- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Quang H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm a khoản 2 Điều 357 Bộ
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 225/2020/HS-PT Ngày: 15-5-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Công Huân
Các Thẩm phán: 1. Bà Nguyễn Thị Hà
2. Ông Vũ Hoài Nam
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mộng Nhung – Thư ký Tòa án nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thanh Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hình sự phúc thẩm thụ lý số:
149/2020/TLPT-HS ngày 01 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo Bùi Quang H, do
có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, đối với Bản
án hình sự sơ thẩm số: 17/2020/HS-ST ngày 26/02/2020 của Tòa án nhân dân
Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị cáo bị kháng nghị:
Bùi Quang H; sinh ngày: 29/4/1984, tại Đồng Nai; Thường trú: 409 khu
phố 4, phường Thống Nhất, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp:
Thợ tiện; Trình độ học vấn: 12/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo:
Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Bùi Văn D (chết) và bà Lê Thị T
(chết); Có vợ Nguyễn Thị Tú T và 01 con, sinh năm: 2004: Chưa có; Tiền sự:
Không;
Tiền án: Ngày 04/12/2007 bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh
Đồng Nai xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo bản án
số 719/2007/HSST, bị cáo có kháng cáo. Tại bản án số 70/2008/HSPT ngày
07/3/2008 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tuyên y án sơ thẩm đối với bị cáo;
Nhân thân: Ngày 08/7/2015 bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh
Đồng Nai xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”,
theo bản án số 365/2015/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/11/2016;
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày: 05/10/2019 – Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu sử dụng chất ma túy nên khoảng 19 giờ ngày 05/10/2019,
Bùi Quang H thuê ông Trần Đình H chạy xe ôm, chở Bùi Quang H từ ngã ba Vũng Tàu, tỉnh Đồng Nai đến đường Bùi Viện, phường Phạm Ngũ Lão, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh và quay trở về với giá 200.000 đồng. Khi ông Trần Đình H chở Bùi Quang H đến đường Bùi Viện, do đường cấm xe lưu thông vào phố đi bộ Bùi Viện, nên ông Hoan dừng xe đứng chờ tại tại Giao lộ Bùi Viện – Đề Thám, phường Phạm Ngũ Lão, còn Bùi Quang H đi bộ vào đường Bùi Viện tìm người để mua ma túy. Khi đến trước nhà số 84/56 Bùi Viện, Bùi Quang H được một người phụ nữ (không rõ lai lịch) bán cho 01 gói nylon bên trong có 04 gói heroin và 01 gói ma túy tổng hợp với giá 1.200.000 đồng. Mua xong Bùi Quang H cất số ma túy trên vào trong túi áo khoác bên trái đang mặc rồi đi bộ quay trở ra chỗ ông Hoan đang đứng chờ, Bùi Quang H khi vừa đi đến trước nhà số 31 Bùi Viện thì bị Công an phường Phạm Ngũ Lão đi tuần tra phát hiện, đưa về trụ sở Công an phường Phạm Ngũ Lão. Qua kiểm tra Bùi Quang H tự móc trong túi áo khoác bên trái đang mặc ra giao nộp số ma túy nêu trên, Bùi Quang H khai mua về để sử dụng.
Theo bản kết luận giám định số 1883/KLGĐ-H ngày 09/10/2019 của
Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:
- Bột màu trắng trong 04 gói nylon, qua giám định là ma túy ở thể rắn, có
khối lượng 1,1475g, loại heroin;
- Tinh thể không màu trong 01 gói nylon, qua giám định là ma túy ở thể
rắn, có khối lượng 0,1336g, loại Methamphetamine.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 17/2020/HSST ngày 26/02/2020 của Tòa
án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Bùi Quang H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Căn cứ điểm i khoản 1 khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều
38, Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Bùi Quang H 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp
hành hình phạt tù tính từ ngày 05/10/2019.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng,
án phí và quyền kháng cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Bùi Quang H không kháng cáo. Ngày 26
tháng 3 năm 2020 Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyết định kháng nghị phúc thẩm số 12/QĐ-VKS-P7, Kháng nghị một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 17/2020/HSST ngày 26/02/2020 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh. Đề nghị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 17/2020/HSST ngày 26/02/2020, theo
hướng áp dụng thêm tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều
52 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Bùi Quang H.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu,
nêu quan điểm về việc xét xử vụ án: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong
hồ sơ vụ án cũng như lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm, xét thấy:
Ngày 25/4/2013 bị cáo Bùi Quang H chấp hành xong hình phạt 07 năm tù
của bản án hình sự phúc thẩm số 70/2008/HSPT ngày 07/3/2008 của Tòa án
nhân dân tỉnh Đồng Nai. Ngày 14/8/2014 bị cáo phạm tội mới. Tại bản án số
365/2015/HSST ngày 08/7/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xác
định bị cáo có 01 tiền án và tuyên phạt bị cáo 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng
trữ trái phép chất ma túy”, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày
15/11/2016.
Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 73 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa
đổi bổ sung năm 2017) về cách tính thời hạn xóa án tích, thì tính đến lần phạm
tội trong vụ án này ngày 05/10/2019, bản án số 70/2008/HSPT ngày
07/3/2008 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai chưa được xóa án tích, vì vậy
hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm, bản án sơ thẩm số
17/2019/HSST ngày 26/02/2019 của Tòa án nhân dân Quận 1 không áp dụng
tình tiết tăng nặng theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự là chưa đúng.
Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc
thẩm số 12/QĐ-VKS-P7 ngày 26/3/2020 của Viện kiểm sát nhân dân Thành
phố Hồ Chí Minh, sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 17/2020/HSST
ngày 26/02/2020, theo hướng áp dụng thêm tình tiết tăng nặng quy định tại
điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Bùi Quang H. Các Quyết
định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, nên
không đề cập.
- Bị cáo Bùi Quang H đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung
bản án sơ thẩm đã xét xử và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình
phạt. Bị cáo không tranh luận với Đại diện Viện kiểm sát, chỉ xin Hội đồng xét
giữ nguyên mức hình phạt như Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Bùi Quang H đã khai nhận toàn bộ
hành vi phạm tội, đúng như nội dung bản án sơ thẩm đã xét xử. Lời khai của bị
cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng và phù hợp với các tài liệu,
chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Qua đó đã có đủ cơ sở xác
định: Khoảng 19 giờ ngày 05/10/2019, Bùi Quang H đến đường Bùi Viện, Quận
1, mua ma túy về để sử dụng. Tại đây Bùi Quang H đã mua của một người phụ
nữ (không rõ lai lịch) 01 gói nylon bên trong có 04 gói heroin có khối lượng 1,1475g và 01 gói Methamphetamine, có khối lượng 0,1336g. Mua xong Bùi Quang H cất số ma túy trên vào trong túi áo khoác bên trái đang mặc, sau đó bị Công an phường Phạm Ngũ Lão phát hiện bắt giữ.
Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Bùi Quang H về tội “Tàng trữ trái
phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) là có cơ sở.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo không kháng cáo bản án sơ thẩm.
Ngày 26 tháng 3 năm 2020 Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyết định kháng nghị phúc thẩm số 12/QĐ-VKS-P7, Kháng nghị một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 17/2020/HSST ngày 26/02/2020 của Tòa án nhân dân Quận 1. Xét Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong hạn luật định nên được xem xét giải quyết, xét xử theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét nội dung Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy: Trước khi thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án này, bị cáo Bùi Quang H đã có 02 tiền án, trong đó:
Bản án hình sự phúc thẩm số 70/2008/HSPT ngày 07/3/2008 của Tòa án
nhân dân tỉnh Đồng Nai, xử phạt bị cáo 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo chấp hành xong ngày 25/4/2013.
Bản án số 365/2015/HSST ngày 08/7/2015 của Tòa án nhân dân thành
phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt bị cáo 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo chấp hành xong ngày 15/11/2016.
Theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 70 Bộ luật hình sự năm 2015
về đương nhiên xóa án tích thì Bản án số 365/2015/HSST ngày 08/7/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đối với bị cáo được xóa án tích vào ngày 15/11/2018.
Đối với bản án hình sự phúc thẩm số 70/2008/HSPT ngày 07/3/2008 của
Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, do khi thực hiện hành vi phạm tội bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử, bị cáo chưa được xóa án tích, nên trong trường hợp này thời hạn xóa án tích của bản án hình sự phúc thẩm số 70/2008/HSPT ngày 07/3/2008 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai được tính lại kể từ ngày 15/11/2016, là ngày bị cáo chấp hành xong hình phạt của bản án mới (Bản án số 365/2015/HSST ngày 08/7/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa), nên ngày 15/11/2019 bị cáo mới được xóa án tích.
Ngày 05/10/2019 bị cáo lại thực hiện hành vi phạm tội, nBùi Quang H
Bản án sơ thẩm số 17/2019/HSST ngày 26/02/2019 của Tòa án nhân dân Quận 1 xác định bị cáo không có tiền án và không áp dụng tình tiết tăng nặng tái phạm, theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự là chưa đúng.
Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 12/QĐ-VKS-P7 ngày 26/3/2020
của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, đối với Bản án hình sự
sơ thẩm số 17/2020/HSST ngày 26/02/2020 là có căn cứ, phù hợp với quy định
của pháp luật nên chấp nhận. Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số
17/2020/HSST ngày 26/02/2020 của Tòa án nhân dân Quận 1, theo hướng áp
dụng thêm tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật
hình sự đối với bị cáo Bùi Quang H. Về mức hình phạt đối với bị cáo Bùi
Quang H, do không có kháng cáo kháng nghị, nên Hội đồng xét xử không xem
xét giải quyết.
[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo,
kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4] Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo luật định.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm a khoản 2 Điều 357 Bộ
luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh. Sửa bản án sơ thẩm, áp dụng thêm điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình
sự đối với bị cáo Bùi Quang H:
- Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản
1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo Bùi Quang H 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng
trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 05/10/2019.
[2] Bị cáo Bùi Quang H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tối cao; - TAND cấp cao tại TP.HCM; (1) - VKSND TP.HCM; (3) - VKSND Quận 1 ; (1) - P.PC53-CA TP.HCM; (1) - Bị cáo; (1) - Trại giam; (1) - Thi hành án Quận 1; (2) - TAND quận Quận 1; (1) - Công an quận Quận 1; (1) - UBND nơi BC cư trú; (2) - Sở Tư pháp; (1) - Lưu, Tòa Hình sự, hồ sơ (23) (7) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM (1) THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Công Huân |