiền 6.800.000 đồng, 04 bộ bài tây, 01 chiếc chiếu dùng để trải đánh bạc; thu giữ trong người những người tham gia đánh bạc số tiền 21.425.000 đồng, 09 điện thoại di động và 02 xe gắn máy. Quá trình điều tra xác định. Ngoài số tiền thu tại chiếu bạc 6.800.000 đồng thì còn thu trong người các bị cáo số tiền dùng để đánh bạc như sau: Lâm Thị Thanh Thùy 500.000 đồng; Đỗ Thị Thu N 700.000 đồng và 25.000 đồng tiền xâu (do Thùy và Hiền mỗi người xâu 10.000 đồng, Thanh xâu 5.000 đồng; Lâm Hoàng Phi 200.000 đồng; Đỗ Thị Thu Tâm 200.000 đồng; Ngô Văn Thanh 500.000 đồng; Tạ Minh Trung 200.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc là 9.125.000 đồng. Ngoài ra, Đỗ Thị Thu N còn khai nhận: N đã cung cấp bài lá, chiếu và sử dụng hẻm 1982/100 khu phố 7, thị trấn Nhà Bè, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh để tổ chức cho những người khác đánh bài bửu thắng thua bằng tiền từ đầu tháng 03/2017 đến ngày 18/3/2017 để thu tiền xâu, nhưng không thường xuyên, được khoảng 10 ngày. Mỗi ngày tổ chức đánh bạc, N thu tiền xâu được khoảng 30.000 đồng đến 50.000 đồng. Trong quá trình điều tra, Đỗ Thị Thu Tâm đã bỏ trốn nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nhà Bè ra lệnh truy nã đối với bị cáo Tâm. Ngày 25/3/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nhà Bè đã bắt được Đỗ Thị Thu Tâm.

Tại bản Cáo trạng số 26/CT-VKS-NB ngày 27/5/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Đỗ Thị Thu N về tội “Tổ chức đánh bạc” theo khoản 1 Điều 249 và tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 248 của Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009; các bị cáo Đỗ Thị Thu Tâm, Lâm Thị Thanh Thùy, Nguyễn Thị Tiếng, Lâm Hoàng Phi, Phùng Thị Thu Trang, Đặng Thị Ngọc Hiền, Nguyễn Thị Kim Chi, Nguyễn Văn Tám, Ngô Văn Thanh và Tạ Minh Trung về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999, được sửa đổi bổ sung năm 2009.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 51/2021/HS-ST ngày 21/12/2021 của Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè đã quyết định:

Căn cứ khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 248; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 xử phạt bị cáo Đỗ Thị Thu N 01 (một) năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc”, 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả 02 tội là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Trong vụ án này còn có các bị cáo Đỗ Thị Thu Tâm, Lâm Hoàng Phi, Nguyễn Thị Tiếng, Đặng Thị Ngọc Hiền, Phùng Thị Thu Trang, Nguyễn Văn Tám, Ngô Văn Thanh, Tạ Minh Trung cùng bị xét xử về tội “Đánh bạc” nhưng không có kháng cáo và không bị kháng nghị.

Ngày 30/12/2021, bị cáo Đỗ Thị Thu N có đơn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm ngày hôm nay, bị cáo Đỗ Thị Thu N đã thừa nhận những hành vi phạm tội do bị cáo gây ra như nội dung bản án sơ thẩm đã nêu. Bị cáo nhận tội và mong muốn được Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo với lý do: bị cáo không sử dụng địa điểm thuộc quyền sở hữu, quản lý của mình để tổ chức đánh bạc mà do các bị cáo khác tự chọn địa điểm; do không biết chữ nên bị cáo nhận thức pháp luật có phần hạn chế, bị cáo đã lớn tuổi, sức khỏe yếu, đang bị bệnh và còn phải nuôi một người em bị tâm thần, hoàn cảnh gia đình khó khăn.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xác định bản án sơ thẩm đã áp dụng đúng các căn cứ pháp luật để xử phạt bị cáo Đỗ Thị Thu N về tội “Tổ chức đánh bạc” theo khoản 1 Điều 249 và tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 248 của Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009. Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo Đỗ Thị Thu N kháng cáo trong thời gian hợp lệ. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên là phù hợp. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè. Bị cáo Đỗ Thị Thu N không tranh luận, chỉ nói lời sau cùng mong Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo cho bị cáo được hưởng án treo để có điều kiện điều trị bệnh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Huyện Nhà Bè, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân huyện Nhà Bè, Kiểm sát viên, Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thẩm phán trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Tại phiên tòa phúc thẩm ngày hôm nay, bị cáo Đỗ Thị Thu N đã thừa nhận hành vi phạm tội do bị cáo gây ra như nội dung bản án sơ thẩm đã nêu. Cụ thể: Khoảng 21 giờ 00 ngày 18/3/2017, bị cáo đã cung cấp bài tây, chiếu và sử dụng hẻm 1982/100 khu phố 7, thị trấn Nhà Bè, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh làm nơi tổ chức cho hơn 10 người đánh bạc dưới hình thức đánh bài bửu thắng thua bằng tiền để lấy tiền xâu. Ngoài ra, tại thời điểm bắt quả tang, N đang cùng tham gia đánh bài bửu thắng thua bằng tiền với Lâm Thị Thanh Thùy, Nguyễn Thị Tiếng, Lâm Hoàng Phi, Đỗ Thị Thu Tâm, Phùng Thị Thu Trang, Đặng Thị Ngọc Hiền, Nguyễn Thị Kim Chi, Nguyễn Văn Tám, Ngô Văn Thanh, Tạ Minh Trung thì bị phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ số tiền trên chiếu bạc là 6.800.000 đồng và tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc, tiền xâu là 2.325.000 đồng, xác định các bị cáo đã tham gia đánh bạc với tổng số tiền là 9.125.000 đồng. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên xử bị cáo Đỗ Thị Thu N phạm tội “Tổ chức đánh bạc” theo khoản 1 Điều 249 và tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 248 của Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan sai. [3] Cấp sơ thẩm đã xác định bị cáo Đỗ Thị Thu N không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo hiện đang chăm sóc em trai bị bệnh nặng theo quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009. Đồng thời, xem xét, cân nhắc các yếu tố khác khi lượng hình như: kể từ khi xảy ra vụ án đến nay đã hơn 04 năm, trong thời gian tại ngoại, bị cáo không vi phạm pháp luật, tính nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi gây ra không còn nhiều. Từ đó, xử phạt bị cáo với mức án 01 năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc”, 06 tháng tù về tội “Đánh bạc” là có căn cứ.

Xét kháng cáo của bị cáo:

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo trình bày: do không biết chữ nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế, bị cáo đã lớn tuổi, sức khỏe yếu, đang bị bệnh và còn phải nuôi một người em bị tâm thần, hoàn cảnh gia đình khó khăn; phạm tội lần đầu, nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới theo khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 nên áp dụng thêm cho bị cáo.

Mặc dù có cân nhắc áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ như kể trên, nhưng xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội bị cáo gây ra, thì mức hình phạt mà cấp sơ thẩm tuyên phạt đối với bị cáo Đỗ Thị Thu N là đã tương xứng.

Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Thị Thu N xin được hưởng án treo hay giảm nhẹ hình phạt, giữ nguyên mức hình phạt mà bản án sơ thẩm đã tuyên.

Do không chấp nhận kháng cáo nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các vấn đề khác không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Thị Thu N, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 51/2021/HS-ST ngày 21/12/2021 của Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.

Căn cứ khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 248; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 xử phạt bị cáo Đỗ Thị Thu N 01 (một) năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc”, 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả 02 tội là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội buộc bị cáo Đỗ Thị Thu N phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ