- Tranh chấp gì? "Hà Thị Kim Ng - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên b bị cáo Hà Thị Kim Ng phạm tội“Tổ chức s d ng trái phép chất ma túy”.
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| n án s : 225/2022/HS-ST Ngày: 28-12-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Vân Hồng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trương Minh Thọ
2. Ông Dương H i Long
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Ngọc Phú – Thư ký Tòa án nhân dân thành ph Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Đinh Đăng Nghĩa - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 12 năm 2022, tại Hội trường tổ dân ph 21, Phường 2, thành ph Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, Tòa án nhân dân thành ph Đà Lạt xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý s 221/2022/TLST-HS ngày 13 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử s 249/2022/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 12 năm 2022 đ i với bị cáo:
Họ và tên: Hà Thị Kim Ng, tên gọi khác: Vy; sinh ngày 02 tháng 3 năm 1996, tại: ạc Liêu; nơi ĐKHKTT: đường A, thành ph , tỉnh ; Chỗ ở hiện nay: đường A, thành ph , tỉnh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 7/12; giới tính: Nam; qu c tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông: không rõ cha, con bà Hà Thanh Th, sinh năm 1975; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con út trong gia đình; chồng: Đinh Trọng Ngh (đã ly hôn), có 02 con sinh năm 2018 và 2021; tiền án, tiền sự: không. ị cáo hiện đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hà Thị Kim Ng, Nguyễn Thị A là đ i tượng thường xuyên sử dụng trái phép chất ma túy. Vào ngày 22 4 2020, Ng và A nhắn tin qua tài kho n Zalo để bàn bạc với nhau về việc thuê Villa để tổ ch c sinh nh t cho Ng và c ng tổ ch c sử dụng ma túy. Đến ngày 23 4 2020, Ng mời A, Phạm Ngọc Thg, Ph ng Thanh T, Lê Thị Th, Tr n Thị M H , Nguyễn Hoàng N tới dự sinh nh t của Ngân ở s 47 đường Tr n Lê, phường 4, thành ph Đà Lạt. Sau đó Th có rủ thêm Nguyễn Văn Ch c ng tham dự. Do trước đó Ng và A đã bàn bạc về việc thuê Villa để tổ ch c sử dụng ma túy nên đến kho ng 21 giờ c ng ngày, sau khi ăn u ng xong thì Ng rủ Th, T, Th, H, N đi chơi và sử dụng ma túy thì mọi người c ng đồng ý nên Ng nói A liên lạc thuê Villa để c nhóm c ng tới chơi. A gọi điện thoại qua ng dụng Zalo cho Hoàng Ph là chủ Villa để đặt phòng “bay” (phòng s d ng ma túy) thì được Ph báo giá 3.000.000 đồng 1 đêm, A nói lại cho Ng thì Ng đồng ý thuê phòng. Sau đó, Ng, A, N, T, Th và Ch thuê taxi đi tới Villa của Ph còn Thg, H do có việc b n nên h n tới sau. Khi tới Villa thì c nhóm được Ph d n lên phòng cu i của t ng 2 là phòng đã được Ph lắp đặt s n loa, đ n và cách âm để phục vụ cho việc sử dụng ma túy rồi Ph đưa chìa khóa nhà cho A gi còn Ph đi về phòng khách sạn ở. Tại Villa, Ng nói với N, T, Th là Ng s b tiền ra tr tiền thuê Villa, còn tiền mua ma túy thì Ng b ra trước để mua, sau khi sử dụng xong thì mọi người góp tiền lại tr cho Ng thì N, T, Th c ng đồng ý còn Ch do say rượu nên không nghe Ng bàn bạc. Sau đó, Ng nói A tìm mua 05 viên thu c lắc và 01 hộp ketamine thì A gọi điện thoại cho một đ i tượng tên “V” (không r nhân thân lai lịch) h i mua ma túy và được V báo giá 4.200.000 đồng, A nói lại với Ng thì Ng đồng ý mua và đưa cho A 7.200.000 đồng (g m .000.000 đ ng tr ti n phòng và 4.200.000 đ ng ti n mua ma túy). Một lúc sau, V mang ma túy tới trước Villa rồi A xu ng tr tiền và mang ma túy (05 viên thu c l c màu xanh và 01 hộp Ketamine) lên để trên giường trong phòng. Sau khi có ma túy thì Ng, N, A, Th, Ch, T mỗi người sử dụng viên thu c lắc (hết 3 viên). Tiếp đó, N lấy gói ketamine đổ ra chiếc đĩa s màu trắng hình tròn và d ng th nhựa đã có s n trong phòng cà mịn ra rồi A d ng tờ tiền 10.000 đồng quấn lại và lồng vào 03 v đ u lọc thu c lá thành ng hút đưa cho N sử dụng trước, sau đó c nhóm l n lượt lấy ng hút sử dụng ma túy Ketamine.
Kho ng hơn 21 giờ c ng ngày, H đến gọi cho A xu ng mở cửa đưa lên phòng, tại đây Ng nói với H về việc góp tiền để mua ma túy sử dụng thì H đồng ý rồi tự lấy 1 viên thu c lắc trong túi nylon để trên giường (còn 02 viên) và sử dụng viên, viên còn lại thì H để lại trên giường. Một lúc sau, Thg tới gọi điện cho Ng thì Ng nói A xu ng mở cửa cho Thg, khi lên tới phòng Ng không nói về việc góp tiền mua ma túy cho Thg biết rồi đưa cho Thg 01 viên thu c lắc, Thg sử dụng viên, còn viên Thg nhặt 01 v túi nylon dưới sàn nhà cho viên thu c lắc chưa sử dụng vào trong túi nylon rồi cất gi ở túi qu n phía trước mặc trên người. Đến kho ng 21 giờ 40 phút c ng ngày, A nhắn tin qua Zalo rủ Ph quay trở lại Villa để c ng sử dụng ma túy thì Ph đồng ý. Khi Ph lên phòng thì tự lấy viên thu c lắc còn lại trên giường để sử dụng rồi c ng sử dụng Ketamine với nh ng người khác.
Đến 22 giờ 40 c ng ngày, Cơ quan Công an kiểm tra phát hiện bắt qu tang Ng, T, Th, H, Thg, A, N, Ch và Ph đang sử dụng ma túy, thu gi s ketamine còn lại trên đĩa s , các dụng cụ d ng nghe nhạc, sử dụng ma túy trong phòng và viên thu c lắc còn lại mà Thg đang cất trong túi qu n.
Vật chứng thu giữ: Thu gi tại phòng cu i t ng 2: 01 lượng chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy trên chiếc đĩa s để trên tấm nệm trong phòng, được thu gi bằng cách gom vào 01 túi nylon màu trắng trong kích thước kho ng 4x8cm, một d u có khóa dạng k p nhựa và có 1 đường chỉ màu đ ; 01 đĩa s màu trắng hình tròn, đường kính 25cm; 01 th nhựa màu vàng đen có ch ZONA HOUSE; 01 ng hút được quấn bằng tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng; 02 loa hiệu J L màu đen; 01 đ n laze ký hiệu LY-RG 5A3D1; 02 đ n laze màu đen; 01 đ n xoay v màu đen.
Tại n kết lu n giám định s 750 GĐ-PC09 ngày 28 4 2020 của Phòng k thu t hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng xác định:
- Phong 1: M u tinh thể màu trắng đựng trong một gói nylon niêm phong gửi giám định có kh i lượng 1,1163 gam. Phòng k thu t hình sự, Công an tỉnh Lâm Đồng không đủ phương tiện k thu t để giám định m u trên là chất gì, c n ph i tiếp tục trưng c u Viện KHHS ộ công an tại TP Hồ Chí Minh giám định để xác định có ph i chất ma túy không. Trong quá trình giám định Phòng KTHS đã sử dụng hết 0,1130g. Kết lu n giám định s 2595 GĐ-C09 ngày 05 6 2020 của Phân viện Khoa học k thu t hình sự tại thành ph Hồ Chí Minh xác định: Tinh thể màu trắng đựng trong 01 gói giấy được niêm phong gửi giám định không tìm thấy chất ma túy và tiền chất trong Danh mục các chất ma túy và tiền chất của Nghị định 73 2018 NĐ-CP ngày 15 5 2018 và Nghị định 60 2020 NĐ-CP ngày 29 5 2020 của Chính phủ.
- Phong bì 02: M u một m nh viên nén màu xanh đựng trong một gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, kh i lượng 0,1906 gam, loại MDMA.
MDMA là chất ma túy nằm trong danh mục I, STT: 27, Nghị định 73 2018 NĐ-CP ngày 15/5/2018.
Đ i với Nguyễn Thị A, Hoàng Ph, Tr n Thị M H, Nguyễn Hoàng N, Ph ng Thanh T, Lê Thị Th, Phạm Ngọc Thg. Tại b n án s 94/2022/HSST ngày 01/6/2022 của Tòa án nhân dân thành ph Đà Lạt đã tuyên phạt Nguyễn Thị A 08 năm t , Hoàng Ph 07 năm 06 tháng t , Tr n Thị M H 07 năm t , Nguyễn Hoàng N 07 năm t , Lê Thị Th 07 năm t , Ph ng Thanh T 07 năm t về tội Tổ ch c sử dụng trái phép chất ma túy; Phạm Ngọc Thg 30 tháng tù về tội Tàng tr trái phép chất ma túy.
Tại n cáo trạng s 217/CT-VKS ngày 10/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành ph Đà Lạt đã truy t bị cáo Hà Thị Kim Ng về tội“Tổ chức s d ng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b Kho n 2 Điều 255 ộ lu t Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát gi quyền công t phát biểu quan điểm vụ án, gi nguyên b n cáo trạng truy t bị cáo và đề nghị:
V hình phạt: Áp dụng điểm b Kho n 2 Điều 255, điểm s Kho n 1, Kho n 2 Điều 51 và Điều 38 ộ lu t Hình sự, xử phạt bị cáo từ 09 đến 10 năm tù.
V x lý vật chứng: V t ch ng đã tuyên xử lý tại B n án s 94 2022 HSST ngày 01 6 2022 của Tòa án nhân dân thành ph Đà Lạt nên không đề c p gi i quyết.
Tại phiên tòa, bị cáo không thắc mắc, khiếu nại b n cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo m c án nh nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn c vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nh n định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định t tụng trong điều tra, truy t , xét xử: Về hành vi, quyết định t tụng của cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy t đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của ộ lu t t tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành t tụng, người tiến hành t tụng. Do đó, các hành vi, quyết định t tụng của Cơ quan tiến hành t tụng, người tiến hành t tụng đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Ngày 22 4 2020, bị cáo Hà Thị Kim Ng có hành vi rủ rê và c ng với Nguyễn Thị A tổ ch c cho Hoàng Ph, Tr n Thị M H, Nguyễn Hoàng N, Ph ng Thanh T, Lê Thị Th, Phạm Ngọc Thg sử dụng ma túy, bị cáo là người b tiền ra mua ma túy cho các bị cáo khác sử dụng, ma túy thu gi có kh i lượng 0,1906 gam, loại MDMA. Vì v y, đã có đủ cơ sở kết lu n bị cáo Hà Thị Kim Ng phạm tội “Tổ chức s d ng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b Kho n 2 Điều 255 ộ lu t Hình sự theo như b n cáo trạng của Viện kiểm sát là có căn c , đúng người, đúng tội, đúng pháp lu t.
Về tính chất, m c độ của hành vi phạm tội: Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nh n th c r hành vi tổ ch c sử dụng trái phép chất ma túy là hành vi trái pháp lu t, bị pháp lu t nghiêm cấm và nh n th c r tác hại của ma túy nhưng chỉ vì mu n th a mãn cơn nghiện cho b n thân bị cáo v n tổ ch c sử dụng. Hành vi của bị cáo làm nh hưởng nghiêm trọng đến tr t tự, trị an xã hội, thể hiện sự coi thường pháp lu t và là nguyên nhân phát sinh nhiều tệ nạn xã hội khác nên c n áp dụng m c hình phạt ph hợp, xét bị cáo có vai trò tích cực hơn bị cáo A và các bị cáo khác đã bị xét xử nên c n có m c hình phạt cao hơn, cách ly bị cáo ra kh i cuộc s ng cộng đồng một thời gian nhằm trừng trị, răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng, gi m nh trách nhiệm hình sự:
ị cáo không thuộc trường hợp bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết gi m nh : Bị cáo th t thà khai báo, sau khi bị truy nã đã ra đ u thú nên được áp dụng tình tiết gi m nh trách nhiệm hình sự tại điểm s Kho n 1, Kho n 2 Điều 51 ộ lu t Hình sự.
Về xử lý v t ch ng: V t ch ng đã tuyên xử lý tại B n án s 94/2022/HSST ngày 01/6/2022 của Tòa án nhân dân thành ph Đà Lạt nên không đề c p gi i quyết.
Về án phí: bị cáo Hà Thị Kim Ng ph i chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên b bị cáo Hà Thị Kim Ng phạm tội“Tổ chức s d ng trái phép chất ma túy”.
2. Áp dụng điểm b Kho n 2 Điều 255, điểm s Kho n 1, Kho n 2 Điều 51, Điều 38 ộ lu t Hình sự:
Xử phạt bị cáo Hà Thị Kim Ng 09 (chín) năm t . Thời hạn t tính từ ngày bắt giam để thi hành án.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 ộ lu t t tụng Hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326 2016 U TVQH14 ngày 30 12 2016 của Ủy ban thường vụ Qu c Hội quy định về m c thu, miễn, gi m, thu, nộp, qu n lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Hà Thị Kim Ng ph i nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo yêu c u Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Tòa án tỉnh Lâm Đồng; - VKSND thành ph Đà Lạt; - Công an thành ph Đà Lạt; - THA thành ph Đà Lạt; - ị cáo; - Nh ng người tham gia t tụng; - ộ ph n THA phạt t ; - Lưu | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Hà Vân Hồng |