- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thanh L - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 198/2022/HS-ST ngày 28 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương về hình phạt.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 190 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 223/2022/HS-PT Ngày 19-9-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Huy Toàn.
Các Thẩm phán: Ông Lê Sỹ Trứ.
Ông Lê Quân Vương.
- Thư ký phiên tòa: Ông Mai Xuân Tùng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Thùy - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2022 tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 206/2022/TLPT-HS ngày 17 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo Lê Thanh L. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 198/2022/HS-ST ngày 28 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương.
- Bị cáo có kháng cáo:
Lê Thanh L sinh năm 1997 tại tỉnh Bình Dương; nơi đăng ký thường trú: số 49, tổ 3, ấp 2, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương; giới tính: Nam; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa (học vấn): lớp 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Lê Viết N sinh năm 1967 (chết) và bà Dương Thị Đ sinh năm 1976; có vợ và có 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại có mặt.
Ngoài ra, còn có 01 người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án, do không có kháng cáo, không bị kháng nghị và không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng ngày 08 tháng 01 năm 2022, Lê Thanh L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Vario màu nâu đen, biển số: 61K1-233.08, từ nhà đến khu vực ngã tư Sở Sao gặp một người đàn ông (không rõ tên, nhân thân lai lịch), mua 05 bệ pháo với giá 1.100.000 đồng/01 bệ pháo, tổng số tiền là 5.500.000 đồng. Mục đích mua để bán lại để hưởng tiền chênh lệch, sau khi mua xong L mang về nhà cất giấu và dùng điện thoại hiệu Oppo màu xanh đăng lên trang mạng xã hội: “có bán pháo hoa” và để số điện thoại 0378.533.987 của mình để liên lạc mua. Đến ngày 14 tháng 01 năm 2022 có số điện thoại lạ gọi vào số máy của L hỏi mua 05 bệ pháo, thỏa thuận giá bán là 1.600.000 đồng/01 bệ pháo, tổng số tiền là 8.000.000 đồng và hẹn địa điểm giao dịch tại khu công nghiệp T, thành phố D. Khoảng 14 giờ ngày 15 tháng 01 năm 2022, Lê Thanh L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Vario màu nâu đen, biển số: 61K1-233.08, chở theo 05 bệ pháo đến điểm hẹn. Khi L đang đứng trước cổng Công ty Thiên Nam, KCN Dệt may Bình An, Đồn KCN T, thành phố D, tỉnh Bình Dương, bị lực lượng Công an Đồn khu công nghiệp T, phối hợp với Đội Cảnh sát Kinh tế - Ma túy Công an thành phố D, đi tuần tra địa bàn phát hiện. Lực lượng Công an tiến hành lập biên bản thu giữ vật chứng.
Căn cứ tại bản kết luận giám định số: 746/C09B, ngày 19 tháng 01 năm 2022, Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, mẫu vật gửi giám định gồm: 05 khối hình hộp thang có kích thước đáy lớn 26cm x 18cm, đáy bé 18cm x 18cm, cao 10cm, bên ngoài có bọc giấy nhiều màu sắc, bên trong mỗi khối có chứa 49 ống giấy hình trụ tròn dài 10cm, đường kính 2,3cm. Mẫu vật được niêm phong đúng quy định.
Kết luận giám định trên như sau: tất cả mẫu vật gửi đến giám định đều là pháo nổ (pháo hoa nổ). Khi đốt bay lên cao, nổ và phát ra ánh sáng màu. Tổng khối lượng là 10,4 kg.
Đối với người đàn ông bán pháo hoa nổ cho Lê Thanh L tại khu vực ngã tư Sở Sao hiện chưa rõ nhân thân lai lịch, tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 198/2022/HS-ST ngày 28 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương đã quyết định:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017,
Xử phạt bị cáo Lê Thanh L 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án;
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về biện pháp tư pháp, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 30 tháng 6 năm 2022, bị cáo Lê Thanh L có đơn kháng cáo xin hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa phúc thẩm phát biểu ý kiến đơn kháng cáo của bị cáo được thực hiện trong hạn luật định. Hành vi mua bán hàng cấm của bị cáo Tòa án cấp sơ thẩm xét xử là đúng người đúng tội và đúng pháp luật. Sau khi Tòa án xét xử sơ thẩm, bị cáo có đơn kháng cáo, tại cấp phúc thẩm bị cáo cung cấp thêm được tình tiết giảm nhẹ mới, cha của bị cáo tham gia chiến trường biên giới, mức hình phạt mà cấp sơ thẩm đã quyết định đối với bị cáo là đã xem xét, đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo và không nặng. Xét thấy, bị cáo nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, đủ điều kiện để được hưởng án treo theo Điều 65 của Bộ luật Hình sự nên có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo.
Bị cáo nói lời sau cùng, mong Hội đồng xét xử tạo cơ hội cho bị cáo được chăm sóc mẹ già và tự cải tạo nên đề nghị xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án và đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Đơn kháng cáo của bị cáo thực hiện trong thời hạn luật định nên đủ điều kiện để Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết theo quy định của pháp luật.
Quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương, hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử sơ thẩm thực hiện việc điều tra, truy tố và xét xử sơ thẩm đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo thống nhất và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nên Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: khoảng 15 giờ, ngày 15 tháng 01 năm 2022, tại cổng Công ty Thiên Nam, cụm công nghiệp Dệt may Bình An, khu công nghiệp T, thành phố D, tỉnh Bình Dương, Lê Thanh L đã có hành vi buôn bán hàng cấm là pháo nổ, thì lực lượng Công an phát hiện bắt giữ 05 bệ pháo nổ có trọng lượng 10,4 kg (mười phẩy bốn kílôgam). Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Buôn bán hàng cấm” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi buôn bán hàng cấm của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý và kinh doanh một số mặt hàng cấm, bị cáo biết rõ hành vi của mình là trái pháp luật và sẽ bị trừng trị nhưng vì lợi nhuận nên vẫn cố ý thực hiện, thể hiện ý thức xem thường pháp luật và bất chấp hậu quả.
Xét kháng kháng cáo của bị cáo: tại cấp phúc thẩm bị cáo cung cấp thêm được tình tiết giảm nhẹ mới bị cáo là con gia đình có công, có cha tham gia chiến trường biên giới nhưng bị cáo không kháng cáo xin giảm nhẹ. Về kháng cáo xin hưởng án treo, xét thấy, bị cáo nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, đủ điều kiện để được hưởng án treo theo Điều 65 của Bộ luật Hình sự, tuy bị cáo có đủ điều kiện để hưởng án treo, nhưng hành vi mua bán pháo nỗ mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, gây bức xúc trong nhân dân, ảnh hưởng đến chính sách cấm sử dụng pháo nỗ trong nhân dân mà Đảng và Nhà nước ta đang thực hiện, hành vi của bị cáo cần phải được nghiêm trị, cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn là phù hợp, việc không cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội sẽ gây nguy hiểm cho xã hội và ảnh hưởng đến công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm tại địa phương nên cấp phúc thẩm không cho bị cáo hưởng án treo. Do đó, không chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo.
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh đề nghị chấp nhận kháng cáo của bị cáo xin hưởng án treo là chưa phù hợp.
Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Về án phí hình sự phúc thẩm: do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 198/2022/HS-ST ngày 28 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương về hình phạt.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017,
Xử phạt bị cáo Lê Thanh L 01 (một) năm tù về tội “Buôn bán hàng cấm”, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.
2. Án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo phải nộp 200.000 đồng.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.