- Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Thị T - Trộm cắp - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thị T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 41 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NT TỈNH KH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
Bản án số: 229/2017/HSST
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Ngày: 27/11/2017
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NT
TỈNH KH
Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà LÂM VƢƠNG MỸ LINH
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông NGUYỄN XUÂN VINH
2/ Bà LÊ THỊ NGỌC TUYỀN
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông PHẠM VĂN TUÂN - Cán bộ
Tòa án nhân dân thành phố NT - tỉnh KH
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố NT - tỉnh KH tham gia phiên
tòa: Bà NGUYỄN THỊ HẠNH CUNG - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 11 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố NT, Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân thành phố NT mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 334/2017/HSST ngày 23 tháng 10 năm 2017 đối với bị cáo:
HUỲNH THỊ T (tên gọi khác: Gái Ngọc) -Sinh năm: 1972 tại KH
Nơi ĐKHKTT: Số 14D HĐ, Phường PS, Thành phố NT
Chỗ ở hiện nay: Khu tái định cư ĐL, xã VT, Thành phố NT
Nghề nghiệp: buôn bán Trình độ văn hoá: 01/12
Con ông: Huỳnh Văn N (đã chết)
Và bà: Nguyễn Thị Thu H - Sinh năm: 1958
Chồng: Nguyễn Hoàng T – Sinh năm: 1975, có 7 con (con lớn nhất sinh năm 1993, con nhỏ nhất sinh năm 2005).
Tiền sự: Không
Tiền án: Bản án số 282/2009/HSST ngày 27/10/2009 của Tòa án nhân dân thành phố NT xử phạt 9 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Bản án số 38/2010/HSST ngày 09/3/2010 của Tòa án nhân dân thành phố NT xử phạt 8 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt với bản án số 282/2009/HSST ngày 27/10/2009, bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 8 năm 9 tháng tù. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/4/2016.
Nhân thân: Ngày 25/6/1993 bị Tòa án nhân dân thành phố NT tuyên phạt 6 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 20/10/1993.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 09/6/2017; có mặt tại phiên toà.
*Người bị hại:
1. Chị NGUYỄN THỊ THANH T - Sinh năm: 1981
Trú tại: Thôn T2 – Xã DĐ – Huyện DK – Tỉnh KH
(Vắng mặt tại phiên tòa)
2. Chị NGUYỄN THỊ THÚY T - Sinh năm: 1996
Trú tại: KTX K8 – Đại học NT – Thành phố NT
(Vắng mặt tại phiên tòa)
3. Anh TRẦN THANH B - Sinh năm: 1990
Trú tại: 55 đường MAT – Phường VP – Thành phố NT – Tỉnh KH
(Vắng mặt tại phiên tòa)
*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
NGUYỄN DUY Q - Sinh ngày: 02/7/2003
Trú tại: Khu tái định cư ĐL - Xã VT – Thành phố NT – Tỉnh KH
(Có mặt tại phiên tòa)
Người đại diện hợp pháp của Nguyễn Duy Q: Bà Nguyễn Thị Thu H – Sinh năm: 1958
Trú tại: Khu tái định cư ĐL - Xã VT –Thành phố NT – Tỉnh KH
(Có mặt tại phiên tòa)
NHẬN THẤY:
Bị cáo Huỳnh Thị T bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố NT truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Do không có tiền tiêu xài, khoảng 19 giờ ngày 07/6/2017, Huỳnh Thị T rủ Nguyễn Duy Q – sinh ngày 02/7/2003 đến Hội chợ Festival biển 2017 – sân bóng TN, phường VN, NT để trộm cắp tài sản. T hứa với Q sau khi trộm cắp được sẽ cho tiền mua cặp sách, dụng cụ học tập nên Q đồng ý tham gia. T mang theo một túi xách màu trắng, Q mang theo một ba lô màu xanh rồi đi xe ôm đến hội chợ để trộm cắp tài sản. Khi đến quầy bán vé trước cổng hội chợ Festival, Q đứng tại gốc cây gần đó chờ, T chen vào đám đông, tiếp cận và móc túi quần anh Trần Thanh B lấy một điện thoại hiệu Asus Zenphone 4 model T00Q màu đen, tắt nguồn điện thoại rồi đưa cho Q cất vào ba lô. T đến quầy cho thuê ghế cạnh sân khấu ca nhạc, móc túi quần chị Nguyễn Thị Thanh T lấy một điện thoại hiệu Samsung J7 Prime màu vàng. Sau đó, T móc túi quần chị Nguyễn Thị Thúy T lấy một điện thoại hiệu Masstel model N460 màu vàng tại quầy hàng bán đồng hồ.
Ngoài ra, T khai nhận đã móc túi xách của một phụ nữ (chưa xác định được nhân thân) lấy một nhẫn tròn kim loại màu vàng.
Số tài sản trộm cắp được T đưa cho Q cất vào ba lô, còn nhẫn tròn kim loại màu vàng T cất vào giỏ xách của mình. Đến khoảng 21 giờ ngày 07/6/2017 T và Q đi theo một người phụ nữ định tiếp tục trộm cắp thì bị lực lượng bảo vệ phát hiện bắt giữ cùng tang vật và giao cho Công an phường VN, thành phố NT xử lý.
Tại cơ quan Công an, Huỳnh Thị T và Nguyễn Duy Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 173/TCKH ngày 08/6/2017 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân thành phố NT kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7 Prime giá trị 5.690.500 đồng, 01 điện thoại Asus Zenphone 4 giá trị 358.200 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Masstel model N460 trị giá 639.200 đồng. Tổng giá trị tài sản định giá làm tròn là 6.687.000 đồng.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 230/TCKH ngày 28/7/2017 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân thành phố NT kết luận: 01 nhẫn tròn trơn bằng kim loại màu vàng là vàng giả không có giá trị.
Tang vật vụ án: 01 điện thoại Asus model T00Q, 01 điện thoại hiệu Samsung J7 Prime, 01 điện thoại hiệu Masstel model N460, 01 điện thoại Trung Quốc nhái kiểu dáng Galaxy Note 7 đã trả cho chủ sở hữu.
01 nhẫn tròn kim loại màu vàng, một túi xách màu vàng, 01 ba lô màu xanh (giao Cơ quan Thi hành án dân sự thành phố NT).
Tại bản cáo trạng số 243/CT-VKS ngày 16/10/2017 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố NT đã truy tố bị cáo Huỳnh Thị T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự.
Đối với Nguyễn Duy Q – sinh ngày 02/7/2003, vào thời điểm thực hiện hành vi trộm cắp tài sản chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên không truy cứu.
Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố NT giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Huỳnh Thị T. Sau khi phân tích các tình tiết về tội danh, khung hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các tình tiết về nhân thân của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố NT đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm p khoản 1 điều 46, điểm g khoản 1 điều 48, khoản 1 điều 138 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Huỳnh Thị T mức hình phạt từ 9 tháng đến 12 tháng tù giam.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
XÉT THẤY:
Tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Thị T thừa nhận toàn bộ hành vi bị cáo đã thực hiện như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố NT. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở để xác định rằng, vào ngày 07/6/2017, nhân lúc Hội chợ Festival Biển 2017 đông người, bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt một điện thoại hiệu Asus Zenphone 4 model T00Q màu đen của anh Trần Thanh B, một điện thoại hiệu Samsung J7 Prime màu vàng của chị Nguyễn Thị Thanh T, một điện thoại hiệu Masstel model N460 màu vàng của chị Nguyễn Thị Thúy T. Tổng giá trị tài sản bị cáo đã chiếm đoạt là 6.687.000 đồng.
Bị cáo là người trưởng thành, có sức khỏe nhưng không lao động chân chính mà có hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh và trật tự ở địa phương. Ngày 27/10/2009 bị cáo từng bị Tòa án nhân dân thành phố NT xử phạt 9 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 21/9/2009 khi đang trong thời gian tại ngoại, chưa được xét xử của vụ án “Trộm cắp tài sản” nói trên thì bị cáo tiếp tục phạm tội „Mua bán trái phép chất ma túy” và ngày 09/3/2010 bị Tòa án nhân dân thành phố NT xử phạt 8 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Hành vi phạm tội “mua bán trái phép chất ma túy” của bị cáo không là tái phạm. Như vậy, lần phạm tội “Trộm cắp tài sản” ngày 07/6/2017 của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại khoản 1 điều 49 Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo cần được xử lý nghiêm và cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.
Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Thị T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản bị chiếm đoạt có giá trị không lớn và đã được thu hồi trả lại cho người bị hại. Bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, là lao động chính trong gia đình có nhiều con nhỏ, do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà yên tâm cải tạo trở thành người công dân có ích cho xã hội.
Về trách nhiệm dân sự:
Theo hồ sơ vụ án, người bị hại là anh Trần Thanh B, chị Nguyễn Thị Thanh T, chị Nguyễn Thị Thúy T xác định đã nhận lại toàn bộ tài sản bị chiếm đoạt. Tại phiên tòa sơ thẩm, những người bị hại vắng mặt nên cần tách ra để giải quyết thành vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.
Về vật chứng của vụ án:
- 01 giỏ xách tay màu vàng
- 01 ba lô màu xanh nước biển
- 01 nhẫn kim loại màu vàng (giả)
Xét thấy không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thị T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 138; các điểm g, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; điểm g khoản 1 điều 48 Bộ luật hình sự; điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Xử phạt bị cáo HUỲNH THỊ T 1 (một) năm 6 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (09/6/2017).
Về trách nhiệm dân sự: Tách ra để giải quyết thành vụ án dân sự khác khi người bị hại – anh Trần Thanh B, chị Nguyễn Thị Thanh T, chị Nguyễn Thị Thúy T có đơn yêu cầu.
Về vật chứng của vụ án: Áp dụng khoản 1 điều 41 Bộ luật Hình sự; khoản 2 điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy một giỏ xách tay màu vàng, một ba lô màu xanh nước biển và một nhẫn kim loại màu vàng (giả) (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/8/2017 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố NT và Chi cục thi hành án dân sự thành phố NT).
Về án phí: Bị cáo Huỳnh Thị T phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Huỳnh Thị T; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà
| Nơi nhận: - VKSND thành phố NT. - Công an thành phố NT. - Chi cục THADS thành phố NT - TAND tỉnh KH - Sở Tư pháp tỉnh KH - Bị cáo + Người TGTT - Lưu hồ sơ. | (Đã ký) LÂM VƢƠNG MỸ LINH |