- Tranh chấp gì? án hình sự — "TCTS - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lý Trọng Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”
- Căn cứ chính? luật Tố tụng Hình sự và Nghị; Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HÀ NỘI ---------------- Bản án số: 225/2017/HSST Ngày: 30/8/2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, TP.HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lưu Đình Hùng
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phạm Thị Thành
Bà Nguyễn Thị Minh Hồng
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thu Hà – Thư ký Toà án nhân dân quận Long Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Hảo - Kiểm sát viên.
Ngày 30/8/2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân quËn Long Biªn – TP. Hµ Néi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 225/2017/HSST ngày 21/8/2017 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 245/2017/QĐ – HSST ngày 24/8/2017 đối với bị cáo:
LÝ TRỌNG Đ - sinh năm: 1997; HKTT và chỗ ở: Khu C – X – Hạ Hòa – Phú Thọ; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; trình độ văn hóa: 5/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Lý Trọng T (C), con bà: Đoàn Thị U; TATS: Theo danh chỉ bản số 400 ngày 06/8/2017 của Công an quận Long Biên lập và lý lịch địa phương cung cấp bị cáo có 01 tiền sự: Ngày 31/7/2012 đi trường giáo dưỡng số 2 đến năm 2014 về địa phương.
Bị bắt ngày 05/8/2017. Thay thế biện pháp ngăn chặn ngày 07/8/2017. Bị cáo hiện đang được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).
Người bị hại:
Anh Lưu Văn T – Sinh năm: 1971. .
HKTT: Tổ V phường N – Long Biên – Hà Nội. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 22h ngày 04/8/2017 Lý Trọng Đ đi lang thang vào phường Ngọc Thụy – quận Long Biên nhằm mục đích trộm cắp tài sản. Trên đường đi Đ nhặt được 01 chiếc lưỡi cưa bằng kim loại dài 30cm và cầm theo mục đích để cắt khóa trộm cắp tài sản. Khi đến ngã 4 gần trường tiểu học Ngọc Thụy, Đ phát hiện nhà ong Lưu Văn T ở số 1/268/56 – tổ 16 phường Ngọc Thụy – Long Biên – Hà Nội, cửa cổng hé mở không khóa. Đ phát hiện bên trong có 01 xe máy điện không có người trông giữ nên Đ nẩy ý định trộm cắp và mở cổng đi vào chỗ dựng xe máy điện, gạt chân chống xe rồi dắt lùi xe máy điện ra ngoài tẩu thoát, khi Đ vừa dắt xe được khoảng 2 mét thì bị ông Toản chủ nhà phát hiện hô hoán, Đ vứt lại xe rồi bỏ chạy về phía chợ Ngọc Thụy được khoảng 500 mét thì bị ông Toàn và một số người dân đuổi bắt giữ đưa Đ cùng vật chứng về trụ sở công an giải quyết.
Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Long Biên kết luận: 01 Chiếc xe máy điện nhãn hiệu Takuda màu trắng, xe đã qua sử dụng trị giá 4.000.000 đồng.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình theo đúng như nội dung quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn của VKS đã truy tố.
Tại quyết định truy tố theo Thủ tục rút gọn số: 231/QĐ - VKS ngày 18/8/2017 của Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên đã truy tố Lý Trọng Đ về tội: “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa thấy rằng: Hành vi của bị cáo Lý Trọng Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự.
Về hình phạt: Áp dụng Khoản 1 Điều 138; điểm g, p Khoản 1 Điều 46; Điều 60 của BLHS; Điều 76 BLTTHS, đề nghị xử phạt bị cáo Lý Trọng Đ mức án từ 08 đến 10 tháng tù, cho hưởng án treo thời gian thử thách là 20 tháng.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về dân sự: Người bị hại ông Lưu Văn T đã nhận lại tài sản. Ngoài ra không có yêu cầu gì khác về dân sự nên không đặt vấn đề giải quyết.
Về xử lý vật chứng:
- Đề nghị cho tịch thu, tiêu hủy 01 lưỡi cưa bằng kim loại dài khoảng 30cm
rộng 2cm.
- Đề nghị trả lại bị cáo Đ 01 ví da màu nâu; 01 Chứng minh thư nhân dân
mang tên Lý Trọng Đ ; 01 Điện thoại di động nhãn hiệu OPPO 1201 màu
trắng; 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen bạc đã qua sử dụng
nhưng cho tạm giữ lại 02 điện thoại để đảm bảo cho việc thi hành án.
Nói lời sau cùng, Bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật, Mong HĐXX cho bị cáo được giảm hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
- Về hành vi , quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận Long Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai báo và xuất trình các tài liệu chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Lời khai nhận của bị cáo Lý Trọng Đ tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai người bị hại, lời khai người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tạm giữ đồ vật, bản kết luận định giá tài sản cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án và nội dung Quyết định truy tố theo Thủ tục rút gọn của Viện kiểm sát HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 22h30’ ngày 04/8/2017 tại nhà ông Lưu Văn T số 1/268/56 tổ 16 phường Ngọc Thụy – Long Biên – Hà Nội, bị cáo Lý Trọng Đ đã có hành vi lén lút vào nhà ông Lưu Văn Toản trộm cắp tài sản 01 xe máy điện nhãn hiệu Takuda màu trắng trị giá 4.000.000 đồng thì bị phát hiện bắt giữ.
Hành vi của bị cáo Lý Trọng Đ có đầy đủ dấu hiệu cấu thành tội: Trộm cắp tài sản. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên đã đưa ra các chứng cứ buộc tội và truy tố bị cáo về tội: “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã cố ý xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được Bộ luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm khắc đối với bị cáo.
Nhân thân bị cáo có 01 tiền sự ngày 31/7/2012 đi trường Giáo dưỡng số 2, thời gian 24 tháng đến năm 2014 về địa phương, theo luật định tiền sự trên của bị cáo đã được xóa. Xét về hành vi, tính chất mức độ nguy hiểm của tội phạm lẽ ra cần áp dụng một hình phạt tù cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới thỏa đáng. Song khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng xem xét tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn nhận tội và ăn năn hối cải, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, tài sản trộm cắp giá trị không lớn đã được thu hồi ngay trả cho người bị hại đây là các tình tiết giảm nhẹ theo điểm g, p Khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự nên mở lượng khoan hồng cho bị cáo được hưởng án treo theo Điều 60 bộ luật Hình sự là có căn cứ và cũng đủ điều kiện cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm.
Hình phạt bổ sung: Như phạt tiền, xét bị cáo không tài sản và thu nhập nên không áp dụng.
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng mức hình phạt tù, cho hưởng án treo và đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là có căn cứ và phù hợp với nhận định của HĐXX.
Về dân sự:
Người bị hại ông Lưu Văn T đã nhận lại chiếc xe máy điện nhãn hiệu Takuda màu trắng do Cơ quan điều tra Công an quận Long Biên trả ngày 17/8/2017. Ngoài ra ông Toản không có yêu cầu gì khác về dân sự nên HĐXX không đặt vấn đề giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị về dân sự phù hợp với nhận định của HĐXX.
Về xử lý vật chứng:
- 01 lưỡi cưa bằng kim loại dài khoảng 30cm rộng 2cm thu của bị cáo dùng
vào việc thực hiện tội phạm cho tịch thu, tiêu hủy.
- 01 ví da màu nâu; 01 Chứng minh thư nhân dân mang tên Lý Trọng Đ ; 01
Điện thoại di động nhãn hiệu OPPO 1201 màu trắng; 01 Điện thoại di động
nhãn hiệu Nokia màu đen bạc đã qua sử dụng công an thu giữ của Đ
không liên quan đến tội phạm cho thi hành trả lại toàn bộ cho bị cáo, nhưng
cho tạm giữ lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO 1201 và 01 điện
thoại di động nhãn hiệu Nokia để đảm bảo cho việc thi hành án.
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử lý vật chứng phù hợp với nhận định của HĐXX.
Bị cáo phải chịu án phí HSST theo Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Lý Trọng Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Áp dụng khoản 1 điều 138, điểm g, p khoản 1 Điều 46; Điều 60 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lý Trọng Đ 08 (Tám) tháng tù, cho hưởng án treo thời gian thử thách là 16 (Mười sáu) tháng tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Đ cho UBND xã X – huyện Hạ Hòa – Phú Thọ để giám sát và quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
2.Về vật chứng: Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự; Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu, tiêu hủy 01 lưỡi cưa bằng kim loại dài khoảng 30cm rộng 2cm.
- Trả lại bị cáo Đ 01 ví da màu nâu; 01 Chứng minh thư nhân dân mang tên
Lý Trọng Đ ; 01 Điện thoại di động nhãn hiệu OPPO 1201 màu trắng; 01
Điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen bạc đã qua sử dụng nhưng
cho tạm giữ lại 01 Điện thoại di động nhãn hiệu OPPO và 01 Điện thoại di
động nhãn hiệu Nokia để đảm bảo cho việc thi hành án.
(Toàn bộ số vật chứng trên hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Long Biên theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 20/8/2017 ).
3. Án phí : Áp dụng Điều 99 bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngµy 30/12/2016 vÒ ¸n phÝ, lÖ phÝ Toµ ¸n.
Bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo:Áp dụng Điều 231, Điều 234 bộ luật Tố tụng Hình sự
Án xử công khai sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được giao, nhận bản án hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND TP HN; - Công an Q.LB; - Viện kiểm sát ND Q.LB; - Thi hành án dân sự Q.LB; - Thi hành án hình sự; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu VP; - Bị cáo. - Những người tham gia tố tụng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Lưu Đình Hùng |